Tranh & Ảnh nghệ thuật
Giá sách Cửa Việt
Liên kết Website
Thống kê
Bài đăng : 9789
Người online: 5
Truy cập trong ngày: 72
Lượt truy cập
Giới thiệu Tạp chí số mới
Số 272 (5 - 2017)
Email chuyên mục
Email chung tapchicuaviet@gmail.com

Sự kiện bình luận - Thơ ythitccv@gmail.com
Bút ký
camnhung1308@gmail.com
Truyện ngắn
hkzanh@gmail.com
Văn hóa thời đại thuyliencuaviet@gmail.com
Người & Đất quê hương letrongthi79@gmail.com
Tranh - Ảnh Mỹ thuật htt383@gmail.com



Bên cầu soi bóng linh xưa
 Lê Vũ Trường Giang

Bó mình ngồi giữa đất trời khép vòng tiết xuân, hình ảnh cụ già Bích La ngồi uống trà bên cây hoàng mai bao giờ cũng xuất hiện trong trí tưởng. Cùng với đó, hình ảnh cô bạn gái Nguyệt Ánh thức cả đêm trong cơn mưa lạnh dầm dề để chờ hội chợ Đình cứ ám ảnh tôi mãi. Trong cơn mưa tháng Chạp, tôi nghe tiếng chim da diết lưng trời, gọi những chuyến đi về Quảng Trị. Sông Thạch Hãn vàng con nước đổi dòng đìu hiu cũ. Bụi cuốn rừng tràm xanh thắm Hải Lăng. Bãi cát vàng mời gọi Cửa Tùng, Cửa Việt. Và mưa cứ sa vô hồi trên dải đất cong gió, bạc màu. Khi con chim biếc cúi bên hồ, tôi cúi mình lục lại bao dòng ký ức của nửa chừng Tết xa.

Những năm thời đại học, cứ độ cuối năm, gió đông về mang giá rét từng đêm, tôi lại theo Cường về nhà ở làng Anh Tuấn (Triệu Tài, Triệu Phong) chơi. Đó là một làng quê yên bình, nằm lọt thỏm giữa đồng lúa và chỉ có một đường vào băng băng qua một con đường đất đắp nổi trên đồng. Trước làng, một hàng dừa nghiêng soi bóng xuống con hói nhỏ, tre già bao bọc khắp làng. Anh Tuấn đón chúng tôi bằng cơn mưa dầm dề, ngút ngát đồng không. Buổi chiều, ngồi bên hiên ngóng mưa, đợi Cường lùa vịt đồng xa, tôi ước được chia cùng ai đó chút lạnh Triệu Phong. Cánh đồng quanh làng Anh Tuấn ngập nước mênh mông, lơ thơ ngọn cỏ vươn lên bên những cồn mồ hiu quạnh. Cường quấn tạm chiếc áo mưa cũ nát, ở giữa hông buộc một dây chuối, đầu đội nón lá, tay cầm sào dài, một đầu buộc nilon cứ thế nha nhẩn từ bờ này sang ruộng nọ lùa hàng trăm chú vịt cỏ về chuồng. Tôi chỉ chực đứng bên hiên, thấy vịt về là đứng một bên cửa chuồng để những cuộn mây xốp cạp cạp ấy đàn đàn lạch bạch vào yên vị. Nhìn ra sân trước, cây hoàng mai già, thân xám bạc địa y đã lú nhú nụ vàng. Tết sắp đến rồi, nỗi lang thang vẫn trổ cánh bay mênh mông mùa hoang.

