Tranh & Ảnh nghệ thuật
Giá sách Cửa Việt
Liên kết Website
Thống kê
Bài đăng : 10058
Người online: 54
Truy cập trong ngày: 97
Lượt truy cập
Giới thiệu Tạp chí số mới
Số 278 (11 - 2017)
Thông tin Tòa soạn
Tổng biên tập

Thùy Liên

Thư ký Tòa soạn

Hoàng Công Danh

Trưởng ban Trị sự

Thanh Thọ

Ban biên tập

Lê Thi

Cẩm Nhung




Diên cách địa lý hành chính Thị xã Quảng Trị qua các thời kỳ lịch sử
 Yến Thọ

Thị xã Quảng Trị nằm ven 2 bờ sông Thạch Hãn, ở tọa độ địa lý giới hạn từ 16044’37” đến 16074’36” vĩ bắc và 107011’20” đến 107018’09” kinh đông; phía Tây và phía Bắc giáp huyện Triệu Phong; phía Đông giáp huyện Hải Lăng và phía Nam giáp huyện Đakrông và Hải Lăng; cách thành phố Đông Hà 12km về phía Nam. Thị xã Quảng Trị có diện tích tự nhiên là 7.402,78 ha, dân số 22.760 người; có 5 đơn vị hành chính trực thuộc. Trên địa bàn thị xã Quảng Trị có quốc lộ 1A và tuyến đường sắt Bắc - Nam đi qua và cũng là đầu mối xuất phát của các con đường tỉnh lộ như đường 64 (thị xã Quảng Trị - Cửa Việt), đường 68 (thị xã Quảng Trị - đồng bằng Triệu Hải - Phong Quảng) và nhiều con đường khác: thị xã Quảng Trị - La Vang - Phước Môn, thị xã Quảng Trị - Thượng Phước - Trấm - Cùa.

Thị xã Quảng Trị là một đô thị hình thành sớm nhất của tỉnh Quảng Trị và cũng là lỵ sở tỉnh lỵ tỉnh Quảng Trị có quá trình hình thành và phát triển 163 năm (1809 - 1972). Tên thị xã Quảng Trị là tên do chính quyền Pháp cải đặt trên cơ sở của thành Quảng Trị - trung tâm hành chính, chính trị/lỵ sở tỉnh Quảng Trị và sự hình thành diện mạo đô thị khu vực xung quanh từ những năm đầu thế kỷ XX. Từ khi thành lập đến trước năm 2008, thị xã Quảng Trị là một thị xã nhỏ nhắn, xinh đẹp nằm soi mình bên bờ Nam sông Thạch Hãn. Từ ngày 19 - 3 - 2008, thị xã Quảng Trị được điều chỉnh lại theo hướng mở rộng về phía Tây của xã Hải Lệ huyện Hải Lăng và bao gồm làng An Đôn xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong. Vì thế, thị xã Quảng Trị từ chỗ chỉ nằm bên bờ hữu ngạn của sông Thạch Hãn trở thành địa bàn có sông Thạch Hãn chảy xuyên qua. Sông Thạch Hãn từ chỗ là đường ranh giới giữa thị xã với huyện Triệu Phong trở thành dòng sông chảy qua giữa lòng đô thị.

Trước khi thuộc về người Việt (nửa cuối thế kỷ XIV), vùng đất thị xã Quảng Trị ngày nay là một phần của đất châu Ô, vương quốc Chămpa. Dấu tích còn lại rõ nét nhất là phế tích của một ngôi đền tháp Chăm nằm giữa lòng thị xã, trong khu vực của nhà thờ Đá Hàn (nay là nhà thờ Thạch Hãn) được xây dựng trong khoảng những thế kỷ X - XI.

Từ năm 1306, dưới thời nhà Trần, sau cuộc tình duyên lịch sử của công chúa Huyền Trân, phần đất thị xã Quảng Trị ngày nay thuộc một phần của châu Thuận (châu Ô đổi thành năm 1307).

