Tranh & Ảnh nghệ thuật
Giá sách Cửa Việt
Liên kết Website
Thống kê
Bài đăng : 10097
Người online: 7
Truy cập trong ngày: 52
Lượt truy cập
Giới thiệu Tạp chí số mới
Số 279 (12 - 2017)
Thông tin Tòa soạn
Tổng biên tập

Thùy Liên

Thư ký Tòa soạn

Hoàng Công Danh

Trưởng ban Trị sự

Thanh Thọ

Ban biên tập

Lê Thi

Cẩm Nhung



Có một Vĩnh Linh trong nhà văn Tô Hoàng
 Trần Biên

Nhà báo, nhà văn Tô Hoàng là người có mặt rất sớm nếu như không muốn nói sớm nhất trong năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước ác liệt nhất ở Vĩnh Linh để chia sẻ, cao hơn là chia lửa với bộ đội, dân quân đang ngày đêm đối mặt với kẻ thù.

Tôi quen biết rồi thân với Tô Hoàng trong những năm tháng đó. Chúng tôi vừa là đồng tuế, đồng ngũ, đồng cấp (trung sỹ) và chút ít phần trăm là đồng nghiệp. Lúc đó tôi vừa được điều từ đơn vị chiến đấu về tuyên huấn phụ trách viết, biên tập bản tin, lèo tèo mấy trang in ronéo của Trung đoàn 270 bảo vệ giới tuyến được mấy thằng bạn lính phong cho chức “nhà báo xóm”. Còn Hoàng là người của Quân chủng Pháo binh, là nhà báo Trung ương ngoài Hà Nội vào Vĩnh Linh viết bài, dưới con mắt của bộ đội ta ở Vĩnh Linh thời điểm đó nhà báo ở Hà Nội vào tuyến lửa này là giỏi lắm, oai lắm, tài ba lắm. Bởi sự ngộ nhận đó mà sau này Hoàng phải gánh chịu một trận cười chảy nước mắt, chuyện đó sẽ nói sau. Còn bây giờ xin được kể chuyện Hoàng viết trang viết đầu tay cũng có thể gọi là tác phẩm đầu tay viết về chiến công của quân và dân Vĩnh Linh trừng trị pháo bờ Nam.

Sau Tết Đinh Mùi 1967, pháo bờ Nam cỡ 105 ly, 175 ly đặt ở Cồn Tiên, Dốc Miếu ngang nhiên bắn bừa bãi vào các thôn xóm Vĩnh Linh, nhất là 5 xã dọc theo bờ bắc sông Bến Hải nơi chúng nghi ta tập kết nhiều lực lượng, vũ khí sẵn sàng vượt sông Bến Hải vào chiến trường. Chúng bắn không theo quy luật nào, có lúc cấp tập vào khu vực nào đó vài trăm quả, có lúc “cầm canh” mươi quả, vài ba quả, không lường được. Thời gian đầu ta chưa có kinh nghiệm phòng tránh, thương vong, thiệt hại không nhỏ. Tám vạn dân và hàng ngàn người lính ở Vĩnh Linh uất ức trào lên chẹn ngang cổ họng. Thế rồi cái cục uất chẹn ngang cổ họng mọi người suốt mấy tháng đã được giải tỏa khi Bộ tư lệnh Pháo binh giáng “chùy” quật trả. Bộ có 3 trung đoàn pháo 204, 208, 84; Quân khu IV có trung đoàn pháo 164. Ấy là chưa kể 12 khẩu cối 82 ly của dân quân tự vệ Vĩnh Linh đã bí mật áp sát hàng rào tại căn cứ Dốc Miếu, Cồn Tiên, đợi khi pháo ta ngừng bắn tiếp tục “đánh bồi”, “đánh nhồi” một trận nữa.

