Tranh & Ảnh nghệ thuật
Giá sách Cửa Việt
Liên kết Website
Thống kê
Bài đăng : 10097
Người online: 41
Truy cập trong ngày: 179
Lượt truy cập
Giới thiệu Tạp chí số mới
Số 279 (12 - 2017)
Thông tin Tòa soạn
Tổng biên tập

Thùy Liên

Thư ký Tòa soạn

Hoàng Công Danh

Trưởng ban Trị sự

Thanh Thọ

Ban biên tập

Lê Thi

Cẩm Nhung



Phác thảo chân dung và góc cười của cụ Nguyễn Tuyn
 Y Thi

Sau nhiều ngày điền dã ở làng Bích Giang xã Cam Hiếu, quê hương cụ Tuyn, theo chỉ dẫn của các nghệ nhân cao niên trong vùng tôi đã tìm ra làng Ninh Xá ở huyện Gio Linh tìm gặp người làng cụ Xạ Trạch rồi vào làng Võ Thuận, Triệu Phong gặp gỡ con cháu cụ Đoan. Đó là ba nhân vật tiếu lâm ngoại hạng cùng thời như cái kiềng ba chân, mỗi người mỗi phong cách, không ai giống ai nhưng bổ trợ cho nhau, không nghiên cứu độc lập được.

Người dân ở vùng quê cụ Xạ Trạch và cụ Đoan đều cho rằng, lúc sinh thời hai cụ đều là những nhân vật tiếu lâm ngoại hạng, gia đình khá giả sung túc song đến đời con thì gia cảnh sa sút, đời cháu tuyệt tự. Ngược lại cụ Tuynh, vợ con tuy có muộn mằn nhưng con cháu hiện vẫn đề huề. Cụ Tuynh khác hai cụ kia chủ yếu là cái đức độ, cốt cách. Cụ có tự do chủ nghĩa, ngông nghênh, ngang ngạnh ngang chí tầng mây đị nữa thì cũng chỉ để chỉ thỏa cái chí tang bồng hồ thỉ, thi thố với đời mình theo kiểu cách của mình, một người dân vùng quê nắng gió Cam Lộ. Cuộc đời cụ vì thế đã lưu lại trong dân gian rất nhiều chuyện khôi hài thông minh hóm hỉnh - không phân biệt được đâu là nguyên bản những câu chuyện ngang ngạnh của ông cụ và đâu là giai thoại trôi nổi.

Điều đó, không ai bận tâm ngoài việc lưu truyền những câu chuyện thú vị về ông. Nhưng riêng với bản thân tôi, một người khảo cứu về văn hóa vùng đất, trong trường hợp này không nằm trong số đông ấy được vì có một ngoại lệ bất ngờ. Lúc tôi tìm đến nhà anh Nguyễn Thạnh, con trai ông cụ tìm hiểu, anh dứt khoát từ chối với lý do đơn giản là, “Cụ nhà tôi mất rồi, xin để cụ yên, đừng xào xới lên làm trò cười cho thiên hạ nữa!...”. Thuyết phục không nổi, tôi buộc phải lẩn vào đám đông trong vùng như ở làng nội Bích Giang, làng ngoại Định Xá anh Thạnh rồi ra Ninh Xá, vào Võ Thuận... Nhưng trước tiên, cho phép tôi bắt tay vào công việc giới thiệu, mấy lời tạ lỗi thưa vào phần cuối.