Cuối thời Trần, suốt thời Hồ, thời thuộc Minh và đầu đời Lê sơ, phần đất thị xã Quảng Trị hiện nay là một phần của huyện An Nhân (ở bờ Nam sông Thạch Hãn) và một phần của huyện Lợi Điều (ở bờ Bắc sông Thạch Hãn, tức đất của phường An Đôn nay) thuộc châu Thuận, trấn/phủ/lộ Thuận Hoá. Cũng như vùng Triệu Phong, Hải Lăng, các làng xã của người Việt hình thành sớm nhất trên địa bàn thị xã Quảng Trị hiện nay từ nửa cuối thế kỷ XV.

Đất của thị xã Quảng Trị vào thời Lê - Mạc thuộc huyện Hải Lăng và một phần của huyện Vũ/Võ Xương, nằm trong châu Thuận, thừa tuyên Thuận Hoá. Theo sách Ô châu cận lục, vào giữa thế kỷ XVI, phần đất bờ Bắc Thạch Hãn của thị xã Quảng Trị ngày nay thuộc xã/làng Nhan Biều, huyện Vũ/Võ Xư­ơng; còn phần đất ở bờ Nam Thạch Hãn thuộc các xã/làng Thạch Hàn (về sau đổi thành Thạch Hãn), Tích Tường và Như Lệ, huyện Hải Lăng1.

Thời chúa Nguyễn, trên địa bàn của thị xã Quảng Trị hiện nay, ở bờ Bắc Thạch Hãn xuất hiện thêm xã/làng An Đôn thuộc tổng An Đôn, huyện Đăng Xương (do huyện Vũ/Võ Xương đổi thành năm 1765); còn ở bờ Nam, ngoài các làng Thạch Hãn, Tích Tường và Như Lệ đã có từ trước, xuất hiện thêm làng Cổ Vưu (về sau đổi thành Trí Bưu) thuộc tổng Hoa La, huyện Hải Lăng2.

Thời Nguyễn, xã/làng An Đôn vẫn thuộc tổng An Đôn, huyện Đăng Xương/Thuận Xương (đổi từ huyện Đăng Xương năm 1884). Các xã/làng Thạch Hãn, Tích Tường, Như Lệ và Cổ Vưu thuộc tổng An Thái, huyện Hải Lăng.

Từ đất đai của hai làng Cổ Vưu/Cổ Bưu và Thạch Hãn, năm 1809, khi cho chuyển lỵ sở dinh Quảng Trị từ Trà Bát - Ái Tử về bên bờ tả ngạn của sông Thạch Hãn, Gia Long đã cho xây thành Quảng Trị và thiết lập ở đây một trung tâm hành chính, chính trị của một địa hạt nằm sát nách kinh đô Huế về phía Bắc. Thạch Hãn là làng nằm trải dài ven sông bao bọc hai phía Tây và Bắc khu đất được chọn để xây thành, còn đất làng Cổ Vưu nằm về hai phía Đông và Nam. Khi xây dựng lỵ sở, đất đai mở vào làng Thạch Hãn chiếm hết 2/3 trong tổng số diện tích được sử dụng.

Từ khi thành Quảng Trị được xây dựng, khu vực bên ngoài thành bắt đầu thay đổi với một diện mạo mới, hội đủ các điều kiện để hình thành một đô thị/thị tứ.

Thời thuộc Pháp, chính quyền Pháp đã không chỉ thiết lập ở lỵ sở Quảng Trị một trung tâm chính trị với bộ máy hành chính nhà nước gồm cả chính quyền Pháp lẫn Nam triều; mà còn tiến hành đầu tư xây dựng để biến nơi đây thành một đầu mối kinh tế có lợi cho sự kinh doanh của giới tư sản Pháp. Năm 1898, chính quyền Pháp cho xây dựng ở ngoài thành Quảng Trị một dinh Công sứ thực hiện quyền điều hành chính quyền “bảo hộ” bên cạnh chính phủ “Nam triều” ở trong thành Quảng Trị.

