Tranh & Ảnh nghệ thuật
Giá sách Cửa Việt
Liên kết Website
Thống kê
Bài đăng : 9927
Người online: 31
Truy cập trong ngày: 34
Lượt truy cập
Giới thiệu Tạp chí số mới
Số 275 (8 - 2017)
Email chuyên mục
Email chung tapchicuaviet@gmail.com

Bút ký
camnhung1308@gmail.com
Truyện ngắn
hkzanh@gmail.com
Bút ký
camnhung1308@gmail.com
Thơ
nguyendieuai87@gmail.com
Văn hóa thời đại thuyliencuaviet@gmail.com
Người & Đất quê hương letrongthi79@gmail.com
Tranh - Ảnh Mỹ thuật htt383@gmail.com



Một số không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng của người Việt Quảng Trị
 Nguyễn Thị Nương

Quảng Trị - vùng đất nằm ở chính giữa khúc ruột miền Trung, lịch sử của vùng đất này luôn song hành với lịch sử của quốc gia dân tộc. Dưới thời phong kiến, đây là vùng đất gắn liền với quá trình phân chia cát cứ của các triều đại phong kiến, đồng thời cũng là vùng đất có ý nghĩa quan trọng trong quá trình mở mang bờ cõi về phía Nam của quốc gia Đại Việt. Sản sinh từ cái nôi văn hóa Đại Việt trên đất Bắc qua các cuộc di dân lẻ tẻ hoặc tập trung về phía Nam, văn hóa người Việt Quảng Trị bắt đầu hình thành từ thế kỷ XI nhưng đa phần các làng xã ở Quảng Trị đều được thành lập từ sau cuộc đại di dân dưới thời Hồ Quý Ly, Lê Thánh Tông (thế kỷ XIV - XV).

Người Việt từ đất Bắc khi vào định cư, sinh sống ở vùng đất Quảng Trị đã mang theo các yếu tố văn hóa làng truyền thống. Cùng với việc thiết lập làng xã trên vùng đất mới là các công trình mang tính chất tôn giáo, tín ngưỡng (đình làng, chùa làng, đền, miếu…) ra đời. Đây là những thiết chế cấu thành văn hóa làng. Những công trình này là những địa điểm linh thiêng, là nơi trú sở của các vị thần thánh đồng thời đây cũng chính là những không gian công phục vụ cho sinh hoạt văn hóa cộng đồng trong các làng quê ở Quảng Trị.

Không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng hay còn gọi là không gian công được hiểu là không gian sinh hoạt chung, thuộc về sở hữu tập thể, hiện diện vật chất ở làng, in dấu ấn sâu đậm trong tâm thức cộng đồng. Nó là không gian phản ánh một cách đậm nét chiều sâu văn hóa của mỗi làng quê xưa kia. Vì là di sản của tập thể nên từ không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng có thể đánh giá được diện mạo kinh tế, văn hóa của làng, mối quan hệ giữa các cá nhân trong làng, cũng như các cá nhân với tập thể làng. Qua quá trình nghiên cứu điền dã tại các làng quê trên vùng đất Quảng Trị, có thể nhận thấy rằng trong một làng luôn tồn tại nhiều lớp không gian thuộc về tập thể, cộng đồng. Về cơ bản, ở Quảng Trị có các không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng tiêu biểu gồm: đình; chùa; chợ; miếu và giếng làng.

1. Đình làng

Đình làng là một trong những thiết chế văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng, là tài sản quý báu của mỗi địa phương. Đình làng là một công trình công cộng chung của tập thể cộng đồng dân cư sinh sống trong một làng, nó được toàn thể dân làng góp công góp của xây dựng nên. Ngôi đình làng Việt không chỉ là cơ sở tín ngưỡng và nhà hành chính xã thôn thông thường mà chính là linh hồn của làng.

