Tranh & Ảnh nghệ thuật
Giá sách Cửa Việt
Liên kết Website
Thống kê
Bài đăng : 9863
Người online: 47
Truy cập trong ngày: 188
Lượt truy cập
Giới thiệu Tạp chí số mới
Số 274 (7 - 2017)
Email chuyên mục
Email chung tapchicuaviet@gmail.com

Sự kiện bình luận - Thơ ythitccv@gmail.com
Bút ký
camnhung1308@gmail.com
Truyện ngắn
hkzanh@gmail.com
Văn hóa thời đại thuyliencuaviet@gmail.com
Người & Đất quê hương letrongthi79@gmail.com
Tranh - Ảnh Mỹ thuật htt383@gmail.com



Đi qua cánh đồng;Mùa sim đã qua;Những tấm lưng còng
 Diệu Ái

TCCV Online - Mỗi lần đi qua cánh đồng, anh nghe bốn mùa theo đó chậm rãi vắt mình trên biển lúa. Nghe tiếng ru hời từ nhà nào bên xóm: “À ơi, mẹ thương con ra cầu Ái Tử, vợ trông chồng lên núi Vọng Phu”…

Có nhiều người giống như anh, lớn lên trên những cánh đồng, sau rồi bởi tháng năm và xa cách nên đôi lúc quên mất bông lúa trổ đòng ra sao, mạ non thơm ngái thế nào. Cứ như bạn cũ, chỉ khi gặp lại, nhận ra nhau rồi mới bồi hồi xúc động vì bao ký ức vùng trời tuổi thơ.

Anh nhớ những chiều chân đất, ngồi trên triền đê chơi đá gà bằng cọng cỏ, cánh đồng phía trước xa xăm tít tắp cho đến tận chân trời. Nơi lưng chừng núi, đoàn tàu mỗi lần ngang qua lại rít lên từng hồi như bản nhạc rộn rã trộn lẫn vào thanh âm đang rất đỗi yên bình. Cánh đồng được những người chân chất gọi theo cách dễ nhớ là “đồng nhất” và “đồng nhì”. Anh là con nhà nông, vạt ruộng nhà anh được cấp từ mấy đời trước. Cũng như tất thảy các bậc cha mẹ khác, ba mẹ anh luôn mong muốn con cái thoát khỏi nghiệp nhà nông của mình. Từ nhỏ, anh đã quen với việc đồng áng, quen với rơm vàng, thóc vãi, rạ khô, càng lớn càng thấy xót xa với từng hình ảnh ấy.

 Sáng sớm khi chú gà trống vừa cất tiếng gáy, mấy mệ đã lục đục dậy nhen bếp nấu ấm nước chè. Người ta đi ra đồng cứ như đi theo năm tháng đã định sẵn. Này thì hôm nay ra đồng gieo sạ, hôm kia nhổ cỏ, hôm khác phun thuốc rồi thì gặt, sau rồi lại gieo.

 Anh nhớ cả mùi lúa non ngọt ngào như thể thứ nước cơm mà chị cả mỗi khi đợi cơm sôi, thường chắt nước rồi pha đường cho mấy đứa em uống. Ngọt ngào, đằm thắm là thế, nhưng chẳng ai muốn gắn bó tha thiết với nơi mình đã lớn lên, khi ăn bữa trưa vừa xong đã thấp thỏm mà lo bữa tối.

 Anh vào đại học, vẫy tay chào những cánh đồng lúa khắp nẻo đường ngang qua rồi chập chững làm quen với thành phố ồn ã, xô bồ. Hôm đầu tiên lên phố, cứ thao thức mải miết vì những ánh đèn vàng, những ngôi nhà cao tầng che hết cả trời sao. Gió ở phố mang theo nhiều bụi bặm, tạp nham chứ chẳng trong lành thanh mát như ở quê. Thao thức đôi chút rồi thôi, con người ta cần quen, cần thích nghi mới có thể sống.

 Anh ra trường, ngoái đầu về quê phân vân chốn lập nghiệp. Vì đời vốn nhiều lẽ, nên lại cấp tập mà ở lại phố, cũng nhà trọ nơi này nơi kia để gửi tấm thân gầy.