Ngày 20 - 3 - 1967, vào lúc 18 giờ 16 phút pháo ta đồng loạt khai hỏa. Trước đó bốn tiếng đồng hồ vào lúc 14 giờ hàng đoàn trực thăng từ phía Nam hối hả đổ xuống căn cứ Cồn Tiên, có đến hai tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ. Chúng định trú quân qua đêm ở đây để sáng hôm sau mở cuộc càn vào khu vực Nam giới tuyến 17. Vừa mới tới nên lính Mỹ cực kỳ chủ quan, chẳng đào hầm hố trú tránh gì cả, chăng lều bạt ngủ la liệt khắp quả đồi. Nhận thấy đây là một cơ hội diệt địch trời cho, sau khi hiệu chỉnh đường đạn, pháo ta bắn cấp tập vào hai cứ điểm Cồn Tiên, Dốc Miếu gần 20 phút. Trận đầu pháo binh quân đội nhân dân Việt Nam trừng trị pháo binh Mỹ ngụy thắng lợi giòn giã, tiêu diệt 1.070 tên địch (hầu hết là lính thủy đánh bộ Mỹ), phá hủy 22 xe tăng, 37 xe vận tải, 5 máy bay lên thẳng, thiêu hủy kho xăng, 2 kho đạn.

Tô Hoàng có mặt tại trận địa pháo khi quân ta vừa mới kéo pháo vào xây dựng trận địa và giờ đây hòa niềm vui cùng đồng bào xã Vĩnh Thủy nhảy cẫng lên reo hò đến nỗi vỡ cả tiếng, khi bằng mắt thường nhìn rõ căn cứ Cồn Tiên, Dốc Miếu bốc cháy ngùn ngụt trong đêm để rồi về Hà Nội anh có ngay bút ký Bão lửa căm thù bên này sông Bến Hải đăng trang trọng trên trang nhất tuần báo Văn nghệ Trung ương và phát trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam buổi phát thanh văn nghệ. Cùng thời điểm này ngoài bài ký Bão lửa căm thù bên này sông Bến Hải còn có bài thơ Rồng lửa, hình như của nhà thơ Hồ Khải Đại. Đây là hai tác phẩm ấn tượng nhất viết về trận đánh lịch sử nói trên. Riêng bài của Tô Hoàng là tác phẩm văn học xếp thứ hai sau Chúng tôi ở Cồn Cỏ của Hồ Phương, viết về Vĩnh Linh thời điểm đó.

Thấy tác phẩm đầu tay xuôi chèo mát mái nên Tô Hoàng hăng hái xin Bộ tư lệnh Pháo binh vào Vĩnh Linh tiếp tục công việc sáng tác. Chuyến đi thứ hai này tôi và Tô Hoàng mới quen biết nhau, sinh hoạt cùng Ban Tuyên huấn Trung đoàn, ăn cùng chỗ, ngủ cùng hầm. Được vài đêm gì đó anh tách thẳng một mạch về mũi Si (Vĩnh Thạch) đến với Đại đội 13 viết được bài ký Ở một trận địa bắn biển. (Không rõ đọc được bài này ở đâu mà năm 2016 gặp Trung tá CCB Đoàn Phiếm, nguyên Chính trị viên Đại đội 13 ở thành phố Đông Hà, ông vẫn còn nhớ, cứ nhắc đi nhắc lại hoài “hay, hay, bài nớ hay thiệt, hay, rất chi là hay”).

Từ biển Hoàng lộn ngược lên miền tây về xã Vĩnh Sơn sát bờ sông Bến Hải nơi đặt trận địa bắn kiềm chế. Đây là cách đánh mới của pháo binh ta trong chống Mỹ. Các chiến sỹ sáng tạo nhiều cách đánh hiệu quả, chẳng hạn đánh vào đội hình địch khi chúng thay quân, đánh vào trực thăng vừa tiếp đất, đánh vào xe tải khi chúng tiếp tế cho căn cứ. Cách đánh này không chỉ tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch và phương tiện chiến tranh của chúng mà làm cho chúng rất căng thẳng, nhức nhối, suốt ngày phải chui rúc trong hầm, không dám ló mặt ra ngoài. Bởi thế địch rất căm mấy trận địa bắn kiềm chế nên phản ứng bằng phi pháo rất quyết liệt. Nhiều lần thấy B52 đánh vào trận địa pháo bờ Bắc, địch ở bờ Nam nhảy lên bờ công sự hoan hô rầm trời, chúng không thể ngờ được pháo ta ở trận địa bờ Bắc chỉ chờ có thế liền đáp trả tức khắc.

