Tranh & Ảnh nghệ thuật
Giá sách Cửa Việt
Liên kết Website
Thống kê
Bài đăng : 10097
Người online: 39
Truy cập trong ngày: 208
Lượt truy cập
Giới thiệu Tạp chí số mới
Số 279 (12 - 2017)
Thông tin Tòa soạn
Tổng biên tập

Thùy Liên

Thư ký Tòa soạn

Hoàng Công Danh

Trưởng ban Trị sự

Thanh Thọ

Ban biên tập

Lê Thi

Cẩm Nhung



Bản Khoán ước làng Phú Kinh - giá trị lịch sử, văn hóa của một vùng đất
 Lê Trọng Thi

Ít ai biết rằng ngôi làng thuần nông Phú Kinh thuộc xã Hải Hòa, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị lại có lịch sử lâu đời và chứa đựng một bề dày trầm tích văn hóa quý báu. Phần nhiều đất Phú Kinh được con sông Ô Lâu và kênh Mai Lãnh như hai cánh tay khổng lồ ôm trọn dải đất rộng lớn này. Trải qua thăng trầm theo thời gian được dòng sông Ô Lâu bồi đắp phù sa và sự cần mẫn lao động của con người nơi đây đã tạo nên đồng ruộng, làng mạc trù phú, xanh tốt hiện nay.

Nói về quá khứ lập làng, nay không còn tài liệu nào ghi chép rõ ràng cụ thể được. Do thiên tai và chiến tranh tàn phá nên gia phả các họ tộc bị thất lạc, hoặc tiêu hủy hầu như gần hết. Tài liệu xưa nhất còn lưu giữ là bản Khoán ước bằng chữ Hán khắc trên gỗ đề năm Cảnh Hưng Giáp Ngọ (1774). Trên cơ sở nguồn tài liệu quý giá ấy, kết hợp với những truyền thuyết và đối chiếu với những sử sách có liên quan, đã phác họa lại được thời gian và quá trình ra đời, phát triển của làng Phú Kinh.

Giữa thế kỷ XVI, khi Dương Văn An hoàn thành sách “Ô Châu cận lục”, trong đó các làng như An Thơ, Hưng Nhơn đã là một xã với cương vực và tổ chức hành chính riêng, nhưng làng Phú Kinh chưa thấy đề cập tới. Có lẽ vào khoảng nửa cuối thế kỷ XVI hoặc sang thế kỷ XVII, nơi đây mới diễn ra quá trình quần cư, lập xóm, lập làng mở mang đất đai, ruộng đồng để canh tác. Gia phả của các họ tuy làm lại muộn màng sau này nhưng đều gián tiếp phản ánh điều đó. Trên địa bàn Phú Kinh trước năm 1945 có 9 tộc họ cư trú. Tục truyền rằng: người đầu tiên đến khai phá mảnh đất này là họ Trần. Nhưng vì thấy nơi đây thấp trũng, hàng năm thường xuyên bị úng lụt, cuộc sống khó khăn, người họ Trần đã dời đi nơi khác lập nghiệp. Tưởng nhớ công đức của người xưa dân làng vẫn xếp họ Trần vào bậc các vị có công tiền khai canh và lập miếu thờ. Kế thế công lao của họ Trần là các họ Dương, Phạm, Lê và Nguyễn tiếp tục phát huy những giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống và phát triển tục lệ làng. Họ Lê và họ Nguyễn đã bám đất để sinh tồn liên tục trên vùng đất này đến nay được 17, 18 thế hệ con cháu, còn ba họ Dương, Cái, Phạm đã chuyển đi sinh cơ lập nghiệp ở vùng đất mới. Những năm tháng tiếp theo, nhiều bà con nông dân lưu tán từ các nơi về tụ họp, hiệp sức cải tạo đất đai, mở rộng xóm làng, ruộng đồng tạo nên những họ mới là họ Hồ, Hoàng, Mau và hai họ Phan.