 Anh yêu quê mình lắm chứ, yêu cánh đồng trước mặt nhà, yêu cả những tảo tần mùa vụ. Song, bảo anh bỏ nghề đang làm, bỏ áo quần đẹp đẽ mà lội xuống ruộng, chân lấm tay bùn với nắng mưa thì anh không đủ can đảm và cũng chưa từng có ý định. Thế nên, đôi lúc bần thần, anh tự hỏi, không lẽ hết thời của ba mẹ anh, há dễ còn mấy ai làm nông dân. Thế hệ 8x, 9x như bọn anh, đâu ai thiết tha với ruộng đồng.

Khi còn trẻ, ta chẳng có điều gì để băn khoăn và lo lắng về năm tháng đi qua. Có chăng, ý niệm thời gian cùng lắm được đem ra suy xét mỗi khi gặp lại bạn cũ, người xưa. Đã khi nào anh chợt lo lắng, chợt xao lòng vì cái chuồng bò ở nhà đã thủng mái hay lúa năm nay mất mùa mà mình chưa về kịp.

Để rồi bôn ba nhiều năm, va vấp trái ngang ở đời, bỗng dưng lại muốn quay về, cúi gầm mặt mà nâng bông lúa chờ ngày ra hạt. Bão giông, mưa nắng của trời có lẽ cũng đắng đót, khổ cực như bão tố trở ngại ở đời chừng ấy. Cũng như chiều nay, khi trở lại thành phố được đôi ngày, anh nhớ cảm giác đi qua cánh đồng hôm nọ. Nhớ đêm nằm, nghe ếch kêu văng vẳng mà thấy lòng chộn rộn xôn xao. Chỉ ước giờ đang nằm trên cái chõng tre giữa sân, ngước mặt lên nhìn cả bầu trời và tìm ngôi sao sáng nhất.

Hẳn là cảm giác này chỉ thoáng qua vậy thôi khi dư âm những ngày về quê còn đọng lại. Độ vài hôm, con người bận rộn trong anh lại bắt nhịp với sự năng động cần có nơi phố thị.  Ừ thì, cánh đồng vẫn nằm ở đó, như hôm nào anh đã đi qua.

Mùa sim đã qua

Khi cái nắng đang ở độ oi ả, cơn gió Lào rát bỏng thổi cả hàng cây bên đường cúi rạp xuống, ấy là lúc đồi sim phía sau nhà ngoại đang vào mùa.

Bạn ở thành phố đã từng há hốc mồm khi trông thấy những trái sim tím biếc. Thứ quả mà ở thành phố, bạn chưa nhìn thấy bao giờ.

Quả sim mọng nước, cho vào miệng nghe ngọt lịm, vị ngọt chẳng thể lẫn vào đâu trong vô vàn thứ quả trái cây ta đã nếm. Cả tuổi ấu thơ êm đềm quay về trong nhung nhớ với vị sim tan êm nơi đầu lưỡi.

Sau nhà ngoại là những đồi núi trùng điệp. Ngoại thường dọa chị em chúng tôi trên ấy có ông “beo” vì sợ chúng tôi mải mê theo bạn hái sim sẽ bị lạc. Mặc nỗi sợ hãi, chúng tôi dắt nhau lên đồi, cầm chiếc nón của ngoại để đựng thứ quả ưa thích này.

Cả bọn cứ nhảy từ đám cây này qua đám khác, sim nhiều tưởng như hái miết mà không xuể. Lại còn tranh nhau, thi xem ai hái nhiều hơn. Tôi thường tha thẩn để hái cả những bông hoa sim tím rồi bó từng chùm trông đẹp mắt. Hoa sim tím hồng, từng cánh tỏa đều, không có mùi hương đặc biệt nhưng sắc hoa cứ tươi mãi ngay cả khi rời cây đã lâu.

Cậu em vừa hái vừa ăn, đến khi cười đùa, nhe ra hàm răng lẫn lưỡi tím lịm, cả bọn nhìn thấy lại cười khanh khách vang vọng cả đồi. Đám con trai còn tranh thủ bẫy chim, những chú chim chào mào, chim khướu say mồi, bị tóm gọn trong những chiếc lồng bé xíu.

Mùa sim về ngay khi kỳ nghỉ hè vừa bắt đầu thế nên chúng tôi thoải mái la cà trên sườn đồi suốt buổi mà không lo chuyện bài vở.

Cứ độ chiều về, hoàng hôn thả những tia nắng cuối cùng vắt vẻo trên sườn núi, anh họ dắt bò về chuồng, cái lục lạc đeo tòng teng trước cổ chú bò vang lên từng khúc như bản nhạc nghe vui tai đến lạ. Tôi cắp chiếc nón đầy sim lên nách rồi lẽo đẽo theo đám bạn dung dăng dung dẻ về nhà.

