Tranh & Ảnh nghệ thuật
Giá sách Cửa Việt
Liên kết Website
Thống kê
Bài đăng : 10097
Người online: 30
Truy cập trong ngày: 157
Lượt truy cập
Giới thiệu Tạp chí số mới
Số 279 (12 - 2017)
Thông tin Tòa soạn
Tổng biên tập

Thùy Liên

Thư ký Tòa soạn

Hoàng Công Danh

Trưởng ban Trị sự

Thanh Thọ

Ban biên tập

Lê Thi

Cẩm Nhung



Thành Cổ Quảng Trị
 Xuân Dũng

TCCV Online - Trong những di tích của nhà Nguyễn còn lại hằn sâu nhất trên đất đai và hồn vía quê nhà thì Thành Cổ Quảng Trị là biểu tượng có sức sống lâu bền, trường cữu như Nguyễn Trãi đã nói: “Mài chẳng khuyết, nhuộm chẳng đen”. Một ngôi Thành Cổ ngỡ như đã ngủ quên trong lớp rêu phong lịch sử, đã thành quá vãng trong lớp bụi thời gian, bỗng một ngày kia sáng ngời một tinh thần bất khuất Việt Nam khiến cả nhân loại dụi mắt nhìn sửng sốt. Hẳn tiền nhân khi xây dựng thành quách mấy ai nghĩ đến một ngày mai hậu có một sự kiện long trời lở đất như mùa hè 1972.

Trong cảm hứng sử thi-anh hùng ca của những tháng năm bi tráng nhất trong lịch sử dân tộc, nhà cách mạng, nhà văn, nhà thơ Trần Bạch Đằng đã thốt lên: “Hễ có Việt Nam, có Cổ Thành/ Nối vòng hoa lửa với Khe Sanh/Huân chương khó đủ từng viên gạch/ Tấc đất, từng giây mỗi lá cành.” Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường sau này đã gọi thị xã Quảng Trị của những tháng ngày ác liệt nhất, bi hùng nhất là “thành phố tuẫn đạo”. Những người con Việt Nam đã chiến đấu cho lý tưởng độc lập, tự do. Một núi xương, sông máu đã đổ xuống để cho một sự vẹn toàn lãnh thổ, để cả nước Việt được đoàn viên nối lại một vòng tay lớn. Và hình như điều gì gắn bó với Thành Cổ Quảng Trị, thị xã Quảng Trị trong những ngày đã tác vào lịch sử đều trở nên linh thiêng, quý giá vô ngần. Tôi còn nhớ một buổi trưa ở thị xã Quảng Trị, anh Võ Thìn đã ngâm bài thơ nổi tiếng của nhà thơ Lê Bá Dương: “Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm…”. Những người ngồi nghe như nhà thư pháp Hoàng Tấn Trung, nhà văn Thái Đào đều lặng người dù đã nhiều lần thưởng thức tác phẩm thi ca độc đáo này. Linh khí dòng sông Thạch Hãn, linh khí Thành Cổ đã truyền cho bài thơ và cả người đọc một năng lượng tâm linh bền bỉ và có sức lan tỏa sâu xa. Mà lạ thật, một bài thơ được sáng tác rõ ràng như vậy lại có đến mấy dị bản, bản nào đọc lên cũng hay. Hình như với mỗi người đọc, người nghe có mỗi đất thiêng Thành Cổ khác nhau và đều chất chứa nỗi niềm. Đó là một “ca” khá đặc biệt trong văn học Việt Nam đương đại khi bài thơ đã được nhiều người đọc thuộc, ngâm ngợi không chỉ một lần, đã trở thành lời kinh cầu nguyện cho những nghĩa sĩ quên mình vì Tổ quốc trong thời điểm dầu sôi lửa bỏng. Nó đã là máu thịt của dòng sông Thạch Hãn, thành ký ức tâm linh của đất thiêng Thành Cổ.  Khi xuôi ngược trên những chuyến đò theo dòng Thạch Hãn, tôi ngắm nhìn thị xã nhỏ bé nằm bên bờ sông, được ví: “thị xã nhỏ như bàn tay con gái” mà ai đó đã từng viết thành thơ. Ấy vậy mà “bàn tay con gái” đã từng bị đạn bom hủy diệt không thương tiếc, để lại những nỗi đau với những người con nước Việt. Dòng linh giang Thạch Hãn vẫn mải miết chảy về biển Đông nhưng phù sa cuộn đỏ đôi bờ có máu thịt của những những người đã khuất. Vậy nên nếu có một bến thả hoa trên dòng sông này thì sẽ có ngàn vạn bến thả hoa trong tâm tưởng con dân nước Việt. Biểu tượng cụ thể chỉ mang sức mạnh nội sinh khi nó hóa thành một phần tiềm thức, được cất giữ nương náu trong một góc nhỏ tâm hồn.