Về mặt không gian, đình gắn với làng là trung tâm sinh hoạt tinh thần của một làng. Đình là biểu tượng tập trung nhất của làng trên tất cả mọi phương diện. Trước hết, nó là một trung tâm hành chính, là nơi hội họp, nơi diễn ra mọi công việc quan trọng của làng… Đặc biệt dưới thời phong kiến đình làng còn là cơ quan đầu não của bộ máy chuyên chế làng xã, là cầu nối giữa làng và nước bàn bạc, giải quyết các công văn giấy tờ do triều đình hoặc cấp có thẩm quyền cao hơn ban xuống. Ngoài ra, đình làng cũng là nơi tổ chức các lễ xử phạt các thành viên trong làng vi phạm các quy định trong hương ước của làng hoặc giải quyết các bất hòa, mâu thuẫn trong nội bộ các thành viên. Đình cũng là trung tâm văn hóa, là nơi tổ chức các lễ tiết, hội hè, tiệc tùng, nơi biểu diễn văn nghệ truyền thống. Ngoài ra, đình còn là trung tâm tôn giáo tín ngưỡng, là không gian công quan trọng nhất, biểu trưng cho Nho giáo ở làng xã Việt Nam. Đình là nơi thờ Thành Hoàng - vị thần bảo hộ cho làng. Và cuối cùng đình cũng là điểm tựa, nơi bám víu tình cảm của mọi gia đình và các cá nhân thành viên trong làng, là một trong những chất keo kết dính tính cộng đồng, làng xã. Bởi thế, ngôi đình như một yếu tố hữu hình của văn hóa làng Việt.

Với lối kiến trúc rất riêng, đình làng của người Việt Quảng Trị thường được xây dựng ở các khu vực trung tâm, các trục đường giao thông, gần các chợ làng và các con sông như đình làng Bích La (xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong), đình làng Trâm Lý (xã Hải Quy, huyện Hải Lăng), đình làng Câu Nhi (xã Hải Tân, huyện Hải Lăng)… Bố trí không gian trong khu vực đình làng thường gồm có đình làng ở phía sau, phía trước là sân đình. Sân đình ngoài chức năng tạo ra sự bề thế nơi đây còn diễn ra các trò chơi dân gian cũng như những việc chung của cộng đồng làng.

Tóm lại, tùy theo từng làng, từng vùng và từng thời kỳ khác nhau nên chức năng và công dụng của đình làng cũng khá phong phú và đa dạng nhưng nhìn chung từ xưa đến nay, đình làng luôn được xem như là một ngôi nhà chung, nơi tổ chức mọi sinh hoạt tín ngưỡng, tinh thần cho cả làng. Tại đây mọi người được đối xử công bằng từ đó góp phần củng cố thêm tình đoàn kết, tinh thần tương thân tương ái của người dân trong cộng đồng làng. Nhờ sự gắn kết đó mà đình làng trở thành nơi chứa đựng nhiều kỷ niệm gắn bó và cũng là niềm tự hào đối với các thành viên trong làng.

2. Chùa làng

Chùa là không gian tôn giáo, văn hóa truyền thống lâu đời, biểu trưng cho Phật giáo (xen ghép tôn giáo dân gian thờ Mẫu) ở làng. Mặc dù Phật giáo hiện diện ở Việt Nam khoảng từ đầu thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên và đến thời Lý - Trần (thế kỷ XI - XIII) thì đã trở thành là quốc đạo. Tuy nhiên, tại vùng đất Quảng Trị thì sự truyền bá và phát triển của Phật giáo phải bắt đầu từ khoảng thế kỷ XIV - XV, khi cư dân Việt từ vùng đồng bằng Thanh - Nghệ di cư vào đây khai phá thành lập làng xóm.

Tạo lập giữa buổi phân thời sôi động, ở vào giai đoạn lịch sử mà vùng đất Đàng Trong vừa mới mở mang củng cố, các ngôi chùa làng ngay từ buổi đầu thành lập đã hội tụ trong mình đầy đủ các tính chất của giá trị nhân bản truyền thống và cả những ẩn tàng kỳ bí của một vùng đất mới khai lập, những ngôi chùa làng đã góp phần không nhỏ trong việc tạo nên sự cộng cảm, cộng đồng giữa các cư dân mới với bộ phận cư dân bản địa trên vùng đất Quảng Trị lúc bấy giờ.

Trong các thiết chế thờ tự của cộng đồng làng xã, nếu như ngôi đình làng là không gian chỉ dành cho nam giới làm việc và tế thần thì chùa làng lại là không gian hiền hòa và rộng mở cho tất cả mọi người. Các hoạt động sinh hoạt, tụng niệm, lễ bái cầu cúng ở chùa càng phù hợp với thiên hướng và tâm lý của người phụ nữ. Tất nhiên gắn bó với chùa làng gồm đủ hạng người trong làng từ nông dân, tiểu thương cho đến quan viên chức sắc. Người nghèo có thể đến chùa với một ít lễ bạc lòng thành, người khá giả có thể cúng dường nhiều hơn… nhưng tất cả hòa đồng trong một môi trường phụng thờ Phật, Thánh, tiên tổ chung của cộng đồng làng. Ngôi chùa làng ngoài chức năng làm thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ của người dân trong vùng còn có chức năng chủ yếu và hết sức quan trọng đó là nơi sinh hoạt tôn giáo của các tín đồ, là chốn tu hành của các nhà sư, là nơi dành cho mọi người đến quy y Tam Bảo để đến với cõi Phật. Chùa làng cũng chính là không gian linh thiêng, thanh tịnh giúp con người có thể tĩnh tâm hướng thiện, gạt bỏ những xô bồ, náo nhiệt của cuộc sống bên ngoài.