Tô Hoàng đã nếm trải tròn mười đêm kinh hoàng ở đây, có những đêm địch dùng cả pháo đất, pháo hạm tàu và bom tọa độ bừa đi bừa lại suốt từ chập tối đến sáng. Ở trận địa, để đảm bảo bom không thể sát thương nhiều người cùng một lúc, pháo thủ phải ngủ riêng mỗi người một hầm kể cả nhà báo là khách. Chính trị viên tiểu đoàn Lê Quý Tương phải hỏi thẳng Hoàng: “Có chịu được không?”, bởi ông lo ngại ngủ một mình lỡ ông nhà báo quá sợ vọt lên ảnh hưởng đến tinh thần chiến sỹ. Hoàng bảo: “Anh yên tâm đi, tôi hoàn toàn chịu đựng được như mọi chiến sỹ của anh”. Và đúng là anh đã chịu đựng được một cách tuyệt vời để sau đó thể hiện qua bài ký Ở một trận địa bắn kiềm chế, phản ánh rất chân thực và sinh động cuộc chiến đấu của bộ đội ta. Tô Hoàng đã ở lại đây chín ngày, công việc lấy tư liệu viết bài đã đâu vào đấy nhưng cứ nấn ná không chịu về bởi lúc đó anh đang cố thuyết phục xin ông Khôi Đại úy Chủ nhiệm pháo binh sang bờ Nam, đến với du kích xã Trung Hải là đơn vị đánh giặc nổi tiếng nhưng ông Khôi dứt khoát không cho, thành thử Tô Hoàng phải ở lại thêm một ngày nữa. Đúng vào cái ngày ở thêm ấy xảy ra sự cố cười chảy ra nước mắt.

Hôm đó tiểu đoàn tổ chức Đại hội Đảng bộ ngay tại trận địa nơi Hoàng ở, Chính trị viên tiểu đoàn kiêm Bí thư Đảng ủy mời Hoàng tham dự. Khó xử cho Hoàng vì lúc đó Hoàng mới là đối tượng Đảng, chưa phải là đảng viên. Cho nên khi nghe Chính trị viên tiểu đoàn nói, được lời như cởi tấm lòng, Hoàng vui vẻ nhận lời tới họp, vui vẻ giơ tay chào đảng kỳ, chỉ có từ chối lời mời của Bí thư Đảng ủy: “Mời nhà báo Tô Hoàng phát biểu động viên anh em bộ đội”.

Chuyện mời một người ngoài Đảng vào họp Đại hội Đảng bộ đến tai ông Vũ Kỳ Lân, Chính ủy Trung đoàn. Có người báo lên: Tiểu đoàn và nhà báo đã làm một việc vô nguyên tắc, vi phạm điều lệ Đảng, phải nghiêm khắc kiểm điểm, thông báo các đơn vị phải kịp thời rút kinh nghiệm, nếu cần phải xét kỷ luật ông nhà báo và Chính trị viên. Thế nhưng trong buổi giao ban sau đó, Chính ủy Vũ Kỳ Lân nói đại ý: “Không có gì to tát như các đồng chí nói đâu, nhà báo vào chiến trường thì phải gặp người này, tiếp xúc người kia, dự cuộc họp này, cuộc họp khác mới có tư liệu, không thì làm sao viết bài? Mặt khác đồng chí Hoàng là một nhà báo tốt, theo tôi Tô Hoàng và Zorit-Iven là hai nhà báo dũng cảm nhất đến với chiến sỹ và nhân dân Vĩnh Linh lúc này”. Tô Hoàng thì đã rõ, còn Zorit-Iven là đạo diễn điện ảnh người Hà Lan thời điểm đó cũng vào Vĩnh Linh quay phim tài liệu. Đúng là một chuyện cười chảy nước mắt.

