Tranh & Ảnh nghệ thuật
Giá sách Cửa Việt
Liên kết Website
Thống kê
Bài đăng : 10012
Người online: 28
Truy cập trong ngày: 32
Lượt truy cập
Giới thiệu Tạp chí số mới
Số 277 (10 - 2017)
Email chuyên mục
Email chung tapchicuaviet@gmail.com

Bút ký
camnhung1308@gmail.com
Truyện ngắn
hkzanh@gmail.com
Thơ
nguyendieuai87@gmail.com
Văn hóa thời đại thuyliencuaviet@gmail.com
Người & Đất quê hương letrongthi79@gmail.com
Tranh - Ảnh Mỹ thuật htt383@gmail.com



Huyền tích Triệu Phong - mạch nguồn chảy mãi
 Đoàn Phương Nam

Đã có vài lần tôi đặt chân đến Bến Ghềnh thương cảng chỉ để nhìn dòng Thạch Hãn vươn một vòng thật rộng chảy nhẹ nhàng qua đây. Lòng chợt âm vọng bao nhiêu điều tha thiết khắc khoải khi “nhớ người xưa từng ở nơi này”. Phồn hoa đô hội một thời dẫu còn sót lại không nhiều trên đất đai màu mỡ phù sa cũng khiến lòng người xốn xao bao cảm xúc khi nhớ về chúa Tiên Nguyễn Hoàng - Người đã xây thành dựng lũy, mưu đại sự muôn đời. Nhắc đến Triệu Phong là nhớ đến những nền móng vững chắc được các chúa Nguyễn xây dựng để mở mang cương vực, khai phá xứ Đàng Trong và ngược lại, khi nhớ về những vị chúa Nguyễn thì không thể không nhắc đến vùng đất từng được xem là kinh đô đầu tiên của cơ nghiệp nhà Nguyễn. Những bài học từ lịch sử luôn mang đến thông điệp cho mai sau.

Hành trang dựng nghiệp của Nguyễn Hoàng ở Quảng Trị cũng như ở Đàng Trong rất phong phú, sống động khi ông đã biến vùng đất khô cằn, khắc nghiệt trở thành một đô hội lớn, nhộn nhịp. Nếu ta nhớ lại, năm 1553, tức năm năm trước khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, tiến sĩ Dương Văn An viết trong “Ô Châu cận lục” (bản dịch của Bùi Lương) đã dành những dòng khá buồn tẻ, hiu hắt về mảnh đất này: “Đất đai chật hẹp, phong tục quê mùa, nhân vật thì thưa thớt buồn tẻ, không ví được với miền Hoan - Ái (tức Thanh - Nghệ - Tĩnh)”. Thế nhưng với một loạt các chính sách hợp lòng dân, mở mang ngoại thương và hướng tầm nhìn ra biển, chúa Tiên Nguyễn Hoàng đã làm nên “cuộc đột phá”, thay đổi diện mạo, tầm vóc cho mảnh đất “Ô châu ác địa”. Linh mục Nguyễn Văn Ngọc, trong bài nghiên cứu “Cửa Việt dưới thời Nguyễn Hoàng và chúa Sãi (1558 - 1626)” đăng trên Tạp chí Cửa Việt (bộ cũ) số xuân Tân Mùi 1991 (trang 100 - 104) đã công bố nhiều tư liệu về tầm vóc của vùng cảng Cửa Việt và dinh Trà Bát này. Ở xứ Trà Liên với quảng đường từ Cửa Việt lên đây chưa đầy chục cây số đã được sử sách nhắc đến như một thương cảng đô hội nhất Đàng Trong bấy giờ. Chính sự sầm uất của cảng Cửa Việt đã khiến tàu nước ngoài vào cướp bóc cư dân ven biển vùng này và Nguyễn Phúc Nguyên đã vâng lệnh cha dẫn mười thuyền chiến đi đánh tan hai thuyền của tướng giặc là Hiển Quý vào năm 1585. Theo Lê Quý Đôn, dưới thời Nguyễn Hoàng, thuyền buôn các nước đến nhiều. Trấn trở nên một nơi đô hội lớn. Đặc sản tiêu Quảng Trị đã được Nguyễn Hoàng cho mua, chở cùng vây cá yến sào để đổi cho khách buôn lấy hàng hóa, sản vật. Chính với những công trạng lớn lao này, nhà bác học Lê Quý Đôn đã viết những dòng rất trân trọng khi đánh giá về tài trí, đức độ của Nguyễn Hoàng: “Đoan quận công có uy lược, xét kỹ, nghiêm minh, không ai dám lừa dối. Cai trị hơn mười năm, chính sự khoan hòa, việc gì cũng thường làm ơn cho dân, dùng phép công bằng, răn giữ bản bộ, cấm đoán kẻ hung dữ. Quân dân hai xứ thân yêu tin phục, cảm nhân mến đức, dời đổi phong tục, chợ không bán hai giá, người không ai trộm cướp, cửa ngoài không phải đóng, thuyền buôn ngoại quốc đều đến mua bán, đổi chác phải giá, quân lệnh nghiêm trang, ai cũng cố gắng, trong cõi đều an cư lạc nghiệp”.