Nhớ đêm tàn đông, tôi nằm nghe mưa tí tách trên mái ngói cũ trong nhà Cường. Những hạt mưa bắt đầu thì thầm tên ai đó, như em, như một mối tình trong tôi gầy từ gió thùy dương. Tôi nghe tiếng cựa mình của bao lộc xanh ngoài vườn đương bung nở sức xuân đang đến gần. Trong giấc ngủ gió đông run rẩy chừng như sắp rời xa đồng quê để nhường lại chốn này cho mùa xuân ấm. Đêm dài như hun hút, giấc ngủ chòng chành, thoáng bờ vai gầy lạnh buốt e ấp bên những đài hoa lập xuân. Tôi tự thấy mình giống một loài cây mùa đông, khô cằn, buồn thảm, đìu hiu trong đống tư tưởng bó nhỏ của mình. Qua khe cửa, tiếng vạc buồn đêm lặng. Giữa đông miên, tôi muốn hỏi trời trong ở đâu bây giờ, và nắng mới sao không chịu về hong tóc mềm bên hiên vắng. Thời bấy giờ, tôi đang sống giữa thơ, giữa những con chữ bay đầy thinh không, nảy mầm khắp đất đai, rừng núi… Đừng rời chữ, có lẽ, sự sống trong nghĩa mực nào đấy không rời xa dung ảnh và cuồng lực của thơ, như điên, như say, như mưa sa lụa là, như nắng dọi xiên tâm. Mưa thì thầm suốt đêm, tôi mông lung suốt năm canh. Một chiếc cầu bắc ngang trí tưởng, cậu học trò nhỏ thung thênh đạp xe qua cầu, qua mùa đông cũ nát. Nhớ Kafka với lữ quán Bên Cầu như một vết khắc trong “Lâu đài” của những gì phi lí tồn tại nhưng hẳn là sự hợp lí vô cùng. Những giấc mơ diễm ảo ngập tràn hoa mai.

Bao lần ra nhà là bấy nhiêu lần chúng tôi lang thang lên thị xã Quảng Trị, bồi hồi bên tháp chuông mới xây cạnh Thành Cổ khói lửa ngày nào, rồi tha thẩn cà phê bên bờ Thạch Hãn mịt mùng đêm. Bên sông lung linh đèn điện, cà phê cuối đông mấy khúc Bolero não nề. Nhìn ra sông, dòng nước thăm thẳm đổ về Đông. Một con đò xuôi nước, tiếng mái dầm khua vọng tiếng buồn. Tôi nghĩ những người lính đôi mươi năm nào vượt sông, đạn bay vèo vèo, pháo kích ầm ầm, bom rơi trận địa, sông nhòa máu thắm. Nhớ thơ Lê Bá Dương, đò xuôi Thạch Hãn, ơi đò xuôi Thạch Hãn. Tôi nói với Cường về những ý nghĩ lộn xộn năm nao, về chiến cuộc, về tuổi trẻ của chúng tôi, những kẻ đang hưởng tự do, hòa bình sau bao mất mát, bi thương của hàng triệu tuổi trẻ trước thế hệ chúng tôi. Chân đi trên cỏ hoa, nhà cửa, ánh sáng, tiếng cười, hạnh phúc, niềm vui, bên dưới bàn chân ấy của chúng tôi, những người cầm súng nằm xuống, còn đó giấc mơ hòa bình, đất nước thôi chia phôi, đường thôi chia hai lối. Chúng tôi có còn nước mắt trong nước mắt lạy mẹ con đi, có còn noi theo chí hùng ngàn năm vì muốn ôm ấp linh hồn Việt Nam.

Chúng tôi đi bộ dọc đường Quang Trung, chân lạc bước giữa đêm dài xa vắng. Mưa vẫn bay trên đầu, tuổi trẻ chúng tôi có ướt át vậy không. Cuộc chiến qua lâu rồi, nhưng hình ảnh trường Bồ Đề chi chít vết đạn cày, Thành Cổ tan hoang tường đạn, hố bom rải khắp, cốt mồ hoang dưới sông, trên bờ vô danh vô tánh còn đó, ám ảnh tôi. Có những lần ở nhà Cường, những điều này nói ra với ông Thụy, một người hàng xóm sát nhà, người kinh qua cuộc chiến với màu áo phía bên kia. Một đời trai trẻ đã lùi lại, nhường chỗ cho tuổi già ngả nghiêng chén rượu. Không còn gì nữa cả, không còn bên thắng cuộc, không còn bên thất trận, chỉ còn lại những nỗi đau, cắt xẻ lằn ký ức mong manh, vô tội. Những điều này tưởng chừng đã cũ, đau thương nào rồi thời gian cũng khỏa lấp, hóa thành bọt nước bay lên cùng mây, cùng gió. Thôi thì trồng một gốc mai trước sân, nhặt cánh vàng, đón mùa xuân, uống chén trà vu hội đất trời.