Quen thân nhau lâu nhưng chưa bao giờ Hoàng nói chuyện này, mãi gần đây tôi mới biết. Hoàng kể: Trong Đại hội Đảng bộ lần đó, Bí thư Đảng bộ Tiểu đoàn lúc kiểm tra đảng số, anh ta vừa khóc vừa nói: “Tính từ ngày nhận lệnh bắn phá các trận địa pháo bên bờ Nam, đặc biệt trong thời kỳ làm nhiệm vụ bắn kiềm chế, 1/3 đảng viên hy sinh và bị thương. Nếu đảng viên không biết vận động quần chúng cùng chiến đấu với mình, tôi e chỉ một thời gian nữa tiểu đoàn sẽ không còn đảng viên”. Hoàng bảo câu nói của Chính trị viên hôm đó khiến anh ngộ ra cái bản chất tiên phong gương mẫu, đầu tàu của người đảng viên, điều mà gần 2 năm sau (tháng 1 - 1969) tại chiến trường Tây Nguyên lúc tuyên thệ kết nạp Đảng, trong người Hoàng bỗng xôn xao thức dậy câu chuyện này ám ảnh anh đến cả tuần lễ.

Mậu Thân 1968, Tô Hoàng ăn dầm ở dề với dân quân xã Vĩnh Giang hàng tháng trời. Từ đây Hoàng ra trận địa súng 12 ly 7 do Xã đội phó Ngô Thị Phê chỉ huy làm chân phụ tiếp đạn, cũng có lúc đi chặt lá ngụy trang hoặc lượm củi. Trung đội 12 ly 7 này toàn nữ, chỉ có mỗi Hoàng “xạ thủ bất đắc dĩ” là con trai, nhưng không vì lợi thế đó mà vòi được bóp cò súng bắn máy bay vốn là thao tác khó nhất của xạ thủ. Khó nhưng Hoàng lại quá ưng để khám phá cái cảm giác khi những viên đạn nối đuôi nhau vọt khỏi nòng súng thì hai vai người bắn nó rung lên ra sao, biết đâu có lúc phải tả cái cảm giác ấy trên trang viết nên cứ năn nỉ xin khẩu đội trưởng được bắn. Lần trước đi với pháo mặt đất bắn kiềm chế, Hoàng đã được bắn một quả đạn 105 ly vào căn cứ Dốc Miếu. Hôm đó phần tử tầm, hướng pháo thủ đã chỉnh sẵn, đạn đã lên nòng, mọi thứ đã xong đâu vào đấy. Pháo thủ Lê Si phụ trách bắn nói: “Anh người Hà Nội. Mấy bữa ni đài liên tục tố cáo thằng Mỹ ném bom tàn sát hàng loạt dân thường Hà Nội. Em cho anh bắn quả này, trả thù cho người Hà Nội. Dễ lắm! Anh nắm chặt sợi dây này, giật mạnh một “cú” là được”. Hơi lưỡng lự một chút rồi Hoàng hăm hở nắm sợi dây mím môi mím lợi giật mạnh, một tiếng nổ “oàng” nhức tai, quả đạn xé gió lao vút đi. Qua ống nhòm Hoàng nhìn thấy một cột khói đen ngòm phụt lên nơi Dốc Miếu. Giờ đây tại Trung đội 12 ly 7 nữ dân quân, anh rất muốn tìm lại cái cảm giác ngất ngây mấy bữa trước. Tuy nhiên các cô dân quân dù có cảm tình với nhà báo đến đâu cũng không dám liều mạng cho Hoàng ngoéo tay vào cái vòng cò súng 12 ly 7.

Ban ngày trực chiến với dân quân. Ban đêm Hoàng theo các o Tùng, Huyên, Hinh, Mót... đến bến đò B Tùng Luật khiêng cáng thương binh, tử sỹ. Ngày ấy đêm đêm tại đây tiếp nhận hàng chục thương binh, tử sỹ của các đơn vị quân ta chiến đấu ở bờ Nam chuyển ra Bắc. Các o dân quân không bao giờ bắt Hoàng khiêng cáng thương, họ giao cho “eng nhà báo” việc nhẹ nhàng hơn nhiều là ôm ba lô (có lúc cả súng nữa) của thương binh chạy theo sau. Thương binh thì khiêng đến trạm xã Vĩnh Hiền bàn giao cho trạm, họ có nhiệm vụ chuyển tiếp. Còn tử sĩ đưa về chôn cất tại nghĩa địa cách khu vực hầm ngủ của trung đội dân quân khoảng trăm mét.

