Tranh & Ảnh nghệ thuật
Giá sách Cửa Việt
Liên kết Website
Thống kê
Bài đăng : 10058
Người online: 42
Truy cập trong ngày: 82
Lượt truy cập
Giới thiệu Tạp chí số mới
Số 278 (11 - 2017)
Thông tin Tòa soạn
Tổng biên tập

Thùy Liên

Thư ký Tòa soạn

Hoàng Công Danh

Trưởng ban Trị sự

Thanh Thọ

Ban biên tập

Lê Thi

Cẩm Nhung




Lời thề đồng đội
 Lê Bá Dương

Trong trận chiến đấu khốc liệt một thời chiến tranh giải phóng, mỗi khi gạt nước mắt chôn cất di hài đồng đội vào góc rừng, hay góp nhặt từng mảnh di hài đồng đội đưa vào lòng đất chiến trường, những người lính chúng tôi vẫn tự thề với lòng mình rằng: Sau ngày miền Nam giải phóng, đất nước hoà bình, chúng tôi sẽ trở lại tìm đưa các đồng đội về với gia đình, quê hương!

Vâng, chính xác đó là lời thề đồng đội, hoàn toàn không viết thành văn, thốt nên lời mà thiêng liêng hơn thế khi nó được chạm khắc vào lòng những người lính, để rồi, dẫu cuộc chiến đã đi qua, nhưng lời thề đó vẫn ở lại theo dọc cuộc đời mỗi người lính, vĩnh viễn khôn nguôi.

Lời thề đồng đội! Đó là một chiều cuối năm 1968, bảy người lính trinh sát vừa vượt từ khu bảy nhà vào bãi Cù Đinh, dưới chân cao điểm 544 thì bị trúng bom toạ độ, cướp đi một lúc năm đồng đội của chúng tôi. Nhiệm vụ chưa tròn, hai người lính còn lại đành bê đá suối, xếp thành mồ chôn đồng đội rồi tiếp tục vượt sâu vào Nam đường 9. Hết chiến dịch quay ra. Sau một tuần mưa núi, cả năm ngôi mộ xếp bằng đá đã bị trận lũ quét tràn qua cuốn theo di hài các đồng đội thân yêu.

Lời thề đồng đội! Đó là một đêm tháng 6 năm 1969, vừa tập kết về khu kiềng sườn bắc 333, bỗng bất ngờ một loạt bom B52 trùm thẳng vào đội hình. Phần phật và rát rạt như cơn lốc cuốn, khói bụi ken đặc quánh. Vừa ngớt, cả đại đội 67 người lính, chỉ còn nguyên tiểu đội tôi vỏn vẹn sáu người lính và đồng chí Đại đội phó Hoàng Xuân Lục. Bảy người lính, mười bốn đôi mắt trân trối, bất lực nhìn thân xác mềm oặt, nhợt nhạt của chính trị viên Hồ Sỹ Xoan đang lịm nhanh giữa một vùng loang đỏ thân xác các đồng đội. Dường như không chịu đựng được sự căng thẳng đến tột cùng, sau vài vòng đảo người chạy lên chạy xuống sườn cao điểm, Hoàng Xuân Lục đổ gục xuống. Và đêm đó, trong vàng vọt ánh pháo sáng từ chiếc A130 quần đảo trên không, sáu người lính, mười hai bàn tay cào đến bật máu cho đến sáng cũng chỉ gom góp được chưa đầy 10 ba lô hình hài các đồng đội chúng tôi.

Lời thề đồng đội! Đó là đêm vượt sông đánh vào bốt Lương Mai. Mới ra quãng giữa sông, cả đội hình đại đội bỗng phơi dưới dàn pháo sáng. Và từ phía bờ nam, đạn các cỡ từ phía địch bắn rát rạt. Đành để lại những đồng đội chìm khuất trong lòng sông, cả đại đội bươn bả vừa nổ súng vừa dấn thẳng về phía mục tiêu để giành về phía mình trận thắng, một trận thắng mà khi giáp bờ bên kia, cả đại đội hơn trăm người lính chỉ còn ngót một phần ba. Trận chiến cứ vậy phát triển vào sâu, để lại hơn nửa đội hình đồng đội tôi hóa vào dòng sông nước Quảng Trị.