Ngày 17 - 2 - 1906, toàn quyền Đông Dương ra Nghị định cải tỉnh lỵ Quảng Trị thành thị trấn (Centre urbain) bao gồm thành và khu vực xung quanh thành, giáp bờ sông; phía Nam đến quốc lộ 1A. Nhưng Nghị định này bị huỷ bỏ, không áp dụng. Mãi đến năm 1944, theo Dụ ngày 11 - 3 - 1914 của Duy Tân thì thị xã Quảng Trị mới chính thức được thành lập3. Thị xã Quảng Trị khi mới thành lập, phía Tây và Tây bắc giáp sông Thạch Hãn; Bắc giáp làng Cổ Thành; Đông bắc giáp làng Cổ Thành và làng Trí Bưu; Đông giáp làng Trí Bưu và làng Thạch Hãn; Nam và Tây nam giáp làng Thạch Hãn4. Năm Canh Thìn (1940), theo Dụ số 87 ngày 10 tháng chạp năm Bảo Đại thứ 15 (2 - 1 - 1941), thị xã Quảng Trị có 5 phường: Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ, Đệ Ngũ (trên đất của 2 xã/làng Thạch Hãn và Trí Bưu) và thêm vạn Cư Xuân5 (tức An Thành hiện nay). Phần còn lại của các xã/làng Thạch Hãn, Trí Bưu và các xã/làng Tích Tường, Như Lệ vẫn thuộc tổng An Thái, huyện Hải Lăng (từ năm 1928 chuyển thành phủ Hải Lăng). Xã/làng An Đôn vẫn thuộc tổng An Đôn, huyện Thuận Xương/phủ Triệu Phong (cải huyện Thuận Xương thành phủ Triệu Phong từ năm 1908). Từ đó, thị xã Quảng Trị luôn giữ vai trò là lỵ sở, trung tâm hành chính, chính trị của tỉnh Quảng Trị cho đến trước năm 1972.

Từ khi thị xã Quảng Trị được hình thành, các phố xá lần lượt được xây dựng và ngày càng trở nên sầm uất. Đặc biệt là kể từ sau khi tuyến đường sắt Quảng Trị - Tourane, Vinh - Đông Hà hoàn chỉnh (1 - 1927) thì thị xã Quảng Trị càng có điều kiện để trở thành một đầu mối kinh tế, chính trị có tầm chiến lược của tỉnh và toàn khu vực.

Thập niên 20 của thế kỷ XX, trên đất của xã Hải Lệ hiện nay, Quận công - Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Hữu Bài đã cho lập ra phường Phước Môn. Hai phường Tân Lệ và Tân Mỹ cũng được tách ra từ làng Tân Lệ trong khoảng thời gian này.

Sau Cách mạng tháng Tám thắng lợi, chính quyền dân chủ nhân dân tiến hành bãi bỏ cấp tổng, sáp nhập nhiều thôn, làng lại với nhau thành các đơn vị lớn gọi thống nhất là xã và mang những tên mới, do Ủy ban Hành chính xã trông coi mọi việc. Cấp phủ đổi thành cấp huyện. Các đơn vị thuộc thị xã gồm 5 phường vẫn giữ nguyên, đặt dưới sự quản lý của tỉnh. Các làng Trí Bưu và Quy Thiện (nay thuộc Hải Quy, Hải Lăng) sáp nhập thành xã Quy Trí; các làng Thạch Hãn và Tích Tường sáp nhập thành xã Thạch Tích, đặt dưới sự quản lý của huyện Hải Lăng6. Làng An Đôn và làng Thượng Phước sáp nhập thành xã Thượng An, đặt dưới sự quản lý của huyện Triệu Phong.