* * *

Tư liệu điền dã ghi chép được rất bề bộn, chưa thể phân loại, xử lý ngay một lúc mọi dữ liệu. Có một lưu ý rằng trước đó, trong tập sách “Văn học dân gian Quảng Trị” do Phan Hứa Thụy và Tôn Thất Bình đồng chủ biên, có 9 mẩu chuyện giới thiệu về giai thoại cụ Tuyn do các em sinh viên sưu tầm. Qua đối chiếu lần này, thấy có hiện tượng tùy tiện hoặc né tránh (ví như tránh tên đất, tên người, địa danh nơi xảy ra sự việc chẳng hạn) cần đính chính lại và người viết cũng đã sưu tầm bổ sung gần 50 giai thoại nữa. Song ở bài viết này không đặt nặng vấn đề công bố tư liệu (khi hoàn chỉnh sẽ in chung với hai cụ Xạ Trạch và cụ Đoan trong một tập sách) mà khiêm tốn giới thiệu một chân dung như tiêu đề bài viết. Lưu ý thứ hai nữa là, nếu chỉ nhìn vào bản ghi, đọc suông nó trên bề mặt sách báo thôi thì sẽ có rất ít người đọc hình dung ra hoặc thưởng ngoạn một cách đầy đủ sức hấp dẫn trực tiếp giữa người kể với người nghe về kho tàng trào phúng của ông cụ. Nó chỉ thực sự là nó, những viên ngọc sau khi được nhân dân mài giũa phải được nghe kể trực tiếp bởi những nghệ nhân có năng khiếu hài thật sự mới sống động, sáng tạo. Ngòi bút của các nhà nghiên cứu trong trường hợp này dù có cố gắng đến mấy cũng vô phương, có là giáo sư tiến sĩ thì cũng nhỉnh hơn sinh viên thực tập chút đỉnh mà thôi! Nói khác đi thì chẳng có nhà nghiên cứu nào thay thế được tác giả và đặc biệt cái sân khấu hài dân gian. Một người như cụ Tuyn, không thể vô tình làm những việc trái khoáy để chịu tiếng mang lời mà tất cả thần thái, trí lự, tư chất cuồng nộ hay phóng khoáng… đều được ông cụ chắt lọc, tải qua cái kênh hài hước dân gian, nó bình dị nhưng siêu phàm.

Bây giờ xin có đôi dòng về tiểu sử và ngôi làng cụ Tuyn. Cụ họ Nguyễn tên Tuyn, người làng Bích Giang, xã Cam Hiếu, huyện Cam Lộ. Sách “Văn học dân gian Quảng Trị” dẫn trên ghi ông cụ “sinh năm 1890, mất năm 1966?..”. Vì có dấu chấm hỏi trên nên khi gặp anh Thạnh và nhiều bô lão ở làng Bích Giang tôi hỏi khá kỹ về điều này. Theo đó thì ngày tháng năm sinh của cụ cần đính chính lại như sau: Cụ sinh vào tháng 3 năm Tân Hợi - 1911 và mất vào ngày 26 tháng 5 năm 1968. Ngày mất thì chính xác rồi vì đó là ngày húy kỵ của cụ hiện con cháu đang giỗ chạp, chỉ tiếc ngày sinh gia đình không nhớ chính xác vì khi bố mất anh Thạnh còn nhỏ, mẹ anh lại có một sơ suất nữa là ngày “mở cửa mả”, mệ đem hóa hết đồ dùng của cụ ông kèm cả giấy chứng minh thư. Nhiều vị cao niên trong làng khi luận bàn về tuổi tác của cụ rất khác thường. Sở dĩ ai cũng nhớ năm sinh vì cụ là người cùng tuổi với đại tướng Võ Nguyên Giáp. Các cụ cho rằng, xem trong số tử vi, mục “hạ nguyệt tầm can” thì những người có tuổi như cụ Tuyn là ruột con Dê. Tính cách con người ruột Dê (Dương trường) gói gọn trong mấy chữ: “Nhu thì nhu với còn cương, cương cùng!”. Các cụ còn rỉ tai nhau rằng, ai cầm tinh tuổi ấy thì “một thành quan, hai thành cướp”; đã thông minh thì thông minh tuyệt đỉnh, ngược lại nếu không phá gia chi tử thì cũng là “con ngài” coi trời bằng vung, ngông nghênh ngay từ thuở lọt lòng đến lúc xuôi tay. Nghiệm ra thì thấy cụ Tuyn gần như chứa đựng trong mình cả hai phẩm chất trái ngược ấy, thông minh, trí lự, yêu nước thương dân nhưng cái sự ngông của cụ thì có lẽ chẳng ai có thể sánh bằng!...