Bên dòng Thạch Hãn, tôi còn được nghe về lễ tưởng vọng vị tổ nghề nghề đặc biệt: nghề cào hến. Cào hến là nghề trên sông nước, tùy thuộc phần lớn vào trời đất thiên nhiên, rủi may vô thường nên lễ hội rước hến rất được người làm nghề quan tâm. Nghề này được các làng như Vĩnh Phước, Đại Áng, Trung Chỉ (phường Đông Lương), Lập Thạch, Vân An (phường Đông Lễ) và cả một nhóm làng làm nghề cào hến ở hạ lưu hai con sông Thạch Hãn đều dựa trên cơ sở của việc khai thác nguồn lợi từ môi trường tự nhiên của con sông này. Các cụ bô lão của các làng làm nghề này đều cho biết trước 1945, hàng năm, họ có tổ chức đi rước tổ và giỗ tổ nghề cào hến. Từ mờ sáng, cư dân làng từ Mai Xá, Giang Hến, Lập Thạch... chèo thuyền ngược dòng Thạch Hãn đến làng Phường Hến, trên cầu An Mô, phía trên làng Ái Tử kết thuyền lại giữa dòng sông, khấn vọng vị tổ nghề ở khúc sông này và rước tổ nghề về làng. Mãi đến giờ Ngọ, các bè rước mới về đến bến sông, hòa nhập vào không khí lễ hội nhộn nhịp của làng. Lễ hội đua ghe được tổ chức rầm rộ trong mỗi xóm, phe của làng, ba năm thì tổ chức đua trong vùng. Cho đến cuối vụ, dân làng làm lễ cầu an ở bến sông lần nữa vào ngày Rằm tháng bảy Âm lịch, kịp khi mùa mưa lũ đến. Đáng tiếc là việc rước và giỗ tổ nghề cào hến nay chỉ còn ở Mai Xá mà thôi: Dòng là dòng sông thương/ Tay khua mái chèo/ Thạch Hãn, đó đây dòng xanh sông Hiếu/ Ngọn nguồn xa nước đổ về khơi/ Nhân duyên gặp sinh thành con hến/ Người xa khuất về lại miền sông nước/ Để âm dương cùng hòa hợp bên nhau/ Rước con hến về lại mùa sinh nở.