Sau bầu cử Quốc hội (6 - 1 - 1946) và Hội đồng Nhân dân các cấp (2 - 1946), làng An Đôn thuộc xã Phong Sơn, huyện Triệu Phong. Các làng Thạch Hãn, Tích Tường, Như Lệ, Tân Mỹ, Tân Lệ, Phước Môn thuộc xã Hải Đức huyện Hải Lăng.

Đến đầu năm 1947, hai làng Trí Bưu và Thạch Hãn sáp nhập thành xã mới mang tên là xã Hải Trí và chuyển giao cho thị xã Quảng Trị quản lý7.

Nền hành chính của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Quảng Trị hoạt động chưa được bao lâu thì ngày 25 - 5 - 1947, quân đội Pháp tiến từ Huế ra chiếm lại tỉnh lỵ Quảng Trị. Các Ủy ban hành chính các cấp lần lượt đổi thành Ủy ban kháng chiến hành chính và rút vào bí mật hay lên chiến khu ở rừng núi để tiếp tục lãnh đạo nhân dân tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp. Tại khu vực tỉnh lỵ, chính quyền Pháp cho phục hồi nền hành chính cũ. Ngày 18 - 12 - 1947, theo Nghị định 801-NĐ của Hội đồng Chấp hành Lâm thời Trung Kỳ, thành lập nha Bang tá tại thị xã Quảng Trị8. Nghị định số 125 ngày 21 - 1 - 1948 ấn định nha Bang tá Quảng Trị theo như Dụ 87 ngày 2 - 1 - 1941 với tổ chức đứng đầu mỗi phường có một viên Lý trưởng như các làng ở thôn quê. Ngoài ra nha Bang tá Quảng Trị còn phụ trách thêm 2 làng kế cận về phương diện trị an và hành chính là làng Trí Bưu và làng Thạch Hãn, nguyên thuộc phủ Hải Lăng9. Ngày 18 - 10 - 1950, theo Nghị định số 1526-THP/NĐ của Thủ hiến Trung Việt, làng Long Hưng nguyên thuộc huyện Hải Lăng sáp nhập vào thị xã Quảng Trị10. Đến ngày 28 - 12 - 1951, theo Nghị định 1980-NĐ-PC, nha Bang tá Quảng Trị bị bãi bỏ11.

Về phía chính quyền kháng chiến, từ tháng 8 - 1950, làng An Đôn thuộc xã Triệu Sơn (do xã Phong Sơn và các thôn Trà Liên, Ái Tử, Giang Hến, Nai Hưu Thượng, Điệp Khê, Tiền Kiên, Tả Kiên (thuộc xã Phong An) và Vân Lộng (thuộc xã Phong Quang) hợp thành)12. Các làng Tích Tường, Như Lệ, Tân Mỹ, Tân Lệ, Phước Môn thuộc xã Hải Thạch (do xã Hải Đạo và Hải Đức hợp thành)13.

Sau năm 1954, theo hiệp định Genève, vĩ tuyến 17 trở thành biên giới chia cắt Việt Nam thành 2 miền Nam - Bắc. Theo đó, tỉnh Quảng Trị bị chia làm hai. Thị xã Quảng Trị là tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Trị thuộc miền Nam của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Theo Nghị định số 3241-NĐ-PC ngày 21 - 12 - 1954 của Đại biểu Chính phủ tại Trung Việt, thị xã Quảng Trị cải đặt thành Nha đại diện hành chính Quảng Trị. Năm 1955 có chủ trương kết hợp những làng xã cũ thành những xã mới rộng hơn, đông dân cư hơn. Các làng xã cũ hạ xuống gọi là thôn14.

Từ ngày 8 - 12 - 1955, theo Nghị định số 4245-NĐ-PC của Đại biểu Chính phủ tại Trung Việt, các đơn vị hành chính tỉnh Quảng Trị phía Nam sông Bến Hải có 6 quận, 65 xã và 395 thôn. Thị xã Quảng Trị trở thành 1 xã thuộc quận Hải Lăng.