Cụ Tuyn ít học song thuộc lớp tân thời. Thời trai tráng ông cụ đi lính Pháp sang Lào. Thời chống Pháp cụ về sinh sống ở làng, hành nghề phù thủy, năng đi đây đi đó vì thích ngao du lãng tử. Bù lại Bích Giang là ngôi làng cổ kính, phong hóa. Làng có sáu họ, họ Hoàng là họ tiền khai khẩn đến Nguyễn nhất, Phan, Nguyễn tư, Nguyễn năm và Nguyễn sáu. Cụ là trưởng họ Nguyễn sáu nên ở làng quen gọi cụ bằng cái tên Trưởng sáu. Bích Giang cũng là đất học. Cụ Tú Uông, người cùng thời với cụ Tuyn dùi mài kinh sử, ứng thí nhiều phen đến nỗi thân phụ phải bán hết cả ruộng vườn, đồ thờ tự nhưng học tài thi phận, thi đến trường ba cũng chỉ đậu tú tài. Bà trưởng Hiếu vợ ông, người nâng khăn sửa túi, người phụ nữ thông minh tần tảo nuôi mộng ước cho chồng đỗ đạt vu quy khi nghe tin ấy bèn có thơ: Ai về nhắn với mẹ cha/ Mua trâu heo ai thì trả lại chớ trường ba hỏng rồi!... Câu thơ buồn, bi kịch, oái oăm chẳng khác gì cụ Tú Xương: Phen này tớ hỏng tớ đi ngay/ Giỗ tết từ đây nhớ lấy ngày!...Song cụ Tú Uông không “bất cần đời” mà nhập thế, ra nhận một chức quan là tri huyện Gio Linh. Chồng đi đã bảy ngày mà không thấy tin tức gì đưa về, bà trưởng Hiếu linh cảm có điềm không may tìm gặp Cụ Tuyn. Sau khi bấm độn, cụ Tuyn bảo: - Anh đi gặp cái giờ “không vong”, đúng là giờ không tốt. Trên đường đi đã bị nạn, hai đến ba hôm nữa thể xác, hồn phách anh có tại nhà!... Kiểm tra lại sách cổ “Lục nhâm đại độn” quả có sáu quẻ ấy thật! (Sáu quẻ gồm đại an, lưu linh, tốc hỷ, xích khẩu, tiểu cát và không vong). Kể ra điều này để hình dung, cụ Tuyn có rất nhiều tài, mà trên chỉ là cái tài bấm độn, một khía cạnh nhỏ của nghề phù thủy. Các bô lão trong vùng còn xác nhận thêm cụ còn là người giỏi võ và cũng là một tay cờ kết cao thủ.

Ngôi làng Bích Giang, quê hương cụ Tuyn tuy là vùng đất nông nghiệp, bán sơn địa nghèo nàn sỏi đá song người dân tin yêu sự sống. Qua giao tiếp, đa số người dân ở đây đều có đầu óc trào phúng. Ngoài truyện cười, một thứ đặc sản tinh thần đặc sệt phong vị dân gian của vùng đất, thì tiếng cười ở đây còn tiềm ẩn dồi dào phong phú từ trong ca dao, hò vè, truyện kể dân gian. Nó mát rượi như ngọn gió Nồm - Nam hai bờ sông Hiếu; nó bộc lộ tinh thần lạc quan và trí lực của vùng đất. Đâu phải dư ăn dư mặc mới cười, nghèo nàn mà vẫn cứ cười mới lạ! Có điều người nghèo thì giàu cái cười châm biếm, đả kích. Họ đả kích cái thói hà tiện hà khắc của quan lại phong kiến; châm chích ngay cả thói hư tật xấu của chính mình là người nông dân tay lấm chân bùn thật hóm hỉnh, trặm trịa, thấm thía… Tất cả đều được cụ Tuyn tiếp nhận và nâng cao, xin được dẫn ra đây một vài mô-típ phổ biến trong kho tàng ấy.