*  *  *

Tuổi trẻ còn đôi chân nghìn dặm, một tâm hồn cần lấp đầy trải nghiệm. Ra Giêng, tôi và Cường bon bon trên chiếc xe máy theo đường quốc lộ ra Bắc. Qua sông Thạch Hãn, chạy thêm vài cây số nữa, chúng tôi đến Ái Tử, một nỗi hoài niệm sâu kín dâng lên. Từ ấu thơ, lời ru của các mẹ các chị tôi thuộc lòng: “Mẹ thương con ra cầu Ái Tử/ Vợ trông chồng lên núi Vọng Phu”, giờ tôi đang đứng bên cầu, nhìn con nước nhỏ chầm chậm chảy trôi. Chẳng biết có thật là cầu Ái Tử ngày xưa không, và có lẽ khác nữa vì hình thù cây cầu bê tông cốt thép vững vàng nhưng vẻ đẹp thiêng liêng của hai từ Ái Tử khiến mọi tri giác phán đoán dừng lại, nhường chỗ cho sự chiêm viễn lịch đại. Chẳng phải năm 1558, Nguyễn Hoàng trên danh nghĩa được vua Lê cử vào trấn thủ vùng Thuận Hóa, đã mở ra một chương mới trong lịch sử vùng đất Đàng Trong một thời phân liệt. Ngày ban sơ, các bô lão ở Ái Tử đã cung tiến bảy vò nước trong dâng lên chúa và đám tùy tùng trong buổi đầu nơi xứ lạ. Đó là tấm lòng người Quảng Trị trước bao biến cuộc nơi biên viễn, mong một nền thái bình thịnh trị, an cư. Chúa Tiên phần vì vị trí chiến lược của vùng đất, phần vì cảm mến đã quyết định lập dinh cơ ở Ái Tử - Dinh Cát. Từ đó, Ái Tử, huyện Vũ Xương trở thành thủ phủ nhà chúa trong thời gian dài 68 năm (1558 - 1626). Cả điển tích thiêng liêng lẫn câu chuyện lịch sử khiến hai từ Ái Tử gieo vào lòng tôi sự đồng vọng thao thiết. Có những điều chính ta chưa từng trải qua, nhưng tấm mệnh “căn cước” của vùng đất tự thân đã khắc tín cho những hoài cảm được khơi nguồn. Tôi chau mặt nhìn dòng nước lửng lơ, bóng cành rong gợn đáy, thuyền lá tre vàng trôi ngẩn ngơ vô định như chính tuổi trẻ tôi trôi vô định phương nào.

*  *  *

Nguyệt Ánh bất chợt gọi điện thoại cho chúng tôi vào nhà chơi. Chúng tôi quay ngược xe chạy về Nhan Biều. Quanh quanh co co đường nhỏ bờ đê, nhà Nguyệt Ánh kia sát ruộng lúa mới sạ, màu xanh non mởn nhuộm thắm cánh đồng. Hoa cúc nở vàng ngôi nhà yên bình dưới bóng nhãn, đào. Từ nhà Nguyệt Ánh nhìn ra trước mặt là đường sắt Bắc Nam ánh lên màu nâu huyền hoặc. Trời hãy còn sớm, sương còn bảng lảng trên cánh đồng. Một chuyến tàu từ Bắc vào, toa máy màu đỏ nổi bật lên phía chân trời. Tiếng còi tàu da diết, xóa tan không khí trầm mặc của ngôi làng trong sương khói.

Nguyệt Ánh bắt đầu kể câu chuyện lễ hội chợ Đình vừa trải qua. Chúng tôi bám theo những câu chuyện của Nguyệt Ánh về đề tài lễ hội chợ Đình làng Bích La mà cô đang theo đuổi. Làng Bích La là một làng quê có bề dày về lịch sử và văn hóa lâu đời. Trong “Ô Châu cận lục”, Dương Văn An biên soạn năm 1553 đã đề cập đến làng Hoa La (nay là Bích La), là một trong 49 làng cổ thuộc huyện Hải Lăng, phủ Triệu Phong. Làng Bích La nay phát triển thành 5 làng, gọi là Ngũ giáp, thuộc địa phận 3 xã: Bích La hậu thuộc xã Triệu Tài, Bích La thượng xã Triệu Long, Bích La trung, nam, bắc thuộc xã Triệu Đông. Hiện Thập Tứ tôn phái (14 họ tộc) của làng cộng cư trên một cương vực rộng lớn thuộc địa bàn các xã là trọng điểm của vựa lúa Triệu Phong. Những ngày theo Cường đi dựng rạp cho anh trai bên làng Bích La tôi đã thấy choáng ngợp sự trù phú của ngôi làng này. Hình ảnh yên bình, phong lãm nhất về ngày Tết quê là hình ảnh cụ già Bích La thong thả nhấp chén trà dưới bóng hoàng mai. Dọi nắng chiều xiên nhẹ qua tán lá xanh, muôn vạn bông mai xòe nở, rực vàng như gấm lụa. Cụ già tóc bạc phơ, ánh mắt phiêu lãng xa xăm. Khói lam bốc lên sau bếp nhà, chiều Bích La ấm lòng tôi.