Bắt đầu bằng việc đặt phủ Phú Yên năm 1611 dưới thời chúa Nguyễn Hoàng đến năm 1757 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, trong vòng 146 năm, đất nước đã được mở rộng từ Phú Yên đến Cà Mau. Và một chuỗi các sự kiện diễn ra đã làm thay đổi toàn bộ lịch sử Việt Nam nói riêng và lịch sử Đông Nam Á nói chung. Chúa Tiên Nguyễn Hoàng và các chúa Nguyễn đã làm cho Đàng Trong hưng thịnh và chính sự hưng thịnh này đã góp phần quyết định tạo nên trọn vẹn dáng hình chữ S của Tổ quốc Việt Nam như ngày nay.

Gần 70 năm được chọn là thủ phủ khai nguyên của xứ Đàng Trong - Ái Tử kinh đô đầu tiên của cơ nghiệp nhà Nguyễn mãi mãi là niềm tự hào với những gì nó đã mang lại cho nhà Nguyễn trong cái buổi “vạn sự khởi đầu nan”. Ba dinh trấn đầu tiên tồn tại 68 năm trên đất Ái Tử, Triệu Phong không chỉ là những đồn binh, nặng về bố phòng quân sự, mà nó còn là những trung tâm kinh tế, thương mại quan trọng; đặc biệt là những chính sách đối ngoại khoan hòa, rộng mở biến Ái Tử, Trà Bát nói riêng, Đàng Trong nói chung thành nơi đô hội, giao thương, buôn bán tấp nập một thời... Trải qua một thời gian dài của lịch sử, với gần 500 năm trên một vùng đất vốn chịu nhiều đổi thay, mất mát, bởi các cuộc chiến tranh binh lửa, hủy diệt tàn khốc, cộng với sự khắc nghiệt của thời tiết, thiên tai, hạn hán, bão lụt… đã xóa nhòa những dấu tích, những di sản văn hóa một thời là thủ phủ, là “cựu Dinh” trên mảnh đất này.

Nhưng không phải vì thế mà tất cả đã bôi xóa toàn bộ dấu vết của một thuở hào vọng, khi vẫn còn những chứng tích của một thời “Người xưa lưu dấu in hình thuở mang gươm”. Vẫn còn đó trên đất đai nặng trĩu phù sa mặn mòi máu, mồ hôi của những đời người trải dọc hành trình mở đất những mảnh gốm tuy còn ít ỏi của Bến Ghềnh, là tượng và ngôi miếu thờ Thái phó Uy quốc công Nguyễn Ư Dĩ - pho tượng đồng có một số phận nổi chìm kỳ lạ và giờ đây được xem là “bảo vật quốc gia” tại Quảng Trị.