Có một chuyện mang màu sắc truyền kỳ đến khó tin ở bên dòng Thạch Hãn giữa những ngày ác liệt nhất còn được ít người biết đến. Đó là huyền thoại về một bé gái đã sống sót dưới mưa bom bão đạn trong những ngày sự sống chết chỉ là nhanh như chớp mắt. Ngày ấy trong hoang tàn hủy diệt, tình cờ bộ đội phát hiện một đứa bé chừng hai tuổi sống sót một mình trong chiếc hầm bên dòng Thạch Hãn. Họ như không tin vào chính mắt mình. Làm sao giữa đạn bom dày đặc suốt ngày đêm một đứa bé mình trần thân trụi lại có thể sống được. Nhưng đó lại là sự thật, một sự thật như cổ tích diệu kỳ. Đó là cô bé Nguyễn Thị Tuyết được cả đơn vị bộ đội coi là con nuôi. Rồi bộ đội rút quân làm nhiệm vụ mới ở vùng đất khác, rồi vật đổi sao dời, những người lính không còn gặp lại bé gái được họ cứu sống. Bốn mươi năm sau, bằng sự tận tâm của người lính, họ đã gặp lại chị Nguyễn Thị Tuyết bây giờ đang sinh sống và làm ăn ở miền Nam. Một cuộc hội ngộ diệu kỳ và cảm động khiến mọi người có mặt đều rơi nước mắt. Tình người, tình quân dân qua bao nhiêu năm tháng vẫn vẹn nguyên và đằm sâu như những gì thiết tha, gắn bó với mỗi đời người. Bên cạnh vô số những đớn đáu, mất mát của chiến tranh là câu chuyện như thể phép màu dưới chân Thành Cổ.

Hơn bốn mươi năm sau ngày nước nhà thống nhất, dù muốn hay không thì chiến tranh cũng đã quá khứ, ai cũng muốn sống với những ngày đang đến trong khát vọng phục sinh. Nhưng ngày qua vẫn song hành với ngày hôm nay và cả ngày mai nữa thì quá khứ mới đủ đầy ý nghĩa, mới đâm hoa kết trái giữa đời thường, và lịch sử bi tráng một thời mới có chỗ đứng trong lòng những người đang sống. Như những câu hát trong bài “Cỏ non Thành Cổ” của nhạc sĩ Tân Huyền, đầy khắc khoải và nhắc nhở: “ Cho tôi hôm nay vào Thành Cổ, thắp một nén nhang viếng người nằm dưới cỏ, cỏ xanh non tơ, cỏ xanh non tơ, xin chớ vô tình…”

X.D






Các bài viết cùng chủ đề

      
      
      
      
      
      
      
      
      
      

Giấy phép số 229/GP-TTĐT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 3 tháng 12 năm 2008
Tòa soạn: 128 Trần Hưng Đạo - Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị • E-mail: tapchicuaviet@gmail.com • Điện thoại: 053.3852458

Copyright © 2008 http://www.tapchicuaviet.com.vn - Thiết kế: Hồ Thanh Thọ • wWw.htt383.com