Bích La giàu truyền thống văn vật, cống hiến nhiều hiền tài từ làng ra phụng sự cho Tổ quốc. Trong thời đại của mình, tôi nhớ Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn và Cố họa sĩ Lê Bá Đảng, những người con mang cái tên chung: Bích La. Tôi hỏi Nguyệt Ánh vì đâu có lễ hội chợ Đình ấy. Cô bắt đầu thao thao kể tích xưa nhặt nhạnh. Trước các công trình đình làng, miếu thờ là hồ nước trong xanh, nơi cung cấp nước uống cho dân làng quanh năm. Tương truyền rằng, nơi đây xưa có một con rùa vàng sinh sống, hàng năm vào sáng mồng Ba Tết Nguyên đán dân làng đến thắp hương, dâng hoa ở đình làng và xem rùa nổi lên. Đó là điềm báo tốt lành cho một năm có mưa thuận gió hòa, dân làng làm ăn phát đạt thịnh vượng. Nhưng có một năm, nước trong hồ trở nên đục và không thấy rùa vàng xuất hiện, dân làng tỏ ra lo ngại sẽ gặp vận chẳng may, qua kiểm nghiệm thì năm đó là một năm có mùa màng thất bát, thiên tai hoành hành và lũ to, bão lớn. Từ đó dân làng mới nghĩ ra cách là hàng năm vào sáng mồng Ba Tết Nguyên đán làng phải mở hội lớn, nên đến khoảng canh tư (từ 3 giờ sáng) dân làng không ai bảo ai, lần lượt kéo nhau tụ tập về quanh hồ đình làng, gióng trống, mở cờ, đèn đuốc, gõ mõ thanh la… cầu rùa vàng dậy, bơi lội trên mặt hồ để ban phát phúc lộc cho dân làng một năm may mắn, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi. Diệu kỳ thay rùa vàng dưới hồ nổi lên và năm đó dân làng lại làm ăn bình yên, mùa màng bội thu. Và cứ thế hàng năm, vào sáng mồng Ba Tết, dân làng Bích La lại hội tụ về đình làng thắp hương khấn lễ đầu năm, trẩy hội xuân. Chính từ sự hội ngộ đầu năm đông đúc và mong ước cầu tài, cầu lộc nên phiên chợ Đình Bích La ra đời: “Hỡi ai xuôi ngược gần xa/ Nhớ về họp chợ mồng 3 đình làng/ Đầu năm trao lộc đổi tài/ Kinh tế thịnh vượng rùa ngài ban cho/ Trầm mình năm rộng tháng dài/ Mồng 3 ngày Tết mời ngài hiện thân”.

Nguyệt Ánh đã thức cả đêm mồng 2, dầm dề trong mưa lạnh bên quán nhỏ để chờ dân làng khai hội. Lễ hội chợ Đình Bích La có các lễ chính như lễ cáo, lễ cúng đầu năm, lễ cầu thần Kim Quy, lễ cúng đưa mồng 3 Tết… và phần hội với hàng chục các trò chơi dân gian và thú vị nhất là phần hội chợ. Thời điểm chợ bắt đầu là từ 2 giờ sáng cho tới khi kết thúc cho tới 9 - 10 giờ. Có một đặc điểm là càng khuya, lúc tờ mờ sáng phiên chợ đã đông người bán lẫn người mua. Theo họ, lúc trời chưa sáng thì việc buôn bán mới thiêng, mới có sự chứng giám của thần, như thế sang năm mới công việc làm ăn mới thuận buồm xuôi gió.