Việc cụ thường xuyên chống đối quan lại, trong dân gian có rất nhiều câu chuyện, ví như “Quan huyện mắc mưu ông hội tề” là một ví dụ. Quá nhiều lần quan huyện huy động các làng nộp tre làm hàng rào, cụ Tuyn bấy giờ làm hội tề muốn giúp dân làng mình ngầm chủ trương không nộp. Khi kiểm tra sổ thu thấy các làng trong xã đã nộp xong trừ làng Bích Giang chưa nộp cây nào, quan huyện gọi hội tề lên quát nạt: - Tại sao Bích Giang không nộp tre? Ông cụ thản nhiên: - Dạ tui nộp rồi! Không những nộp đủ mà còn cẩn thận đánh dấu đỏ vào từng bó nữa, mời quan ra coi. Nói rồi ông cụ dẫn quan huyện ra sân chỉ vào những bó tre ngày hôm trước đã lén phết sơn đỏ vào và ghi tắt hai chữ B.G. tên làng cụ... Biết được mưu mô của cụ thì đã muộn, quan huyện đành chịu thua. Cả làng Bích Giang không những thoát nạn mà còn hả hê cười cho đến tận bây giờ! ??c bi?t l? nh?ng c?u chuy?n c? ph?n kh?ng c?i tr?t t? g?i l? ?manh chi?u gi?a l?ng?, nh? chuy?nĐặc biệt là những câu chuyện cụ phản kháng cái trật tự gọi là “manh chiếu giữa làng”, như chuyện “Có văn rồi yết!”. Lệ thường mỗi khi tế lễ ở đình Trung, đầu hôm làng có bài văn gọi là “túc yết” để mời thần linh và ông bà về dự. Sáng sớm hôm sau vào lễ chính, làng có bài văn “đọc chúc”, tất cả đều phải viết ra trên sớ. Đêm ấy ông hội chủ, trưởng các họ tộc cùng ông văn lễ bày các chiếu cờ ra đánh, ham cờ mà bỏ qua việc viết sớ đọc chúc, thay vào đó bằng việc khấn trầm. Cụ Tuyn biết mà làm thinh. Đợi khi vào lễ, đại cỗ, tiểu cỗ vừa khởi động xong, ông hội chủ quỳ xuống khấn trầm cụ liền lên tiếng: - Thưa làng, phải đình tế lễ lại ngay! Cớ răng (vì sao) đầu hôm lễ túc yết có văn sớ mà sáng nay lễ chính không có văn? Ông hội chủ hội ý lần nữa với các bô lão, thống nhất khấn trầm nhưng ông cụ vẫn cứ cứng đầu: - Thưa chú bác, thưa làng! Ông hội chủ khấn trầm giữa đình Trung chú bác có ai nghe ông khấn như thế nào không? Vừa rồi giữa tui và ông có điều thắc mắc nên thưa làng, biết đâu ông hội chủ lấy việc khấn trầm để ông chưởi ông bà tui thì làng có biết không?... Trước lý lẽ thẳng băng của cụ, làng buộc phải đình lễ lại, có văn rồi yết!”. Cũng ở đình Trung, sáng mồng Một Tết nào ông hội chủ, sáu trưởng họ và các bô lão cũng đến thắp nhang nhà thờ họ Hoàng, họ khai khẩn và tuần tự năm họ kế tiếp. Cụ Tuyn chủ động đi đầu, tới nơi cụ cứ giơ cái dù đã sứt móc của mình móc lên móc xuống. Có người thấy vậy nhắc: - Ông Trưởng sáu, dù sứt móc rồi!... Bấy giờ cụ bèn lên tiếng: - À, à... Rứa chú bác cứ “móc đó” (mó đ.), còn dù tui gác đây!... Đó là câu chuyện “Móc dù”. Sáng mồng Một Tết mà bỡn cợt hoang hốt như rứa quả là không mấy người!.