Từ ngày 23 - 10 - 1956, theo Sắc lệnh số 144-a/TTP của phủ Tổng thống Việt Nam Cộng hoà, các địa danh Bắc Việt, Trung Việt, Nam Việt được thay thế bằng địa danh Bắc Phần, Trung Phần, Nam Phần. Lại do Sắc lệnh số 147-a/TTP ngày 24 - 10 - 1956 của phủ Tổng thống, lãnh thổ Trung Phần được chia thành hai miền: Cao Nguyên Trung Phần và Trung Nguyên Trung Phần. Tỉnh Quảng Trị thuộc về Trung Nguyên Trung Phần. Theo đó, Dụ 57-a quy định sắp xếp lại toàn bộ đơn vị hành chính tỉnh Quảng Trị15.

Theo bản “Danh sách các xã với tình hình phong hóa, an ninh trật tự, kinh tế nhân vật biệt xứ có uy tín” của tỉnh trưởng Quảng Trị Nguyễn Văn Đông lập ngày 22 - 1 - 1958 thì toàn tỉnh có 2 thị trấn, 7 quận với các đơn vị hành chính; trong đó thị trấn Quảng Trị bao gồm các thôn: Đệ nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ, Đệ Ngũ và 2 vạn là An Thành, Cư Xuân16. Các thôn Đệ Nhất (khu vực xung quanh thành Quảng Trị), thôn Đệ Tam (khu vực phía Đông thành Quảng Trị giáp làng Long Hưng và Trí Bưu), thôn Đệ Ngũ là khu vực phía Nam thành Quảng Trị giáp làng Thạch Hãn, thôn Đệ Tứ là khu vực phía Bắc thành Quảng Trị giáp với làng Cổ Thành, thôn Đệ Nhị (khu vực Tây nam thành Quảng Trị và bao gồm cả một phần đất ven bờ Bắc sông Thạch Hãn). Thị trấn Quảng Trị là tỉnh lỵ tỉnh Quảng Trị.

Ngày 17 - 5 - 1958, theo Nghị định 215-HC/P6 của Bộ trưởng Nội vụ Việt Nam Cộng hoà, Nha đại diện hành chính Quảng Trị bị bãi bỏ để sát nhập vào quận Hải Lăng, thị trấn Quảng Trị đặt thành xã Quảng Trị như bao đơn vị hành chính cấp xã khác17. Tỉnh lỵ đóng tại xã Quảng Trị thuộc huyện Hải Lăng. Địa bàn xã Quảng Trị lúc này vẫn có 5 thôn: Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ, Đệ Ngũ. Các thôn Thạch Hãn, Trí Bưu thuộc xã Hải Trí; các thôn Tích Tường, Như Lệ, Tân Mỹ, Tân Lệ, Phước Môn thuộc xã Hải Lệ, nằm trong quận Hải Lăng. Thôn An Đôn thuộc xã Triệu Thượng, quận Triệu Phong.

Ngày 11 - 6 - 1965, theo Nghị định số 880-NV, chính quyền Việt Nam Cộng hòa cho lập thêm một quận mới lấy tên là quận Mai Lĩnh, gồm 7 xã: Quảng Trị, Hải Trí, Hải Quy, Hải Thượng, Hải Phú, Hải Lệ (nguyên của quận Hải Lăng) và Triệu Thượng (nguyên của quận Triệu Phong). Quận lỵ đóng ở xã Hải Trí18. Tỉnh lỵ Quảng Trị vẫn ở xã Quảng Trị thuộc địa bàn quận Mai Lĩnh.