Lời thề đồng đội! Đó là năm năm, mười năm, ba mươi, bốn mươi… và bốn mươi lăm năm, khi ngoảnh lại với lời thề sinh tử, dầm dã trận mạc dẫu cố gắng đến tột cùng trong cuộc kiếm tìm, dẫu đã mang hết tâm nguyện lần từng thước đất bờ khe nhưng ngoài một phần xương cốt của anh em đồng đội trong số những liệt sĩ còn nguyên di hài khi hi sinh được tìm thấy và đưa về các nghĩa trang Quảng Trị hoặc quê nhà. Còn lại vô vàn những đồng đội đã hóa tan thân xác vào với đất, với nước chiến trường xưa, hơn ai hết, những người lính đi ra từ một thời trận mạc lại cắn răng, bấm lòng mà trân trối một điều có thật rằng: Dẫu cố gắng đến tận cùng, thì việc đưa hết các đồng đội về với quê hương thật sự khó khăn và là điều không thể.

Lời thề đồng đội! Là đau đáu đắp đầy thành một lời nguyền: Không đưa được đồng đội về với gia đình quê hương, thì mang quê hương vào cho đồng đội! Để rồi 253 người lính một thời “Ra đi từ thuở còn xanh/ Ngày về tóc đã hoá thành khói sương”, người trẻ nhất cũng đã 58, già nhất cũng đã ngót 70 của Trung đoàn 27 Triệu Hải (Sư đoàn 390 Binh đoàn Quyết Thắng) cùng các đồng đội các đơn vị thuộc mặt trận B5 từng chiến đấu trên chiến trường đường 9 - Bắc Quảng Trị, hiện đang sinh sống tại các địa phương trong cả nước đã phối hợp với các đồng đội mặt trận Gio - Cam Quảng Trị tổ chức cuộc hành hương đầu tiên “Ấm rừng đồng đội” vào tháng 4 năm 2009. Về thăm lại chiến trường xưa, tìm đến những địa danh từng trực tiếp chiến đấu ở các huyện Gio - Cam - Hà, Triệu - Hải, Thành Cổ Quảng Trị... nơi từng là bãi sa trường bời bời khói lửa để tự tay mình hương khói, đem hơi ấm của chính mình và các thân nhân liệt sỹ làm ấm nơi các đồng đội thân yêu nằm lại nơi đầu suối cuối đồi.

Cứ vậy, khởi từ cuộc hành hương đầu tiên với tinh thần tự nguyện và tự túc của 253 người lính và 21 thân nhân liệt sỹ, trong đó người lính “già” nhất đã 79 tuổi; đến lần thứ hai vào dịp 27 - 7 - 2010 với 443 thành viên, 43 thân nhân liệt sỹ; tiếp cuộc thứ ba vào tháng 4 năm 2012 với 684 thành viên, thêm 51 thân nhân liệt sỹ; cuộc hành hương thứ tư với 518 thành viên, cùng 42 thân nhân liệt sỹ vào dịp 40 năm ngày hội thống nhất non sông 30 - 4 - 2015. Và cuộc hành hương thứ năm nhân kỷ niệm 45 năm ngày giải phóng Quảng Trị, 42 năm ngày hội thống nhất non sông (30 - 4 - 2017) với 527 đồng đội và thân nhân liệt sỹ tham gia.