Khi đang giữ cái chức gọi “làm xâu”, tức cái chân sai vặt ở làng, cụ cũng thường xuyên chơi khăm ông hội chủ làng. Một lần các bô lão sai ông qua mời ông hội chủ qua đình chủ tế vì lễ vật đã được “củ soát”, nhang khói đã lên đèn. Cụ Tuyn cứ thủng thẳng qua về, lần thì “thưa làng, đã vòng tay thưa ông hội chủ rồi ạ!”, lần thì “thưa làng, hội chủ đang mặc áo”... nghĩa là ông cứ vòng vo, tốn đến hai, ba chầu hương làng mới vào lễ. Lễ xong, biết tỏng tòng tong là mình phải bưng cái khay lễ vật “thừa thần chi huệ” của làng dành cho ông hội chủ sang tận nhà. Cả làng cúng có con heo, phần ông hội chủ cái đầu, khúc noọng và bộ lòng một thứ một ít nhưng rõ ràng là không được thiếu. Chính vì cái hủ tục phân phối quan liêu này mà phát sinh ra nhiều tệ nạn khác trong xã hội. Bất kỳ ông hội chủ làng nào đến đình làng cúng xong cũng đều khăn áo về nhà chờ cái anh làm xâu đội mâm lễ vật sang, chứ ngồi ở đình Trung thì “nhóp nhép” được mấy miếng! Cụ Tuyn nhận mâm lễ vật, đậy đằn cẩn thận, chè chén no say về nhà đánh một giấc. Chập choạng tối cụ mới khiêng mâm lễ vật qua nhà ông hội chủ ôm bụng kêu gào bụng dạ bất an, từ sáng ăn xong xôi thịt làng cúng tế đến giờ chưa hết đau. Ông hội tề nhìn mâm lễ mà cú, đầu noọng lòng mề chắc đã thiu, thằng xâu to khỏe ăn vào đã ôm bụng bò lăn bò lê thế kia... Thôi thì cho mày tất! Ngày mai mày rao cả làng họp để ông răn đe. Ai ngờ vừa nhận mâm lễ vật từ tay ông hội chủ, cụ xé thịt xơi gần hết cái đầu, rối rít cảm ơn rồi rút lẹ!... Đến cái việc cụ cự lại ông anh rể của mình cũng là chuyện xưa nay hiếm. Chưa rõ vì đâu đến tuổi 50 cụ mới lấy vợ. Bữa ấy họ hàng nhà vợ lo việc ma chay, cụ qua làm rể, ai nhờ việc gì làm việc nấy. Ma chay nhà vợ năm ấy tổ chức linh đình. Gia chủ chọn khắp trong vùng được sáu con heo đực ngoại cỡ, chọn xong không ai trói chúng lại được để khiêng về. Thằng rể là cụ Tuyn phương phi, thân ba tấc rộng lại giỏi võ nên ông anh vợ khoán hết việc này cho cụ. Cụ vui vẻ dẫn người đi bắt. Chỉ nửa buổi sáng, cụ cũng nhanh gọn trói gô sáu con lợn noọc kia về trong sự trầm trồ của họ hàng làng xóm. Sự việc chỉ đến đó thôi thì đã êm. Ai ngờ ông anh rể tầm thêm được một con đực ngoại cỡ nữa ở một làng xa. Anh rể tiếp tục gọi cụ ra “nhờ dượng” bắt thêm con nữa... Nghe đâu cụ Tuyn nổi đóa, gọi ông anh vợ ra sau vườn, tuột quần ra chỉ vào bộ hạ, ý nói là “C. tau đây nì!” và thẳng thừng tuyên bố: - Từ đây trở đi, tui cấm vợ con tui về ngoại. Không nội, không ngoại gì nữa hết, nha!...Không rõ về sau cụ có thực hiện lời thề trong lúc nổi giận ấy hay không. Chỉ biết khí phách và cái sự ngang tàng của cụ thì bất biến, bất cứ nơi nào cũng có thể xẩy ra được.              