Về phía chính quyền cách mạng, từ giữa năm 1967, trước tình hình phong trào đấu tranh của quân và dân Quảng Trị đang lên mạnh, vùng giải phóng được mở rộng; để tiện cho việc thống nhất chỉ đạo cách mạng, ngày 1 - 7 - 1967, thị xã Quảng Hà được thành lập với phạm vi bao gồm thị xã Quảng Trị, thị trấn Đông Hà và các xã vùng ven như: Triệu Ái, Triệu Thượng, Triệu Lương, Triệu Lễ, Triệu Giang, Hải Lệ và các thôn Phú Long (xã Hải Phú), Đại Nại, An Thái, Ba Khê (xã Hải Thượng)19. Đến tháng 3 - 1969, thì Khu ủy Trị - Thiên quyết định tách thị xã Quảng Hà thành hai thị xã: Quảng Trị và Đông Hà; đồng thời trả lại các xã vùng ven về cho các huyện trước đây20.

Ngày 1 - 5 - 1972, cuộc tổng tiến công giải phóng tỉnh Quảng Trị của Quân Giải phóng đã đánh chiếm tỉnh lỵ tỉnh Quảng Trị, kéo cờ giải phóng lên Tòa Hành chính/Dinh Tỉnh trưởng tại xã Quảng Trị và thành lập nên chính quyền Cách mạng lâm thời thị xã Quảng Trị. Nhưng không lâu sau đó, quân đội Việt Nam Cộng hòa đã tổ chức phản kích đánh chiếm lại những vùng đã mất mà mục tiêu là chiếm lại lỵ sở tỉnh lỵ ở thị xã Quảng Trị. Cuộc chiến đấu giằng co, quyết liệt diễn ra trong 81 ngày đêm từ ngày 28 - 6 - 1972 đến ngày 16 - 9 - 1972 giữa lực lượng quân đội 2 phía đã biến thị xã và Thành Cổ trở nên hoang tàn, đổ nát.

Sau khi Hiệp định Paris về chiến tranh Việt Nam được ký kết (27 - 1 - 1973), sông Thạch Hãn đi qua khu vực thị xã Quảng Trị trở thành ranh giới giữa 2 miền Nam - Bắc. Khu vực thị xã Quảng Trị ngày nay ở bờ Nam Thạch Hãn thuộc quyền quản lý của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Do thị xã tỉnh lỵ Quảng Trị bị bom đạn tàn phá nặng nề nên chính quyền Sài Gòn đã cho chuyển lỵ sở/trung tâm hành chính của tỉnh Quảng Trị vào đóng tại làng Diên Sanh, xã Hải Thọ, thuộc quận Hải Lăng cho đến ngày thất thủ bởi cuộc tiến công của quân giải phóng ngày 19 - 3 - 1975.

Sau ngày đất nước thống nhất (1975), tỉnh Bình Trị Thiên mới được thành lập. Theo đó, toàn khu vực Quảng Trị thuộc tỉnh Bình Trị Thiên có 1 thị xã là Đông Hà và 6 huyện là: Vĩnh Linh, Gio Linh, Hướng Hóa, Cam Lộ, Triệu Phong, Hải Lăng. Thị xã Quảng Trị trở thành một đơn vị hành chính cấp xã thuộc huyện Triệu Phong và cũng là nơi đặt huyện lỵ của huyện Triệu Phong, tỉnh Bình Trị Thiên. Ngày 6 - 1 - 1977, Ủy ban Nhân dân Cách mạng tỉnh Bình Trị Thiên ra quyết định thành lập thị trấn Triệu Phong với quy mô diện tích bao gồm một phần đất của thị xã Quảng Trị ngày nay (nguyên là khu vực của 5 thôn của thời Việt Nam Cộng hòa) và phần diện tích thuộc xã Hải Trí21 (gồm Thạch Hãn và Trí Bưu).

Ngày 11 - 3 - 1977, theo Quyết định số 62-CP của Hội đồng Chính phủ, các huyện Triệu Phong, Hải Lăng được hợp nhất và mang tên mới là huyện Triệu Hải22.