Ngoại lúc nào cũng chực sẵn ở cổng với cây roi trên tay và khuôn mặt lo lắng. Người đằng hắng: “Bây ăn sim no cơm luôn hả, răng chừ mới về”.

Ngoại chỉ cầm roi dọa chứ chưa bao giờ đánh ai. Ngoại hiền nên mấy đứa cháu đều biết, chúng chạy đến ôm lấy chân ngoại rồi thủ thỉ bao điều. Nào là sim mùa này nhiều lắm ngoại ơi, ngọt ơi là ngọt, nào là con gặp cái cây gì có gai là lạ, cây đó tên gì vậy ngoại. Vậy là ngoại quên sạch mới cách đó ít phút đang giận chúng nó.

Ngoại bảo, đồi sim đó mấy đứa trẻ nhà nghèo đi hái từ sáng đến tối để bán mua tập vở. Lúc nào muốn ăn, ngoại mua lại của chúng nó cho, chứ đừng lặn lội vô đó, giành mất phần tụi nó mà tội. Anh tôi cười hiền, ngoại lo xa, chứ cả đồi sim như thế, bọn con hái cả mùa cũng không hết.

Trẻ con bây giờ cũng chẳng biết vị trái sim thế nào. Có quá nhiều thức ăn đồ uống ngon ngọt, vị ngọt lẫn chát của sim chẳng còn ngon lành, hấp dẫn. Ngoại lại bần thần, trái cây bây giờ quả gì cũng hóa chất, cứ nằm giữa thiên nhiên như sim có khi lại tốt. Vậy mà đồi sim tím biếc cả đồi, chẳng còn ai buồn hái, trái rơi rụng dưới gốc đến tội tình.

Ở những nơi khác, sim còn có tác dụng kinh tế như để ngâm rượu, làm mật, làm thuốc chứ ở quê tôi, sim chỉ đơn giản là thứ quả quê mùa của đám trẻ con nhà nghèo.

Có mệ già ngồi bán ở góc chợ, ngỡ rằng sim vẫn còn là thứ quả ngon nhất trần đời với lũ trẻ như ngày nào, song, từ sáng đến trưa chẳng ai hỏi mua. Mệ nhớ ngày xưa, sim bán được đong trong hộp sữa ông thọ đã dùng hết, mỗi đong như thế chỉ vài trăm bạc, mấy đứa ăn đến tím môi, tím lưỡi vẫn thèm.

Tôi nhận ra rằng, mùa sim nay đã qua, qua trong ký ức tiếc nuối vời vợi của người ở lại và cả những người chưa từng hay biết đến nó.                                                                    

Những tấm lưng còng

Hồi nhỏ, anh hay thắc mắc, sao có những người già lưng chẳng còng bao nhiêu mà lưng nội lại còng nhiều thế. Nội cười hiền xoa đầu cháu: “Ờ, chắc họ chưa già bằng nội đó con. Khi bằng tuổi họ, lưng nội cũng thẳng lắm mà!”.

Những đứa trẻ thường kiểm tra sự lớn bổng phổng phao của mình bằng cách đo chiều cao với bố mẹ. Anh lại hay đo chiều cao với nội hơn. Mỗi khi đi học về, nơi đầu tiên anh ghé qua là gian bếp. Nội đứng trong đó, lúi húi chuẩn bị đồ ăn. Với anh, hình ảnh nội đứng nơi chái bếp trong làn khói mờ ảo là một khoảnh khắc màu nhiệm hệt như những câu chuyện cổ tích nội thường kể.

 Anh sà vào mở nắp xoong này đến xoong khác, miệng ỉ ôi, “có gì ăn chưa nội ơi, con đói sắp chết rồi”. Nội đưa tay dí lên trán anh“chết chi mà chết, nội nấu xong rồi, thay áo quần rửa ráy rồi vô ăn”.

 Nội hay mặc chiếc áo có hoa văn hình lá. Loại vải thời đó, cũng chẳng thể xác định là vải gì, chỉ biết cái màu tím nhạt cùng những chiếc lá cứ làm anh liên tưởng đến giậu mồng tơi. Thế nên, anh đặt tên cho chiếc áo của nội là áo mồng tơi. Cái túi áo mồng tơi là nơi anh thích nhất. Cứ ai cho gì, nội cũng cất vào đó để dành cho anh. Khi thì cái kẹo, khi thì cái bánh, có lúc là viên bi lấp lánh.