Anh Nguyễn Thành Vũ, Phó Chủ tịch UBND huyện Triệu Phong cho biết, huyện đã xây dựng đề án và trình UBND tỉnh về việc gắn bảo tồn, phục dựng các di tích với việc phát triển văn hóa và du lịch bởi lòng dân đời đời còn ghi tạc công đức. Các địa điểm dinh phủ của lỵ sở dinh chúa Nguyễn năm 1996 tuy đã được UBND tỉnh công nhận là di tích cấp tỉnh nhưng do chưa xác định địa điểm và chưa có khoanh vùng bảo vệ đất đai nên chịu nhiều tác động từ nhu cầu dân sinh và xây dựng cơ sở hạ tầng đã làm thay đổi, biến dạng hiện trạng của các yếu tố gốc. Sau khi xác định được địa điểm cần quy hoạch tạo ra một không gian lưu niệm lịch sử nhằm tôn vinh, tưởng niệm về thời kỳ lịch sử các chúa Nguyễn cũng như tạo ra một khu du lịch mang tính chất lịch sử, văn hóa và tâm linh mới để kết nối với những di tích lịch sử văn hóa hiện có ở vùng phụ cận làm phong phú, đa dạng hơn sản phẩm du lịch Quảng Trị.

Cách đây nhiều năm, có nhiều ý kiến rằng huyện Triệu Phong cần từng bước hoàn thiện kịch bản khung Lễ hội dân gian truyền thống Ái Tử - đất khởi nghiệp của xứ Đàng Trong nhằm làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân. Xem đây là một lễ hội đặc trưng, riêng có, mang đậm dấu ấn văn hóa của vùng đất Triệu Phong, làm nên bức tranh đa sắc màu trong tổng quan lễ hội trên đất Quảng Trị. Đồng thời, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần có kế hoạch triển khai đồng bộ, từ việc thu thập chứng cứ, khảo sát điều tra, thăm dò, khai quật khảo cổ để hoàn chỉnh hồ sơ khoa học và pháp lý trình Bộ Văn hóa, Thể thao và du lịch xếp hạng Di tích Quốc gia đối với hệ thống di tích, di sản Nguyễn Hoàng và chúa Nguyễn trên đất Quảng Trị.

Anh Nguyễn Thành Vũ cũng cho biết thêm, hiện nay UBND huyện đang thực hiện thử nghiệm tour du lịch văn hóa lịch sử tâm linh trên địa bàn huyện Triệu Phong với các điểm: Tổ đình Sắc tứ Tịnh Quang, Bến Ghềnh thương cảng, Miếu thờ Thái phó Nguyễn Ư Dĩ, Di tích quốc gia Thành Cổ Quảng Trị, Khu lưu niệm Tổng Bí thư Lê Duẩn, đặc biệt kết thúc hành trình bằng thưởng thức chín món đặc sản địa phương tại chợ Sãi (chợ mang tên và gắn liền với những câu chuyện về chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên) như: nem, chả, cháo hến, bánh chưng, bánh bột lọc, bánh bèo...

* * *

Một niềm vui thật ấm áp khi biết rằng ngày 17 - 7 - 2017, UBND huyện Triệu Phong phối hợp với Hội Khoa học lịch sử tỉnh Quảng Trị tổ chức Hội thảo khoa học Luận cứ khoa học lịch sử xác định 3 vị trí thủ phủ Ái Tử, Trà Bát và Dinh Cát phục vụ quy hoạch, đầu tư, tôn tạo di tích thời chúa Nguyễn trên đất Triệu Phong. Hội thảo làm sáng tỏ thêm diện mạo, cấu trúc, quy mô của 3 vị trí thủ phủ Ái Tử (1558 - 1570), Trà Bát (1570 - 1600) và Dinh Cát (1600 - 1626) theo hướng tiếp cận mới để khẳng định vị trí, vai trò của lỵ sở dinh chúa Nguyễn ở Ái Tử - Trà Bát trong vòng 68 năm (1558 - 1626) trên vùng đất Triệu Phong/Quảng Trị trên hành trình mở cõi của dân tộc. Hội thảo đã có mặt các nhà nghiên cứu đến từ Viện Khảo cổ học Việt Nam, Hội Khoa học lịch sử Thừa Thiên Huế, Quảng Bình và các vị đại diện cho lãnh đạo các ban, ngành liên quan của tỉnh Quảng Trị, huyện Triệu Phong và các cán bộ nghiên cứu của Bảo tàng và Ban quản lý Di tích tỉnh Quảng Trị. Hội thảo đã thảo luận để bổ sung một số nội dung về các luận cứ khoa học của nhóm thực hiện đề tài; đồng thời góp nhiều ý kiến cho nội dung quy hoạch, đầu tư, tôn tạo di tích; trong đó tập trung vào ý tưởng về việc quy hoạch để tạo ra một không gian lưu niệm lịch sử nhằm tôn vinh, tưởng niệm về thời kỳ lịch sử các chúa Nguyễn cũng như tạo ra một khu du lịch mang tính chất lịch sử - văn hóa và tâm linh mới để kết nối với những di tích lịch sử văn hóa hiện có ở vùng phụ cận làm đa dạng, phong phú hơn sản phẩm du lịch Quảng Trị không chỉ phục vụ cho việc giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế, đời sống dân sinh. Cụ thể như: Dựng tượng đài chúa Tiên Nguyễn Hoàng; xây dựng Bảo tàng lịch sử thời chúa Nguyễn và thư viện mang tên Nguyễn Hoàng; đặt tên cho một ngôi trường mang tên Nguyễn Hoàng tại thị trấn Ái Tử (có ý kiến cũng đề cập đến việc cần thiết đặt lại tên cho trường Nguyễn Hoàng ở thị xã Quảng Trị). Xây dựng các công trình tưởng niệm: Đền thờ các chúa Nguyễn và công thần; tổ chức lễ hội “Ái Tử và hành trình mở cõi” theo định kỳ; trước mắt là tổ chức lần đầu vào dịp kỷ niệm 460 năm chúa Tiên Nguyễn Hoàng định đô ở Ái Tử. 