Dân làng lưu truyền rằng, buổi đầu mới dựng làng, cư dân quần tụ bên nhau trên địa vực xóm Tây ngày nay. Sau này dân số đông, con cháu họ mở rộng dần địa bàn cư trú, lập nên xóm Đông và đến nay dân định của Phú Kinh khá đông đúc và con cháu hai họ Nguyễn, Lê là đông nhất.

Cũng như nhiều làng quê khác ở khu vực này, sau khi đã lập nên xóm làng, bao chiếm đồng điền ở khu vực chính, cư dân của làng bắt đầu tìm nơi cao ráo mở mang thêm lãnh thổ để tạo vùng đệm cho làng và đó cũng là nhu cầu cần thiết. Mặc dù với đồng đất và số lượng dân cư ít ỏi ấy thì chưa phải là thiếu đất đai canh tác hay cư trú. Nhưng với tầm nhìn xa, trông rộng về mở mang đất đai để canh tác phát triển kinh tế nên các vị chức sắc trong làng cùng con dân đã mua thêm vùng đất của nhân dân làng Phước Tích (xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, Thừa Thiên Huế). Vùng đất đó tục gọi là xứ Tả Thác Cá, Thượng Nguyên với địa giới: Đông giáp xứ gốc đồi cận sơn cước; Tây giáp sông Ô Lâu; Nam giáp khe ông Châu; Bắc giáp bến Lội giao với xứ Chanh Chanh Phước Tích.

Như vậy, thời gian ra đời của Phú Kinh tuy có muộn hơn đất Hưng Nhơn, An Thơ và có thể các làng khác nữa trong vùng, nhưng đến thế kỷ thứ XVII, cũng đã là một làng có cư dân đông, đất đai rộng lớn và bản Khoán ước của làng năm 1774 đã xác định rõ tên làng thuở đó là Phúc Kinh.

Phủ biên tạp của Lê Quý Đôn đã viết: “Làng Phúc Kinh là một trong 16 xã, phường của tổng An Phúc, huyện Đăng Xương”. Đời sau, có lẽ đầu thế kỷ XIX, để tránh phạm húy của vua chúa triều Nguyễn nên tên làng đổi lại là Phú Kinh.

Hiện nay, bản Khoán ước của làng còn lưu giữ được xem là sớm nhất tại Quảng Trị. Nhằm phát huy giá trị của báu vật, người dân đã đưa vào đình làng cất giữ ở nơi trang trọng nhất. Nhiều nội dung khắc trên bản Khoán ước còn nguyên giá trị trong đời sống hiện đại ngày nay.

Khoán ước Phú Kinh ghi: “Làng ta ở nơi cồn nước cằn cỗi, không có vườn tược riêng chỉ nhờ vào những khẩu phần công điền để hàng năm cày cấy và chịu thuế. Thế nhưng, việc quân cấp công điền thì hai bậc viên quan, viên chức ở trên chiếm trước đến bọn dân thường hạng ba phải cam chịu bậc dưới, phải nhận phần ruộng đất đá sỏi, hoang vu nên dù có ra sức cày cấy cũng không đủ nộp thuế, thậm chí phải bán vợ, đợ con đến nỗi bỏ làng ra đi trở nên thất nghiệp. Cái tệ nạn không công bằng ấy, không cần phải chờ đợi sự phân tích cũng thấy đủ rồi”.