 Anh hí hửng khi từng ngày trôi qua cứ thấy mình sắp cao lên bằng nội. Dạo anh bắt đầu trổ giò, chẳng mấy chốc anh chính thức cao hơn nội. Lúc này, anh mới hay, trong lúc anh không ngừng cao lên thì nội cũng còng hơn. Cái lưng của nội chẳng thể thẳng như ngày xưa. Dù rằng, mỗi sáng sớm, nội vẫn siêng tập thể dục, sau đó còn ra quét vườn, cuốc đất. Nội chẳng chịu ngồi yên một chỗ. Ngày trẻ, khi tham gia du kích, nội gan lì lắm. Giặc cầm lưỡi lê đi lùng bộ đội khắp làng, vào tới nhà, thấy nội ngô nghê giả điếc cũng đành chịu. Chúng đâu biết, nội che chở cả một tiểu đội trong nhà.

 Nội điển hình cho mẫu phụ nữ truyền thống, tần tảo, hy sinh vì chồng vì con. Nội là vợ thứ ba của ông khi ông lỡ duyên với hai người trước. Nội cũng như tất thảy những người phụ nữ khác lúc bấy giờ, im lặng, nhẫn nại mà sống phận đàn bà thấp bé.

Lưng nội mỗi ngày mỗi sụn xuống, cái gậy trở thành vật bất ly thân. Mỗi đêm khó ngủ, nội nằm nghiêng, lăn qua trở về, thở dài âu lo cho đứa con này, đứa cháu nọ.

Nội thường cười khề khà cười vui mỗi khi anh chịu khó ngồi đấm lưng cho nội. Anh biết, không hẳn là anh mát tay, đấm bóp như thế làm nội đỡ đau nhức, song, nội vui vì anh vẫn còn quấn quýt bên nội.

Nội về trời khi cái tấm lưng còng chẳng còn đủ sức chống chọi với thời gian thêm nữa. Tuổi già như lá rụng về cội, nội nằm lại trên mảnh vườn phía sau nhà.

Ga tàu một ngày mưa lớn, anh bắt gặp một bà lão lưng còng bưng giỏ bánh lọc đi mời khách. Cái lưng còng của bà cụ như một dấu chấm hỏi nằm chơ vơ, lăn lóc giữa đời. Bà cụ đó, hẳn cũng như nội, cả đời cứ phải cúi mặt ngồi ăn mâm dưới, ăn sau, đến khi già cũng chẳng thể ngầng cao đầu ngồi mâm chiếu cao để hưởng thụ.

Anh nhìn sang mẹ, bất giác lại lo. Mẹ nói lưng chừng, chẳng biết khi về già lưng mẹ có còng xuống như nội và bà ấy hay không. Câu hỏi trôi tuột vào hư không khiến anh mông lung nhớ ngày xưa cũ. Đã có những mùa gặt, lưng mẹ cúi xuống để hái những bông lúa chín vàng. Mỗi sáng, khi anh còn ngái ngủ, mẹ khom lưng quét những chiếc lá rụng đầy sân. Mẹ cũng gò lưng bên thành giếng để múc nước giặt đồ… Tấm lưng ấy, đã luôn cúi xuống như thế liệu rồi có còng đi vì năm tháng. Đỡ đần cho chồng cho con, tới cuối đời người phụ nữ vẫn phải cúi xuống để chống gậy, dò dẫm những bước đi còn lại.

 Đàn ông bọn anh đều đắm đuối trước những vai trần và tấm lưng ong. Để rồi đôi khi hờ hững mà quên mất, mình có cơ hội vào đời mà chạy theo thân lưng ong ấy là nhờ những tấm lưng đã còng xuống, là lưng của nội, của mẹ. Chợt nhớ rằng, hẳn ngày xưa, nội và mẹ cũng từng là những tấm lưng ong đẹp đẽ và thướt tha vô ngần. Chỉ là bụi thời gian đâu ơ hờ với ai...

D.A






Các bài viết cùng chủ đề

      
      
      
      
      
      
      
      
      
      

Giấy phép số 229/GP-TTĐT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 3 tháng 12 năm 2008
Tòa soạn: 128 Trần Hưng Đạo - Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị • E-mail: tapchicuaviet@gmail.com • Điện thoại: 053.3852458

Copyright © 2008 http://www.tapchicuaviet.com.vn - Thiết kế: Hồ Thanh Thọ • wWw.htt383.com