Chính trong không gian của những chuyến “Đưa quê hương vào cho đồng đội” đó là không gian để lời thề đồng đội cứ dội lên từ lồng ngực những người lính một thời sinh tử, với không kể hết những chuyện cảm động chỉ có thể có được từ cuộc hội ngộ của những người lính già sau hơn bốn mươi năm bỗng dưng cùng lúc gặp nhau giữa cánh rừng chiến trường xưa. Là thương binh Đào Trọng Hòa, bên mộ đồng đội nghẹn ngào: “Một tay để lại chiến trường/ Một tay còn lại thắp hương cho mày/ Mày còn nằm lại nơi này/ Tao còn một mắt, khóc mày mãi thôi”. Là giữa cánh rừng xưa, hai người lính già góp mỗi người một chân còn lại mới đủ hai chân mà đứng với nhau. Là hai người lính già, dùng mỗi người một tay còn lại, nối với nhau thành một vòng ôm ngày gặp lại. Là hai mái đầu bạc trắng chụm vào nhau, rung trên hai bờ vai gầy thảng thốt lời sương khói “mày tao”. Là đêm giao lưu giữa cánh rừng nơi chiến địa xưa, con gái một liệt sỹ hai tay nâng di ảnh người cha mà nghẹn ngào: “Có ai biết bố cháu nằm ở đâu không?”. Dẫu rằng trước hàng trăm người lính từng đi ra từ cửa tử, cựu chiến binh Trần Kiệm, Nguyễn Xuân Quy (Quảng Trị) khan giọng đọc xen cuộc giao lưu những tin nhắn tìm thông tin liệt sỹ.

Chợt trong một khoảnh khắc rừng Hồ Khê, nơi dựng bia ghi danh liệt sỹ do vợ chồng đồng đội Nguyễn Minh Kỳ phát nguyện xây dựng giữa cánh rừng, giăng mắc hơn 800 chiếc võng của 684 thành viên đoàn hành hương, hơn 200 cựu chiến binh và đoàn viên thanh niên địa phương. Chị Nguyễn Thị Lý 74 tuổi (vợ liệt sỹ Ngô Đức Hạt, một trong số 13 đồng đội tan hòa thân xác trong đất rừng Hồ Khê, chỉ còn lại dòng tên trong bia ghi danh 13 liệt sỹ) và gia đình dù được các cựu chiến binh trong đoàn tặng đủ võng, nhưng chỉ trải võng, bạt xuống đất nằm để như chị Lý nói: Võng để nơi khác sẽ mắc theo anh em còn chỗ này, xin cho được trải nằm dưới đất cho gần với anh ấy!

Lời thề đồng đội! Là cánh rừng Tân Lâm sáng ngày 28 - 4 - 2017. Hơn 500 người lính và thân nhân liệt sỹ tự làm ấm cả cánh rừng từng là chiến địa xưa. Khi hơn 500 chiếc võng được giăng mắc, mỗi cựu chiến binh nhận hai bánh lương khô 702 và suất cơm thời chiến là ký ức một thời binh lửa ùa về. Đâu đó giữa những cụm anh chị em cựu chiến binh đang hồn nhiên với những ca khúc thời chiến là tiếng một cựu chiến binh già rành rọt từng lời bài hát “Chiến công đền đáp ơn người” - một ca khúc do cựu chiến binh lão thành Ngô Minh Hớn sáng tác từ giữa năm 1969 nói về trận tiêu diệt một đơn vị xe tăng địch ngay chính địa bàn kế cận cánh rừng đoàn hành hương giăng võng. Trong ca khúc nhắc lại chi tiết những người lính ăn vội vàng nửa bánh lương khô rồi xốc súng vào trận với lời hẹn: “Miếng lương khô xin để dành một nửa/ Để chờ khi thắng trận trở về ...” Chỉ vậy, những người lính một thời trận mạc nay trở lại rừng xưa bỗng không ai bảo ai từng cụm tự động trải bạt, bày cơm với suất lương khô, chai nước, thắp hương mời đồng đội về cùng dùng bữa cơm gợi nhớ cái đêm nhiều những người lính sau trận thắng, đã không còn trở về với bánh lương khô dành lại. Tất cả nghẹn ngào với bữa cơm rừng chan trong nước mắt ngày về với day dứt lời thề đồng đội!