Cái sự người sống và người chết nằm ngủ cách nhau một quãng ngắn đã gợi cảm hứng cho Tô Hoàng viết thành công truyện ngắn Kỷ niệm trận địa đăng trên Tạp chí Văn nghệ quân đội. Các nữ dân quân Phê, Huyên, Mót, Tùng, Thú, Nguyên, Hường; các dân quân nam Thu, Nông, Hiền... xã Vĩnh Giang gắn bó một thời với Tô Hoàng đã để lại dấu ấn sâu đậm trong các truyện: Người trạm giữa, Nhìn ra dòng sông, Sự tích anh hùng sau mỗi vết thương... lần lượt đăng tải trên Văn nghệ quân đội. Các truyện viết ở khu đông Vĩnh Linh thuở ấy được tập hợp in trong tập truyện Số một và số nhiều, Nhà xuất bản Hội Nhà văn năm 2016.

Mùa xuân 1969, Tô Hoàng được Bộ tư lệnh Pháo binh cử đi “Bê dài”. Từ Hà Nội vượt Trường Sơn vào Tây Nguyên, công tác chiến đấu ở đó năm năm sau mới về Hà Nội, sau đó sang Nga học biên kịch điện ảnh một lèo bảy năm liền mới về nước, rồi làm báo làm phim. Tiếp xúc với người Việt xuất khẩu lao động ở Nga anh viết được cuốn tiểu thuyết Ngửa mặt kêu trời. Được biết cuốn Ngửa mặt kêu trời là một trong năm tác phẩm xuất sắc nhất để chọn một giải A - giải sáng tạo của Hội Nhà văn năm 1991.

Đi đâu thì đi, sống ở đâu thì sống nhưng cứ khoảng bốn, năm năm Tô Hoàng lại đáo về Vĩnh Linh một lần, anh đến với đồng đội, chiến hữu, bà con cô bác Vĩnh Linh năm xưa, uống với nhau cốc nước chè xanh hay ly rượu trắng, nhắc lại cho nhau nghe những kỷ niệm của một thời như thế đã đi qua, chia sẻ, động viên nhau giữ gìn sức khỏe tuổi già, sống vui, sống khỏe cùng con cháu. Chở Hoàng ngồi sau chiếc xe máy cà tàng đời 78 của tôi thăm thú đó đây, đi đến đâu, vào nhà ai hay tới chợ Do cũng nghe tiếng kêu mừng rỡ “eng Hoàng”, “chú Hoàng”, “Tô Hoàng nhà báo phải không”; cả những lời mời mọc ân cần, trân trọng: “Ở lại ăn với ông mụ tui bữa cơm nghe” hoặc “Có con gà trống béo lắm, uống với nhau chén rượu rồi ông muốn đi đâu thì đi”...

Về lại Vĩnh Linh, nhà báo, nhà văn Tô Hoàng lúc nào cũng vui, miệng cười rạng rỡ, ánh mắt ấm áp đến với mọi người và mọi người dang rộng vòng tay đón Hoàng như đón người con đi xa lâu ngày về thăm mẹ. Thiết nghĩ trong nửa thế kỷ ấy qua bao thăng trầm biến cố, song luôn có một Vĩnh Linh trong Tô Hoàng và tất nhiên hệ quả của nó là có một nhà báo, nhà văn Tô Hoàng trong không ít người và đất Vĩnh Linh.

T.B


___________________
(Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 273, tháng 6 năm 2017)





Các bài viết cùng chủ đề

      
      
      
      
      
      
      
      
      
      

Giấy phép số 229/GP-TTĐT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 3 tháng 12 năm 2008
Tòa soạn: 128 Trần Hưng Đạo - Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị • E-mail: tapchicuaviet@gmail.com • Điện thoại: 053.3852458

Copyright © 2008 http://www.tapchicuaviet.com.vn - Thiết kế: Hồ Thanh Thọ • wWw.htt383.com