Ngày 15 - 8 - 1981, theo Quyết định số 187-CP của Hội đồng Chính phủ, thị trấn của huyện Triệu Hải được thành lập, lấy tên là thị trấn Quảng Trị với quy mô bao gồm thị trấn Triệu Phong (cũ) và xã Hải Trí với 387 ha và 7.567 nhân khẩu23. Các thôn/làng Tích Tường, Như Lệ, Tân Mỹ, Tân Lệ, Phước Môn thuộc xã Hải Lệ; thôn An Đôn thuộc xã Triệu Thượng, nằm trong huyện Triệu Hải.

Sau khi tái lập tỉnh Quảng Trị (1989), tỉnh lỵ tỉnh Quảng Trị chuyển ra thị xã Đông Hà, thị xã Quảng Trị kết thúc vai trò là tỉnh lỵ tỉnh Quảng Trị. Theo Quyết định 134-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, ngày 16 - 9 - 1989, thị xã Quảng Trị được tái lập trên cơ sở của thị trấn Quảng Trị, với 2 phường: phường 1, phường 2 với 547 ha diện tích tự nhiên và 12.500 nhân khẩu24, cho đến trước tháng 3 - 2008. Xã Hải Lệ thuộc huyện Hải Lăng; thôn An Đôn của xã Triệu Thượng thuộc huyện Triệu Phong.

Ngày 19 - 3 - 2008, theo Nghị định số 31/NĐ-CP của Chính phủ, thị xã Quảng Trị được điều chỉnh lại theo hướng mở rộng bằng việc chuyển 89,5 ha diện tích tự nhiên của xã Hải Lệ về xã Hải Lâm quản lý; 6.576,55 ha diện tích tự nhiên và 4.181 nhân khẩu còn lại của xã Hải Lệ huyện Hải Lăng chuyển về thị xã Quảng Trị quản lý. Thành lập phường An Đôn thuộc thị xã Quảng Trị với 260,56 ha diện tích tự nhiên và 1.611 nhân khẩu, trên cơ sở điều chỉnh 191,56 ha diện tích tự nhiên và 1.515 nhân khẩu của làng An Đôn xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong về thị xã Quảng Trị; 69 ha diện tích tự nhiên và 96 nhân khẩu của phường 1. Địa giới hành chính của phường An Đôn Đông giáp phường 1, phường 2 và phường 3 thị xã Quảng Trị; Nam giáp xã Hải Lệ thị xã Quảng Trị; Bắc và Tây giáp xã Triệu Thượng huyện Triệu Phong. Thành lập phường 3 thuộc thị xã Quảng Trị với 184,53 ha diện tích tự nhiên và 7.103 nhân khẩu, trên cơ sở điều chỉnh 139,93 ha diện tích tự nhiên và 3.966 nhân khẩu của phường 1; 44,60 ha diện tích tự nhiên và 3.137 nhân khẩu của phường 2. Địa giới hành chính của phường 3 Đông giáp xã Hải Quy và xã Hải Phú huyện Hải Lăng; Tây giáp phường An Đôn thị xã Quảng Trị; Nam giáp phường 1 thị xã Quảng Trị; Bắc giáp phường 2 thị xã Quảng Trị.

Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập phường An Đôn và phường 3, phường 1 còn lại 183,08 ha diện tích tự nhiên và 3.700 nhân khẩu. Phường 2 còn lại 198,06 ha diện tích tự nhiên và 6.165 nhân khẩu. Thị xã Quảng Trị có 7.402,78 ha diện tích tự nhiên và 22.760 nhân khẩu.

Trải qua bao biến động, đổi thay, tách nhập, đến nay, thị xã Quảng Trị có 5 đơn vị hành chính: Phường 1, phường 2, phường 3, phường An Đôn và xã Hải Lệ.

