Tranh & Ảnh nghệ thuật
Giá sách Cửa Việt
Liên kết Website
Thống kê
Bài đăng : 10012
Người online: 57
Truy cập trong ngày: 60
Lượt truy cập
Giới thiệu Tạp chí số mới
Số 277 (10 - 2017)
Email chuyên mục
Email chung tapchicuaviet@gmail.com

Bút ký
camnhung1308@gmail.com
Truyện ngắn
hkzanh@gmail.com
Thơ
nguyendieuai87@gmail.com
Văn hóa thời đại thuyliencuaviet@gmail.com
Người & Đất quê hương letrongthi79@gmail.com
Tranh - Ảnh Mỹ thuật htt383@gmail.com



Từ con đường mòn đến đường xuyên Á
 Phạm Xuân Dũng

Một nhà nghiên cứu khái quát khá thú vị, rằng: “Con đường 9 là con đường công cụ, con đường muối từ Đông sang Tây, con đường hương liệu theo chiều ngược lại. Nó cũng là con đường nối miền xuôi với miền ngược; nối biển, đồng bằng với miền núi; nối Kẻ Biển, Kẻ Ruộng, Kẻ Chợ với Kẻ Mọi; nối đồng bào người Chăm, người Kinh miền xuôi với đồng bào dân tộc thiểu số miền núi Quảng Trị”.

Khởi thủy con đường 9 không phải xuất phát từ Đông Hà mà từ Ngã Tư Sòng thuộc huyện Cam Lộ, nay giáp với Đông Hà, ấy là con đường thượng đạo xuyên sơn. Thuở xưa nó chỉ là con đường mòn, chủ yếu dành cho người đi bộ lên vùng thượng du Cam Lộ như cách gọi của Lê Quý Đôn, rồi đi tiếp sang tận nước Ai Lao (Lào). Chính nhờ vị thế con đường thượng đạo xuyên sơn chạy dọc theo con sông Hiếu mà một thời đã tạo nên chợ Phiên Cam Lộ nổi tiếng một tháng sáu phiên: mồng 3, mồng 8, 13, 18, 23, 28 Âm lịch. Nơi đây ngày xưa từng được mệnh danh là “Tiểu Trường An” với câu hò vang vọng: “Đò về bến Đuồi bùi ngùi nhớ cảnh/ Chạnh tâm tình nhớ núi Lãnh, sông Hương”. Bến Đuồi ngay sát chợ Phiên, còn núi Lãnh chính là núi Mai Lĩnh (Quảng Trị), còn sông Hương xứ Huế thì được thông thương bằng sông đào Vĩnh Định dưới thời nhà Nguyễn, nối kinh sư với Quảng Trị bằng sông Thạch Hãn và sông Hiếu. Hàng hóa từ kinh kỳ có mặt tại chợ Phiên Cam Lộ theo đường thủy, rồi lên với miền ngược theo con đường tiền thân quốc lộ 9 bây giờ.

Cách đây hàng trăm năm, chợ Phiên Cam Lộ không chỉ có tiếng ở miền Trung với vai trò đầu mối nội thương mà còn là một trung tâm ngoại thương tấp nập trên bến dưới thuyền. Tàu bè Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha… từ Cửa Việt lên chợ Phiên mua bán, rồi voi từ xứ Ai Lao thồ lâm đặc sản như trầm hương, ngà voi xuôi theo con đường xuyên sơn về trao đổi hàng hóa. Nhà bác học Lê Quý Đôn đã miêu tả trong Phủ biên tạp lục: “Hai bên tả hữu phía trên sông Hữu Giang dân các động sách ở, cày cấy chăn nuôi rất nhiều, người buôn ở các xã thường mang muối, mắm, cá khô, đồ sắt, nồi đồng, thoi bạc, hoa xuyến, đồ lặt vặt, đến đất người Man đổi lấy các hàng hóa: thóc, gạo, gà, trâu, gai, sáp, mây, gió, vải man, màn man, thuê voi chở về Cam Lộ. Người Man cũng có lấy voi chở hàng hóa xuống chợ Cam Lộ để bán, một con voi chở được 30 gánh, mỗi gánh được 20 bát. Cũng có một phiên chợ lùa trâu đến 300 con để bán, giá một con trâu không quá 10 quan, giá một con voi chỉ hai hốt bạc và một khẩu súng nhỏ”. Ông còn nhắc đến Tuần Ba Giăng còn gọi là Sở Tuần hay đồn Hiếu Giang, một nơi triều đình lập ra thu thuế buôn bán ngày xưa. Vậy thì truyền thống nội thương và cả ngoại thương của Quảng Trị đã có từ khá sớm và rất đáng tự hào dù chỉ dựa vào một con đường mòn xuyên Á và mấy con sông.