Để khắc phục tình trạng không công bằng trong phân chia ruộng đất và hướng đến việc người dân có được mảnh ruộng để cấy cày, chăm bón suốt đời, Khoán ước chỉ ra cách giải quyết với nhiều quy định khá chặt chẽ như: “Nay viên chức hàng xã họp bàn, phỏng theo phép tắc xa xưa, lấy những nơi ruộng đá sỏi chia đều cho mọi người dân lớp dưới để họ được làm chủ đời đời, cha truyền con nối, anh chết em thay, khuyên nhau cày cấy chuyên cần để số ruộng đất đá sỏi, cằn cỗi ấy trở nên ruộng tốt. Như thế thì đồng ruộng được mở rộng ra, bảo đảm thuế khóa cho nhà nước, nhân dân sẽ no đủ, việc tiêu dùng hàng ngày nhờ đó cũng dễ dàng hơn... Lệ ruộng “vĩnh nghiệp” được đặt ra trên dưới đều bình đẳng, mỗi người nhận một phần... Ruộng ấy, lưu truyền mãi mãi, cha chết con kế thừa, anh qua đời em nối nghiệp. Thảng hoặc có một người nào đó không may khi đã chết mà ruộng đất con cháu được chia đầy đủ rồi, thì đợi đến ngày đoạn tang sẽ đem phần ruộng ấy nhượng lại cho các cháu mồ côi và tô thuế sẽ được giảm đi một nửa. Đó là để tỏ lòng ái tuất những người cô quả để cho những kẻ mẹ góa con côi có thể nuôi nhau. Đến lúc trưởng thành đứa con côi ấy sẽ chính thức nhận phần ruộng của người quá cố. Còn như người chết không có con trai nối nghiệp thì phần ruộng đất ấy sẽ chiếu cấp cho người khác. Trẻ con đến tuổi trưởng thành có tên trong sổ bộ mà chưa được phân chia ruộng đất thì hãy đợi đến 10 năm sẽ phân lại. Khi phân lại ruộng đất nếu có thừa ra thì đem chia số ruộng đất thừa ấy cho dân đi di tản mới về làng mà trước đây chưa được nhận phần ruộng “vĩnh nghiệp”.”

Bên cạnh việc phân chia lại ruộng đất “vĩnh nghiệp” đảm bảo sự công bằng cho người dân trong làng thì Khoán ước Phú Kinh có các quy định về khuyến học, khuyến tài thể hiện sự chú trọng, quan tâm đến việc học hành của con em người làng: “Việc du học của con em trong xã thì từ 15 tuổi trở lên cứ ba năm một kỳ mở lớp sát hạch. Tùy theo mức độ cao thấp mà đánh giá kết quả. Ví dụ như thuộc đúng kinh truyện một vài thiên, có am hiểu văn nghĩa, thông thạo kinh nghĩa, biết làm văn thể tứ lục, có mức độ khen thưởng, miễn khỏi đi sưu. Có làm được như vậy mới động viên được kẻ sĩ, mới phát huy được sĩ khí văn phong... Còn như con em trong làng nên cố gắng trau dồi lễ nghĩa, ra sức kiệm cần, con trai bắt đầu từ 7, 8 tuổi nên dạy dỗ ở bậc Tiểu học, lấy trung hiếu làm đầu, càng lớn dần thì càng cố gắng nỗ lực học tập tiến bộ. Còn những đứa trẻ ngây ngô, ngọng liệu thì khuyên học tập việc nông trang, không nên lười biếng”.

Để gìn giữ nếp sống văn minh, giữ vững thuần phong, mỹ tục và đảm bảo an ninh trật tự trong thôn xóm, Khoán ước quy định: “Răn đe tệ loạn luân, hoang dâm, trộm cướp. Người trên đời cốt giữ được lễ giáo, đạo vợ chồng là cái giềng mối chính của thiên luân, làng ta đã vượt ngoài cái lễ giáo ấy quá nhiều, nay nên sửa cái xấu đó. Từ nay trở đi là những người làm cha mẹ khi dựng vợ, gả chồng cho con cái nên cẩn thận, răn đe, không nên được quan hệ hôn nhân trong những người cùng dòng khác phái. Một là để tôn trọng phép nước, giữ đúng tôn tộc. Hai là để vãn hồi phong tục tốt đẹp ở hương thôn, để có cái gì khác với đám “mọi rợ”. Nếu gia đình nào phạm phải thì cả hai bên đều bị phạt nặng, đồng thời bắt buộc dâu rể phải chia lìa. Hoặc có kẻ loạn dâm có thai thì cả hai đều bị phạt... Để răn đe những kẻ chuyên nghề trộm cắp, từ nay, nếu người nào phạm phải thì sẽ bị thu hồi ruộng đất “vĩnh nghiệp”, tái phạm sẽ bị thu toàn bộ ruộng đất để tìm nghề khác làm ăn, nhưng nếu tái phạm quá ba lần sẽ bị trục xuất ra khỏi làng để giáo dục những kẻ chưa phạm tội”.