Trong phiên chợ thì con gà đất luôn là mặt hàng bán chạy nhất, bởi nó gắn liền với lễ cầu thần Kim Quy. Theo truyền thuyết, vào khuya đêm mồng Hai, khi gà cất tiếng gáy, rùa thần xuất hiện, dân làng thổi gà đất inh ỏi, khua chiêng, đánh trống, gõ mõ, phèng la, từng đoàn người nối đuôi nhau chạy quanh hồ, nhằm đánh thức rùa thần xuất hiện trên mặt hồ. Đi chợ là để cầu tài cầu lộc, giao lưu gặp gỡ. Thắp nén hương cầu cho sang năm mới mua bán may mắn, phát tài phát lộc. Phiên chợ Đình rất đặc biệt, người bán không thách giá, không đặt vấn đề lợi nhuận lên trên như ở những phiên chợ bình thường. Bán ở hội chợ chỉ là lấy may, cầu tài, cầu lộc đầu năm, mong cho năm mới buôn thuận bán hòa. Còn với người mua họ cũng không trả giá, mua theo giá người bán và tấm lòng. Theo họ mua chỉ là cầu may, cầu vui cho mình mà thôi. Đây là nét đặc trưng nhất trong phiên chợ Đình, và có lẽ chỉ đây mới có thông lệ hay như thế, một lẽ vì là phiên chợ mang yếu tố tâm linh. Cứ như thế năm này sang năm khác đã trở thành lệ làng, nó ăn sâu vào tâm thức và trở thành truyền thống từ bao đời nay. Cứ vào sáng sớm mồng 3 Tết mặc cho thời tiết khô ráo hay mưa to gió lớn dân làng từ lão niên cho đến em nhỏ, từ trai tráng cho đến phụ nữ ai ai cũng tề tựu về đây đông đủ thành một lễ hội chợ như bây giờ. Những điều Nguyệt Ánh kể chúng tôi lắng nghe kĩ, để tự mình giải cho những thắc mắc của chúng tôi trong kỳ lễ hội chợ Đình Bích La mà chúng tôi tham dự phần được phần mất. Tôi nhìn ra sân, một chút núi của bầu trời xa tắp, mây đương phủ là là. Tàu đã sang chuyến khác, kéo chúng tôi về thực tại. Chia tay Nguyệt Ánh, chúng tôi lại lên xe, đường dài còn phía trước, như tuổi trẻ đang vẫy gọi những chặng đường diễm ảo.

*  *  *

Những ngày xưa ấy chỉ trôi chừng mươi năm thôi, khi trí nhớ vẫn còn nguyên tha thiết. Tôi nhìn lên trời đông, một cánh chim nhỏ bay lướt thướt giữa mưa nấc từng cơn. Nghe trong thinh vắng tiếng chuông chùa rung cõi nhớ xưa. Nhìn xác mai tàn, hồn tôi rụng. Xuân kia ơi, ngày tôi đi vầng trán phùn sa ướt, chợt nhớ về thềm cửa cũ màu xanh. Mùa xuân, mùa một tình bạn cũ, một mái ấm xa, những điều bé nhỏ vắt ra từ những nghĩ suy xa vắng, từ lâu tưởng đã chết rục trong tôi. Xuân đến, là đồng lúa xanh non hồi mới sạ khắp làng Anh Tuấn, những cánh chim mùa rợp trời và tha thiết trong những ngõ làng muôn triệu đóa dâm bụt thắp hồng đường quê và những sắc màu cổ trang nơi chợ Đình Bích La một dạo. Thôi đành, mượn câu của người thơ cũ: “Năm mới, cho tôi hôn Em, ở nơi trán...” để chiêu tuyết cho những ký ức bỗng hóa thành ảo ảnh giữa mùa xuân miên thường.

Lập xuân, 2017

L.V.T.G


___________________
(Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 270, tháng 3 năm 2017)





Các bài viết cùng chủ đề

      
      
      
      
      
      
      
      
      
      

Giấy phép số 229/GP-TTĐT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 3 tháng 12 năm 2008
Tòa soạn: 128 Trần Hưng Đạo - Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị • E-mail: tapchicuaviet@gmail.com • Điện thoại: 053.3852458

Copyright © 2008 http://www.tapchicuaviet.com.vn - Thiết kế: Hồ Thanh Thọ • wWw.htt383.com