Người Pháp cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX khi khai thác Đông Dương đã chú trọng đến giao thông và chính họ đã khai sáng con đường 9 dù mục đích ban đầu vì lợi ích thực dân của chính quốc, chính vì vậy lúc mới khai sinh còn có tên là Con đường thuộc địa số 9. Điểm đầu tiên của đường 9 chấm trên bản đồ thuộc làng Tây Trì, phường 1, Đông Hà ngày nay, nơi gặp gỡ giữa Quốc lộ 9 và Quốc lộ 1A nên còn được gọi là Ngã ba Đông Dương. Đường 9 băng qua làng Đông Hà (phường 3 ngày nay) lên gần chợ Phiên Cam Lộ thì gặp mặt con đường mòn thượng đạo xuyên sơn rồi nhập làm một chạy thẳng một mạch đến biên giới Việt - Lào. Ngay tại điểm khởi đầu đường 9, đầu thế kỷ trước, người Pháp cho xây dựng ga Đông Hà phục vụ cho con đường sắt Bắc - Nam. Chính nhà văn Nguyễn Tuân, người luôn muốn “trước bạ đời mình vào những địa dư trên trái đất”, đã từng viết về những chuyến đi khi đến Đông Hà, xuất phát điểm của con đường số 9 bằng đủ các phương tiện giao thông lúc bấy giờ: “Tôi đi bằng tàu lửa, tôi đi bằng tàu biển, tôi đi bằng ô tô hàng”. Đường 9 lúc Pháp mới mở còn khá thô sơ, đường hẹp khoảng hai mét rưỡi đến ba mét rưỡi, độ dốc lớn, chủ yếu vẫn dành cho người đi bộ và một số ít xe đò, xe nhà binh.

Chuyện làm con đường 9 cũng lắm đau thương. Ngày xưa ngược lên phía tây Quảng Trị là chốn rừng thiêng nước độc, không chết vì lao lực, đòn roi thì cũng chết vì sốt rét. Tình cảnh ấy đã rơi lệ vào những câu vè than thân của phu lục lộ: “Hai hàng nước mắt nhỏ tuôn/ Cả năm phủ huyện lên nguồn, trời ơi/ Cực chi da diết hỡi trời/ Ai không có chiếu trải tơi mà nằm”. Theo ông Lê Văn Đen, một trong những phu làm đường vào năm 1940 nay đã 90 tuổi, trú tại thôn Cam Phú, xã Cam Thành, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị: “Thời Pháp thuộc làm con đường 9 từ Đông Hà sang Lào dân mình cũng khổ lắm. Mỗi thôn phải cử ra năm, sáu người đi làm phu, làm từ sáng đến tối, làm cả tuần, cả tháng, cả năm, chủ yếu làm bằng tay, người đào đất, kẻ gánh đất. Người lớn làm đường hay bị đánh đập. Hồi đường mới làm sơ khai nhiều đoạn bề ngang khoảng chừng hai mét thôi, về sau mở rộng dần”.

Trong kháng chiến chống Pháp có một sự kiện đáng nhớ, đó là sự ra đời của một đơn vị quân đội đặc biệt, gọi là “Biệt động đội đường số 9” do nhà văn, nhà báo, nhà lý luận phê bình Hồng Chương người Quảng Trị tham gia chỉ huy. Đơn vị này đã đánh nhiều trận từ Khe Sanh, Rào Quán về Đầu Mầu rồi Đèo Đá, Cầu Đuồi (Cam Lộ). Vừa đánh giặc vừa sáng tác thơ văn, Hồng Chương cho ra đời một bài thơ dài với những câu thơ mang âm hưởng tráng ca hào sảng trong khói lửa đường 9 một thời kháng Pháp: “Thuở đất nước mịt mù khói đạn/ Thân nam nhi dày dạn phong sương/ Tuốt gươm cắp súng lên đường/ Âm thầm chính khí, hào hùng nước non/ Xót quốc biển gia vong lắm lúc/ Tím bầm gan sùng sục uất đầy/ Vứt đe, quẳng bút, xếp cày/ Đoàn quân biệt động từ nay ra đời/ Người chiến sĩ ra nơi chiến đấu/ Gót rỗ nhăng in dấu hành binh/ Sẹo ghi từng trận chiến chinh/ Mắt hoe lửa giận, trán khinh hiểm nghèo…”.

Bây giờ, sau lưng nhà ông Lê Văn Đen là con đường 9 do Pháp xây dựng, còn trước mặt nhà lại con đường 9 được người Mỹ cấp tốc làm nên vào năm 1971. Hay nếu ai dừng chân ở cầu Đầu Mầu sẽ thấy có đến ba chiếc cầu chính thức mang bóng dáng lịch sử: một do Pháp xây, một do Mỹ xây và một (đúng ra được xây hai lần) do Nhà nước ta xây sau ngày thống nhất.

Lê Quý Đôn viết rằng: Từ xã Cam Lộ (đoạn chợ Phiên) lên Tuần Ba Giăng phải đi hết một ngày đường, đủ biết con đường mòn băng qua núi rừng quanh co, hiểm trở. Thời Pháp thuộc, bà con vùng này còn đi bộ về chợ Phiên, đi từ khi trời chưa sáng, đi cả đoàn nối nhau đòn xóc chỉa lên trời để tránh bị cọp vồ. Thời bao cấp sau năm 1975 vẫn có những đoàn người rồng rắn đi phiên. Nay sau xuất phát chỉ cần chưa đầy mười phút, ô tô đã đến nơi thong thả, đâu cần đợi cả ngày trời.

Có một con đường mòn đã thành đường Xuyên Á, đi từ quá khứ đến tương lai.

P.X.D


___________________
(Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 273, tháng 6 năm 2017)





Các bài viết cùng chủ đề

      
      
      
      
      
      
      
      
      
      

Giấy phép số 229/GP-TTĐT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 3 tháng 12 năm 2008
Tòa soạn: 128 Trần Hưng Đạo - Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị • E-mail: tapchicuaviet@gmail.com • Điện thoại: 053.3852458

Copyright © 2008 http://www.tapchicuaviet.com.vn - Thiết kế: Hồ Thanh Thọ • wWw.htt383.com