Theo bước chân cụ ra đường, lại bắt gặp vô số giai thoại khác, ví như chuyện cụ “Chơi khăm bốt cảnh sát Đông Hà”. Cái bốt cảnh sát nổi tiếng nghiêm ngặt, ít ai dám lai vãng, có việc qua đây ít ai dám ngoái đầu nhìn vào vậy mà cụ Tuyn dám giở trò. Trước khi qua bốt, ông cụ gói sẵn phân người, đến nơi lẳng lặng ném chúng vào bốt rồi làm động tác giả tuột quần ngồi chòm hỏm ra vẻ thích lắm cái thú “... nhì ỉa đồng”. Tay cảnh sát đứng gác phát hiện tức giận quát nạt, kéo đạn lên nòng đòi bắt giam, bắn. Ông Tuyn đứng dậy: - Dạ thưa, tui cứ tưởng ở đây cũng “đi” được vì thấy trong bốt, ngoài bốt cũng có phân người... Viên cảnh sát nhìn quanh quả đúng, đành vuốt đuôi bằng mấy câu hăm dọa, còn ông cụ điềm nhiên sửa lại chiếc nón, tủm tỉm cười ra khỏi bốt, xuống chợ. Thời Pháp thuộc, ai sắm được chiếc xe đò tuyến Đông Hà - Huế, Đông Hà - Lao Bảo hay Đông Hà - Cam Lộ... đã là tầng lớp người có máu mặt trong xã hội rồi. Chiếc xe đò chạy tuyến Đông Hà - Cam Lộ bấy giờ là xe đò ông Đa, bến xe nằm ở Sân vận động bây giờ. Vậy mà cụ Tuyn không coi nhà “triệu phú” này ra gì mới lạ. “Cho tui xin lên Cam Hiếu” hay “Cho tui xuống xe” là những câu chuyện dân làng kể cho nhau nghe về sự kiện này. Ở chợ Đông Hà, gần trưa cụ đón xe đò lên Cam Lộ. Lên xe cụ xin xỏ, cố ý nói rõ với tài xế và hành khách cùng nghe: - Bác tài ơi, cho tui xin bác lên Cam Hiếu. Tài xế: - Dạ, mời bác tìm chỗ ngồi. Yên vị trên xe rồi, cụ còn xin anh lơ: - Anh lơ xe ơi, cho tui xin anh lên Cam Hiếu. - Dạ, sắp đến nơi bác báo cháu! Xe đến Cam Hiếu cụ xuống, tài phụ hỏi tiền, cụ trả lời tỉnh bơ: - Ơ... Tui không có tiền mới xin hai eng (anh) lên ngang Cam Hiếu, cả hai đều đồng ý cho đi răng chừ hỏi tiền, giá mà trong túi tui còn tiền, mắc chi tui dại đi xin... Lần ấy cả tài lẫn phụ chịu thua, còn hành khách trên xe được trận cười thỏa chí! Cũng xe đò ông Đa nhưng lần này ông cụ ngược chiều từ Cam Lộ về. Xe chạy ngang Km7, cụ giả đò ôm bụng đau quằn quại, kêu dừng xe cho đại tiện khẩn cấp. Xe dừng, cụ rẽ trái vờ vào phía lùm cây. Chờ mãi không thấy cụ ra, ông Đa bực bội bỏ cụ lại với câu chưởi thề: - Thôi đi, cho lão già này toi!... Ai ngờ từ chỗ cụ bảo “dừng xe cho ngộ lái” chỉ cách nhà cụ là làng Bích Giang chưa đầy 300 mét!... “Người mất hai đồng, kẻ mất ba!” cũng là giai thoại cụ chơi khăm bà bán hàng sành sứ chén đọi ngoa ngược chợ Phiên Cam Lộ. Vào chợ, cụ cầm cái bình đất lên săm soi tỳ vết khá kỹ càng rồi quay qua hỏi: - Bình ni mấy tiền? O bán hàng: - Năm đồng! Cụ dợm giá: - Hai đồng được không?  Nghe vậy o bán hàng chanh chua chì chiết: - Hai đồng! Mới được cái vòi! Cụ Tuyn ngây ngô đồng ý, rút trả hai đồng, bẻ cái vòi táp lự và trả lại o bán hàng cái bình sứt vòi. Giữa chợ, o kia lồng lên, bắt ông cụ vào Ủy ban xã Cam Thái (cạnh chợ Phiên) xét xử. Cụ đồng ý: - Ờ thì đi!... Gặp cụ, Ủy ban xã biết ngay là đã gặp một khách hàng tinh quái, khinh bạc đành phải xử hòa. Coi như trong vụ mua bán này người mất hai đồng, kẻ mất ba!...