Khi đọc những thông tin này, tôi lại chợt nhớ về lịch sử của vùng đất Triệu Phong. Sau khi chúa Tiên Nguyễn Hoàng đã đặt những nền móng quan trọng cho việc mở mang, phát triển Đàng Trong, năm 1620, chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái là Nguyễn Phúc Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp là Chey Chetta II. Nhờ ảnh hưởng mạnh mẽ của cuộc hôn nhân này, năm 1623, một phái bộ của chúa Nguyễn Phúc Nguyên đi sứ đến Chân Lạp đề nghị được lập cơ sở, được đặt một sở thu thuế hàng hóa ở Prey Kôr, tức thành phố Hồ Chí Minh ngày nay và đã được Chey Chetta II đồng ý. Theo các nguồn tài liệu, năm 1631, chúa Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái là Nguyễn Phúc Ngọc Khoa cho vua Chiêm Thành là Pôrômê, nhằm tạo mối quan hệ giao hảo Việt - Chiêm, bảo đảm an ninh mặt phía Nam cho chúa Nguyễn. Chút tự lòng nghĩ về công lao của những nàng công chúa nơi điện ngọc cung vàng đã gác tình riêng làm tròn trách nhiệm con dân nước Việt để mấy trăm năm sau dải đất nhỏ bé chắt chiu từng hạt phù sa lấn dần ra biển lớn. Việc giáo dục truyền thống gắn liền với bảo tồn, khai thác và phát huy các giá trị di sản thời chúa Nguyễn vào công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế xã hội là công việc có tầm chiến lược cả về trước mắt và lâu dài bởi những huyền tích trên mảnh đất này như mạch nguồn mãi khai thác không khô cạn.

Phồn hoa đô hội một thời dẫu còn sót lại không nhiều trên đất đai nhưng cũng đủ để tạc lại cho mai sau những bóng hình về “một thuở mang gươm đi mở cõi”… Tự lòng không khỏi những thao thức về miền đất “dung thân” và dựng nên nghiệp lớn của chúa Nguyễn để cương vực nước Nam rộng khắp khi tôi hào hứng nghĩ về những dự kiến sắp tới sẽ được hình thành trên mảnh đất Triệu Phong…

Đ.P.N


___________________
(Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 275, tháng 8 năm 2017)





Các bài viết cùng chủ đề

      
      
      
      
      
      
      
      
      
      

Giấy phép số 229/GP-TTĐT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 3 tháng 12 năm 2008
Tòa soạn: 128 Trần Hưng Đạo - Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị • E-mail: tapchicuaviet@gmail.com • Điện thoại: 053.3852458

Copyright © 2008 http://www.tapchicuaviet.com.vn - Thiết kế: Hồ Thanh Thọ • wWw.htt383.com