Y.T

________________________

Tài liệu tham khảo

1. Dương Văn An. Ô châu cận lục. Bản dịch của Văn Thanh - Phan Đăng. Nxb Chính trị Quốc gia. Hà Nội, 2009, tr. 57.

2. Lê Quý Đôn. Phủ biên tạp lục. Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội, 1977, tr. 81.

3. Theo: Nguyễn Đình Tư. Non nước Quảng Trị. Nxb Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, 2011 (tr. 123). Nhưng theo: Lịch sử Đảng bộ Quảng Trị, tập 1 (1930 - 1945). Nxb Chính trị quốc gia. Hà nội, 1996 (tr. 17) thì ngày 17 - 2 - 1906, toàn quyền Đông Dương ra quyết định thành lập thị xã Quảng Trị.

4, 5. Nguyễn Đình Tư. Non nước Quảng Trị. Sđd, tr. 99; 100.

6, 7. BCH Đảng bộ thị xã Quảng Trị. Lịch sử Đảng bộ thị xã Quảng Trị (1930 - 1995). Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1999, tr. 116.

8, 9, 10, 11. Nghị định 801-NĐ ngày 18-12-1947; Nghị định số 125 ngày 21 - 1 - 1948 của Hội đồng Chấp hành Lâm thời Trung Kỳ; Nghị định số 1526-THP/NĐ ngày 18 - 10 - 1950; Nghị định 1980-NĐ-PC ngày 28 - 12 - 1951 của Thủ hiến Trung Việt. Dẫn theo: Nguyễn Đình Tư. Non nước Quảng Trị.Sđd, tr. 103; tr. 104 và 106.

12, 13. Quyết nghị 1027-QN/P5 ngày 17 - 8 - 1950; Quyết nghị 1123-QN/P5 ngày 18 - 9 - 1950 của UBKCHC Liên khu 4. Dẫn theo: Nguyễn Quang Ân. Việt Nam - những thay đổi về địa danh và địa giới các đơn vị hành chính 1945 - 1997. Nxb Văn hóa Thông tin. Hà nội, 1997, tr. 42 và tr. 44.

14, 15. Nghị định số 3241-NĐ-PC ngày 21 - 12 - 1954 của Đại biểu Chính phủ tại Trung Việt. Dẫn theo: Nguyễn Đình Tư. Non nước Quảng Trị. Sđd, tr. 109, 110.

16. “Danh sách các xã với tình hình phong hóa, an ninh trật tự, kinh tế nhân vật biệt xứ có uy tín” của tỉnh Quảng Trị thời Việt Nam Cộng hòa. Tài liệu đánh máy lưu trữ tại TTLTQG II.

17, 18. Nghị định 215-HC/P6 ngày 17 - 5 - 1958 của Bộ trưởng Nội vụ Việt Nam Cộng hòa; Nghị định 880-NV ngày 11 - 6 - 1965 của Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa. Dẫn theo: Nguyễn Quang Ân. Việt Nam - những thay đổi về địa danh và địa giới các đơn vị hành chính 1945 - 1997. Sđd, tr. 102 và 185.

19, 20, 21. BCH Đảng bộ thị xã Quảng Trị. Lịch sử Đảng bộ thị xã Quảng Trị (1930 - 1995). Sđd. tr. 223; tr. 233 và tr. 313.

22, 23, 24. Quyết định 62-CP ngày 11 - 3 - 1977, Quyết định 187-CP ngày 15 - 8 - 1981 của Hội đồng Chính phủ; Quyết định số 134-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 16 - 9 - 1986. Dẫn theo: Nguyễn Quang Ân. Việt Nam - những thay đổi về địa danh và địa giới hành chính. Sđd, tr. 242; tr. 306 và tr. 502.


___________________
(Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 276, tháng 9 năm 2017)





Các bài viết cùng chủ đề

      
      
      
      
      
      
      
      
      
      

Giấy phép số 229/GP-TTĐT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 3 tháng 12 năm 2008
Tòa soạn: 128 Trần Hưng Đạo - Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị • E-mail: tapchicuaviet@gmail.com • Điện thoại: 053.3852458

Copyright © 2008 http://www.tapchicuaviet.com.vn - Thiết kế: Hồ Thanh Thọ • wWw.htt383.com