3. Chợ làng

Khi nhắc đến văn hóa làng quê thì không thể không nhắc đến chợ làng. Đây là nơi lưu giữ tổng thể những nét văn hóa cũng như tục lệ của người dân ở các làng quê truyền thống Quảng Trị.

Chợ làng là không gian công của thương mại làng mạc, dùng để buôn bán, trao đổi, lưu thông hàng hóa. Nhưng ngoài việc duy trì quan hệ buôn bán, không gian chợ còn là nơi duy trì hàng loạt mối quan hệ phức tạp khác đặc trưng cho chính trị, tôn giáo, tâm lý tập thể của người nông dân ở các làng quê. Do đó, chợ là không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng nhưng có hướng vươn ra ngoài lũy tre xanh, cổng làng để tạo thành mối liên hệ liên làng, siêu làng.

Thông qua hoạt động mua, bán, trao đổi thông tin mà chợ làng trở thành nơi mọi người ở các xóm làng khác nhau, có hoàn cảnh khác nhau tìm đến tiếng nói chung. Một phần đời sống của người dân quê được khắc họa và thể hiện qua cái chợ làng. Những câu chuyện hàng ngày của mỗi gia đình, mỗi người đều được thông tin qua cái chợ. Người làng đi chợ cũng là dịp để họ gặp nhau, hỏi thăm nhau. Hầu hết câu chuyện chỉ xoay quanh con trâu, mảnh ruộng hay vụ mùa của nhà nông. Đặc biệt, vào những ngày giáp Tết, chợ làng trở thành địa điểm để những người xa xứ có điều kiện gặp nhau. Người Việt Quảng Trị dù đi làm ăn ở khắp nơi trên đất nước, dù bận rộn đến đâu thì trong mỗi dịp Tết đến xuân về đều sắp xếp thời gian để được về quê ăn Tết. Người xa quê thích nhất được đi chợ Tết vì ở đó họ được mua những sản phẩm của người dân quê đồng thời họ được gặp gỡ bà con cô bác, bạn bè gần xa. Vì thế, chợ làng đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển văn hóa làng. Nó không chỉ tồn tại như một sự việc được tái hiện hàng ngày mà nó còn là một nét văn hóa được truyền từ đời này qua đời khác.

Ngày xưa chợ làng thường được hình thành ngay trước sân đình bởi vì đình thường được dựng ở các vị trí trung tâm, các trục đường giao thông có nhiều người qua lại hay gần các con sông, bởi dòng sông ngày xưa là mối giao thông quan trọng của người dân trong vùng. Khi chợ đã hình thành thì chợ không chỉ đơn thuần là quan hệ mua bán đơn giản mà mọi người đến chợ cốt để cầu lộc, cầu phúc cho dòng họ, gia đình, bản thân và còn trò chuyện, hàn huyên với nhau; trai gái đi chợ để hẹn hò, giao duyên... thấm đậm tình tương thân tương ái. Mối quan hệ này được thể hiện cụ thể, rõ ràng nhất qua phiên chợ đình Bích La đêm mồng 2 rạng sáng ngày mồng 3 Tết Âm lịch hàng năm. Trải qua thời gian, chợ làng đã trở thành một hình ảnh không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của cư dân làng xã.

4. Miếu làng

Miếu là không gian thờ nhiên thần hoặc nhân thần trong làng, thuộc về tín ngưỡng bản địa, vật linh đa thần Việt Nam. Ở Quảng Trị, hệ thống miếu khá phong phú và đa dạng như miếu Bà Chúa Ngọc, miếu Nghè Phương Sơn, miếu Trảo Trảo Phu Nhân… Miếu là nơi người dân lui tới để cầu nguyện thần thánh phù hộ độ trì cho họ trong cuộc sống, là nơi giải tỏa tâm lý cho người dân khi họ cảm thấy bất an... Vì vậy, miếu trở thành chốn linh thiêng của cộng đồng làng xã.