Khuyên con dân trong làng dù làm nghề gì cũng phải biết chí thú rèn luyện tay nghề, không buôn gian, bán lận: “Nghề thợ nếu có công cụ sắc bén, luôn luôn trau dồi nghề nghiệp, sáng chế ra những đồ tinh xảo. Còn những kẻ đi buôn thì cũng nên tính toán sang hèn, tùy theo thời cơ mà giữ khí, không nên chạy theo bọn buôn gian, bán lận, không học đòi theo bọn tụ tập cờ bạc, rượu chè say sưa... để mang tiếng xấu cho xóm làng”. Con dân người làng phải biết thương yêu, đùm bọc lẫn nhau để tạo nên khối đoàn kết trong xóm, làng: “Sống với nhau trong xã hội cũng cần phải cố gắng giữ gìn mối hoà thuận, kính già yêu trẻ, thương kẻ côi cút tật nguyền, giúp nhau khi đau ốm, cứu nhau khi hoạn nạn, chớ khinh người nghèo hèn, yếu đuối. Luôn luôn giữ mình trong sạch, chớ nên làm những điều lợi mình, hại người”

Qua tìm hiểu nghiên cứu bản Khoán ước tục lệ của làng chúng ta có thể hình dung thấy các hoạt động xã hội thời xưa. Các điều ước đều được quy định hết sức tỉ mỉ, chặt chẽ. Rõ ràng là các làng xã của Việt Nam xưa xây dựng Khoán ước, Hương ước đều có mục đích tốt đẹp là làm cho xã hội sống có kỷ cương, mọi người làm ăn chăm chỉ, kính trên nhường dưới, làm cho phong tục ngày một thuần hậu, nhờ đó mà giúp cho của cải ngày một dồi dào, dân cư ngày một đông đúc, xã hội đoàn kết đi lên.

Bản Khoán ước Phú Kinh mang giá trị văn hóa, lịch sử độc đáo. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị cũng đã đưa bản Khoán ước này vào danh mục 10 báu vật độc đáo để đề nghị công nhận là báu vật quốc gia.

Hiện nay làng Phú Kinh có khoảng 360 hộ với gần 1.700 nhân khẩu. Phát huy, trân trọng những đạo lý cha ông đã răn dạy, dân làng cũng như những người con đi xa quê hương luôn sống đoàn kết, đùm bọc lấy nhau, luôn luôn đổi mới xây dựng quê hương văn minh, giàu đẹp. Phú Kinh là làng “nói không” với các tệ nạn xã hội, con cháu học hành đỗ đạt là nhờ người xưa lập ra các điều luật phù hợp với lòng người, thế hệ con cháu biết kế thừa và phát huy các điều luật từ trong Khoán ước.

L.T.T

________________

Tài liệu tham khảo:

1. Tài liệu thống kê năm 1985, Lịch sử Đảng bộ xã Hải Hòa (1946-1986).

2. Bản Khoán ước khắc trên gỗ của người làng Phú Kinh.

3. Nguyễn Hữu Thông (1996), “Bức tranh dân cư vùng Thuận Hóa đầu thế kỷ XV qua văn bản Thỉ Thiện Tự”.

4. Quốc Sử Quán triều Nguyễn (1997), Đại Nam nhất thống chí, Tập 1, Huế: Nxb. Thuận Hóa.

5. Lê Quý Đôn, toàn tập, tập 1.

 


___________________
(Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 275, tháng 8 năm 2017)





Các bài viết cùng chủ đề

      
      
      
      
      
      
      
      
      
      

Giấy phép số 229/GP-TTĐT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 3 tháng 12 năm 2008
Tòa soạn: 128 Trần Hưng Đạo - Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị • E-mail: tapchicuaviet@gmail.com • Điện thoại: 053.3852458

Copyright © 2008 http://www.tapchicuaviet.com.vn - Thiết kế: Hồ Thanh Thọ • wWw.htt383.com