Ở thời đại nào, lứa tuổi nào thì việc chọc ghẹo phụ nữ cũng là đề tài trung tâm, nhất là đối với những con người tài năng và hóm hỉnh. Nhiều câu chuyện cho thấy, trẻ cụ không tha, già cụ không buông. Ở làng Quật Xá có một cái giếng dành riêng cho phụ nữ tắm truồng vào những buổi chiều tà, những đêm trăng gió mát. Qua lại trong vùng cụ biết, quyết đùa một phen. Bẻ cành cây bên đường làm gậy, đội cái nón trụp mặt, cụ ông đi đứng như một lão mù, lần mò tới giếng. Đám con gái hỏi nhau: - Có ông nào mù đi lạc đường bay ơi!... - Dạ thưa, tui đi đường xa đang khát, tai nghe có tiếng gàu múc nước lần đến, xin mấy o miếng nước. Đám con gái tin ông cụ mù thật, khúc khích cười, múc nước đưa ông. Tay bưng gàu nước, uống vài ba ngụm cụ khà!..., tỏ ra rất khoái trá rồi khen: - Chà, nước giếng làng này mát quá, uống vào tui thấy sáng mắt ra… Đoạn ông mở mắt ra tỉnh queo hỏi: - Thì ra các bà các cô tắm truồng ấy à! Đám con gái bỏ chạy tóa lỏa.

Ở các làng, nhiều người biết tiếng tăm của cụ nhưng vẫn cứ muốn thử tài nghệ. Một lần thấy chị hàng xóm trật áo ngồi cho con bú hiên nhà bên, đám thanh niên bèn thách ông cụ nếu rờ được vú chị ta thì đãi chầu rượu. Cụ hưởng ứng ngay: - Ui dà, mấy eng (anh) để tui!... Cụ đi qua nhà nọ, xờ vô sân, xoa xoa vào đầu vỗ về đứa bé: - Ui dà dà, cháu bú ngon hè, ngon hè!... Thằng bé nhe răng cười, bắt chuyện. Tiện thể cụ lấy tay che núm vú lại và luôn mồm nói: - Ông không cho cháu bú nữa nghe! Không cho nữa nghe!... Những động tác sau cùng khẳng định rằng ông đã sờ được vú chị ta rồi. Phục tài ông sát đất, đám thanh niên trai tráng kia chỉ còn việc chiêu đãi ông ngay một chầu thịnh soạn…

Một hôm đi xa về cụ ghé vào cái quán bên đường ăn uống no say. Trời tối, quán thắp đèn dầu tù mù, bà chủ quán già mắt lem nhem nhìn khách không được rõ. Đoán chừng khách đã ăn xong vì ngồi đã lâu, bà đến gần ông hỏi: - Khách nào ăn xong thì gửi tiền cho tui. Ông Tuyn liền chỉ tay ra ngoài và nói: - Tui thấy một ông khách vừa mới đi ra hướng Tây. Nãy giờ tui đau răng có ăn uống chi mô! Bán tính bán nghi, bà cụ soi đèn nhìn kỹ quả thấy má ông sưng vù, bèn tin. Ông khỏi trả tiền thủng thẳng bước ra khỏi quán, vừa nhổ trái chanh trong miệng ra, vừa tủm tỉm cười…

Ngoài tài trí thông minh ra, cụ Tuyn còn là người ứng xử rất hoạt hay “nói lái” cũng là sở trường, là cách lập ngôn, một trong những mô-típ cười của cụ Tuyn được dân chúng lưu hành khá phổ biến. Những chuyện như “Xẩm xẩm rấm ai?”, “dà mạ” (nhà mẹ) cũng cháy nữa là “dà con” (dạ con)!”, “Cắt tóc kiểu hết trơn” v.v… đều là những câu chuyện cười ra nước mắt (sẽ trình bày thêm vào dịp khác).