Miếu gắn với tín ngưỡng của người dân do đó nó có vai trò là liên kết tinh thần giữa những người có cùng một niềm tin vào các vị thần thánh, người ta có thể liên kết với nhau đôi lúc rất chặt chẽ trên nhiều phương diện ngay cả khi họ không cùng ý thức chính trị. Bởi vì, bản thân tín ngưỡng này đã có sức mạnh cố kết tinh thần mạnh mẽ. Sự cố kết ấy được nâng lên nhờ sự “linh thiêng” của các vị thần được thờ trong các ngôi miếu. Trên thực tế, khi một ai đó bước chân vào những nơi thờ tự họ đều nghĩ rằng đây là chốn linh thiêng. Cho nên, tín ngưỡng có thể khơi dậy tính lương thiện và bản chất chân thành của con người vì họ muốn thể hiện sự tốt đẹp của mình trước những vị thần linh.

5. Giếng làng

Trong tổ chức làng xã của người Việt Nam nói chung, người Việt Quảng Trị nói riêng thì giếng làng đã trở nên thiết yếu đối với cộng đồng cư dân địa phương. Cùng với cây đa và sân đình, giếng nước thân thuộc với mọi người sinh ra và lớn lên tại đó.

Giếng làng là tên cái giếng duy nhất của một làng nhưng cũng có thể là cái tên chỉ chung nhất của nhiều cái giếng cụ thể khác ở trong địa phận của làng.

Giếng làng thường có vị trí trung tâm ở làng, nằm trong quần thể kiến trúc đình, chùa…, cũng có khi nằm độc lập. Ngày xưa giếng làng không chỉ là nơi cung cấp nguồn nước sinh hoạt cho dân làng mà không gian giếng làng đã trở thành không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng của dân làng. Giếng làng là nơi các cụ già thường ngồi chơi, ngắm cảnh, hóng mát, trò chuyện về mùa màng, đình đám và cả chuyện nhân tình thế thái gần xa. Đây cũng là không gian chơi đùa của trẻ nhỏ, chiều mát thường rủ nhau ra chơi đùa, đánh cù, đánh đáo, thả diều quanh giếng làng… Giếng làng cũng là không gian dành cho các đôi trai gái trong những đêm trăng thanh gió mát hoặc là nơi các mẹ, các chị trao đổi những câu chuyện đời thường với nhau khi tụ tập để lấy nước hoặc giặt giũ… Nhiều giếng làng lại ở vị trí bên gốc đa, cạnh đình, chùa đã góp phần làm nên một không gian văn hóa có sức hấp dẫn đặc biệt đối với tất cả mọi người dân trong làng.

Có thể nói, không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng của người Việt Quảng Trị trong các làng quê truyền thống không chỉ đơn thuần là nơi cư trú mà còn là nơi thể hiện những đặc trưng văn hóa, kinh tế, chính trị, tôn giáo, tập tính của người nông dân ở làng quê. Điều này tương thích với nhận định của các nhà nghiên cứu văn hóa về mẫu người văn hóa làng xã là mẫu người của cộng đồng; còn làng xã là một khối cộng đồng tập thể, tồn tại khá lâu đời trong lịch sử.

Ngày nay, với nhịp sống của thời kỳ hội nhập quốc tế, trước sự giao lưu, đan xen văn hóa mạnh mẽ đã và đang làm biến đổi sâu sắc cấu trúc không gian làng xã từ trong gốc rễ, nhiều không gian làng chuyển thành không gian phố, với đặc tính giảm dần không gian công mà gia tăng không gian tư. Mặc dù phát triển là một xu thế tất yếu của thời đại, tuy nhiên cũng rất cần thiết việc quy hoạch để đạt tới một sự quân bình của việc duy trì không gian sinh hoạt chung nhằm tạo tinh thần cố kết cộng đồng, góp phần gìn giữ những giá trị văn hóa làng tốt đẹp của người Việt Nam nói chung, người Việt Quảng Trị nói riêng, đó chính là cách kết nối bền vững giữa quá khứ, hiện tại và tương lai.

N.T.N


___________________
(Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 273, tháng 6 năm 2017)





Các bài viết cùng chủ đề

      
      
      
      
      
      
      
      
      
      

Giấy phép số 229/GP-TTĐT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 3 tháng 12 năm 2008
Tòa soạn: 128 Trần Hưng Đạo - Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị • E-mail: tapchicuaviet@gmail.com • Điện thoại: 053.3852458

Copyright © 2008 http://www.tapchicuaviet.com.vn - Thiết kế: Hồ Thanh Thọ • wWw.htt383.com