Lời thề đồng đội! Là đêm Thạch Hãn với nghi lễ “Hòa đất nước quê hương vào lòng Thạch Hãn” vốn là điểm nhấn và là nghi thức truyền thống của cuộc hành hương “Đưa quê hương vào cho đồng đội”. Cũng như những nghi lễ trong cuộc hành hương trước, nghi lễ nhập thổ, nhập thủy ngoài đất nước ba miền, hũ đất từ nền Hoàng thành Thăng Long xưa, bình nước Hồ Gươm tượng trưng cho đất, nước miền châu thổ sông Hồng Bắc Bộ, đến hũ đất thỉnh từ núi Chung, bình nước sông Lam quê Bác hội tụ tinh khí miền Trung và không thiếu hũ đất thỉnh từ 18 thôn vườn trầu, nước sông bến được tựu trung mạch miền quê Nam Bộ… Đại diện các đoàn hành hương và thân nhân liệt sỹ từ các tỉnh thành cả nước lần lượt tự mình chuyền đất và nước thỉnh từ các tỉnh thành. Từ nắm đất thiêng núi Nghĩa Lĩnh, Phú Thọ; nắm đất trên đồi A1; hũ nước sông Nậm Rốm Điện Biên; nước sông Kinh Thầy Hải Dương; chút gạo thơm, muối mặn Diêm Điền Thái Bình; bình nước sông Nhật Lệ - lấy ngay bến đò mẹ Suốt từng chở quân vào Nam của đoàn Quảng Bình... Tất cả đất và nước tinh khiết của quê hương sau lễ nhập thổ, nhập thủy đã theo bước đoàn hành hương, cẩn trọng được đưa vào dòng Thạch Hãn, nơi đồng đội yên nằm. Những mong Đất và Nước của nhiều miền quê cả nước hóa vào lòng các dòng sông quê nơi các đồng đội đang yên nằm với sâu lắng tình đồng đội, nghĩa đồng bào qua chút đất nước quê nhà được hòa trong ấm áp nghĩa tình đồng bào chiến sĩ Quảng Trị, như thể quê hương vẫn luôn gần gũi, ấm áp bên mình.

Lời thề đồng đội! Là câu chuyện về cựu chiến binh Nguyễn Hữu Nghị, thay cho phần tạm kết bài viết mùa tri ân tháng Bảy này. Có mặt từ cuộc hành hương đầu tiên (tháng 4 - 2009) khi đã 80 tuổi. Tại cánh rừng Hồ Khê năm ấy, với tư cách cựu y tá, người từng băng bó cho hàng trăm đồng đội, cũng là người chứng kiến không ít đồng đội hy sinh, ông Nguyễn Hữu Nghị đã nói trong nước mắt: “Được đi vào nơi chiến trường xưa, tự tay thắp hương cho các anh em. Về nhà có chết, tui cũng mãn nguyện rồi”.

Vậy nhưng, như chính sự mãn nguyện của một người lính khi được tự nguyện thực hiện lời thề sinh tử với đồng đội, cựu chiến binh Nguyễn Hữu Nghị sau mỗi cuộc hành hương như khỏe ra, mạnh hơn, cứ vậy lần lượt tham gia liên tục cả năm cuộc hành hương. Tại cánh rừng Tân Lâm tháng 4 năm 2017, người cựu chiến binh 88 tuổi đời đó vẫn tự tay mắc võng, tự tay sắp bánh lương khô rồi thắp hương mời đồng đội về cùng dùng. Ông nói: “Năm tới, nếu có cuộc hành hương mới, tui cũng sẽ cùng tham gia mang quê hương vào cho anh em!”

Vâng, lời người cựu chiến binh lão thành Nguyễn Hữu Nghị, cũng chính là lời thề đồng đội không chỉ của ông, mà hơn thế sẽ truyền lại cho các thế hệ đồng đội đã, đang nguyện sống thay đồng đội đã hy sinh với nguyên vẹn lời thề sinh tử.

L.B.D


___________________
(Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 274, tháng 7 năm 2017)





Các bài viết cùng chủ đề

      
      
      
      
      
      
      
      
      
      

Giấy phép số 229/GP-TTĐT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 3 tháng 12 năm 2008
Tòa soạn: 128 Trần Hưng Đạo - Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị • E-mail: tapchicuaviet@gmail.com • Điện thoại: 053.3852458

Copyright © 2008 http://www.tapchicuaviet.com.vn - Thiết kế: Hồ Thanh Thọ • wWw.htt383.com