* * *

Vừa trên tôi đã phác thảo chân dung và cái góc hài hước cụ Tuyn, tuy chỉ gói gọn. Không ai khác, cụ là một con người bình dị, bình thường như những nông dân chính hãng khác nhưng luôn ẩn chứa trong mình một sự bùng nổ. Ở con người này  luôn luôn thường trực, chứa đựng nội hàm của một động từ, động từ “phá”, không những “phá” mà còn “phách”, phá cái xiềng xích cũ thay vào đó cái mới. Thông qua những trò đùa dai dẳng như vậy, rõ ràng cụ đã công khai cười nhạo sự nghiêm túc trong thói tục đạo đức quy chuẩn gò bó của xã hội đương thời. Không là con người như thế, không thể với những cái chức vị nhỏ nhoi như là trưởng xâu (cái chân sai vặt), “Trưởng sáu” (trưởng cái họ cuối cùng ở làng) hoặc cao như hội tề (trưởng làng) hay đi lính Pháp sang tận bên Lào (cũng là một thứ đánh thuê)… mà cụ dám chống đối, phản kháng lại cái trật tự hủ lậu của quan lại thực dân phong kiến ở những manh chiếu giữa làng theo kiểu ấy được. Suy cho cùng, ở bất kỳ thời đại nào thì lịch sử cũng tìm cách sinh ra những con người ưu tú (cụ Tuyn xứng đáng là nghệ nhân ưu tú), những con người tài hoa đại diện cho thời đại của mình. Một khi đó là trí khôn, là sự lựa chọn của lịch sử thì không cá nhân nào bằng sự chủ quan cưỡng lại được. Tôi dám đồ rằng, vài trăm năm sau chưa dễ đã xuất hiện thêm một người như cụ Tuyn ở Cam Lộ, Quảng Trị; con người sinh ra để mang vác cái sứ mệnh sản sinh ra một thứ đặc sản tinh thần của vùng đất như thế thường xưa nay hiếm.

Và một khi sáng tác đã đi vào đời sống rộng lớn của nhân dân và được dân gian hóa thì có nghĩa nó đã được “vàng hóa” (chữ dùng của nhà văn Nguyễn Tuân). Ông cha ta dạy “lửa thử vàng” hay “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” trong trường hợp này quả là chí phải. Và, dù chỉ được trò chuyện cùng người con trai cụ Tuyn ngắn ngủi chưa đầy 30 phút, và sau khi đọc các tập thơ anh tặng (thơ tình thì bốc lửa từ lúc mới học đệ tam ở trường Nguyễn Hoàng; thơ châm sau này cũng ngang ngược sâu cay), thử hỏi con người cầm kỳ thi tửu như thế lẽ nào không mang trong mình dòng máu lãng tử, cái chất ngang tàng của ông cụ? Là bâng quơ hỏi anh Thạnh vậy thôi chứ bất kỳ ai trong thiên hạ cũng đành bó tay trước sự sắp đặt của tạo hóa mà thôi!

Bởi vậy, tuy có băn khoăn như đã nói đành xin phép cụ và hậu duệ cụ rằng, có gì không phải xin vong hồn cụ ở suối vàng và con cháu sum vầy trên dương gian lượng tình tha thứ. Và đó cũng là lý do để người viết có mấy lời gọi là “tôi xin đa tạ” trước với bạn đọc.

                                          Trại viết Cam Lộ tháng 11 năm 2016

                                                                                             Y.T


___________________
(Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 270, tháng 3 năm 2017)





Các bài viết cùng chủ đề

      
      
      
      
      
      
      
      
      
      

Giấy phép số 229/GP-TTĐT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 3 tháng 12 năm 2008
Tòa soạn: 128 Trần Hưng Đạo - Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị • E-mail: tapchicuaviet@gmail.com • Điện thoại: 053.3852458

Copyright © 2008 http://www.tapchicuaviet.com.vn - Thiết kế: Hồ Thanh Thọ • wWw.htt383.com