Tranh & Ảnh nghệ thuật
Giá sách Cửa Việt
Liên kết Website
Thống kê
Bài đăng : 9927
Người online: 18
Truy cập trong ngày: 21
Lượt truy cập
Giới thiệu Tạp chí số mới
Số 275 (8 - 2017)
Email chuyên mục
Email chung tapchicuaviet@gmail.com

Bút ký
camnhung1308@gmail.com
Truyện ngắn
hkzanh@gmail.com
Bút ký
camnhung1308@gmail.com
Thơ
nguyendieuai87@gmail.com
Văn hóa thời đại thuyliencuaviet@gmail.com
Người & Đất quê hương letrongthi79@gmail.com
Tranh - Ảnh Mỹ thuật htt383@gmail.com



Cây cầu
 Laura Morgan

LTS: Laura Morgan được vinh danh với giải thưởng dành cho các cây bút trẻ của Quỹ sách Scotland (Scottish Book Trust) năm 2017. Nhiều tác phẩm của Laura Morgan đã được lọt vào vòng chung khảo của các cuộc thi truyện ngắn như Moth Short Story Prize và William Soutar Writing Prize và đã xuất hiện trên nhiều tạp chí, tuyển tập. Cô hiện sống và sáng tác tại Armadale, Scotland. Đất nước Scotland nổi tiếng với những truyền thuyết bí ẩn. Truyện ngắn “Cây cầu” của Laura Morgan đưa chúng ta đến đời sống ở đất nước này, nơi hiện tại và quá khứ đan xen một cách dịu dàng.

28020.png

Ngay sau khu vườn đó, thế giới tan vỡ. Những chiếc cọc hàng rào bé tẹo, vài ngôi nhà phụ và con đê đổ nát, những ụ đất trườn vào biển như một con rồng đang tắm. Đó chính là nơi Angus nhìn thấy nóc ngôi nhà nhỏ của bà ấy, những viên ngói đen sáng bóng như những chiếc vảy rồng. Ngôi nhà cuối cùng trong làng. Ngôi nhà của ma nữ có chiếc váy màu xanh.

“Bữa tối xong rồi, Angie.”

Từ hiên nhà cha vẫy tay, vẻ mặt của ông có nghĩa là đừng có dại mà chậm chạp. Angus quay vào nhà, qua bụi tầm ma và hoa gai. Nó chưa bao giờ nghĩ rằng sẽ thấy ma nữ ở đây - nơi gần biển. Thường họ sống xa hơn, ở những cánh đồng hoang, giặt quần áo ở dòng suối đây đó, tấm khăn choàng quấn quanh đầu khi họ gào lên những bài hát buồn thảm thiết. Mẹ chính là người đã kể cho nó nghe về ma nữ. Khi đó, nó và mẹ đã sống nơi căn nhà cũ ở Skelpick. Nó đã yêu ngôi nhà ấy. Angus tưởng tượng mẹ vẫn ở đó, trên những vạt cỏ còn sót lại trước khi cánh đồng hoang bắt đầu, kẹp những tấm ga trải lên dây phơi, vải cotton trắng bay bay trong gió. Và nó muốn hỏi mẹ, có bao giờ ma nữ sống trong những ngôi nhà nhỏ cạnh biển không?

Angus tháo đôi ủng ở mái hiên và với đôi chân mang tất, nó bước vào bếp. Hơi nước bốc lên từ hai đĩa thức ăn: thịt nghiền và bánh mì lát nướng.

“Nhanh lên con.” Cha nói.

Angus ghét món thịt nghiền và bánh mì lát nướng. Mẹ đã luôn nấu món này với cà rốt, củ cải và khoai tây. Cha dùng nĩa để chỉ “Nào, con trai.” Vì vậy Angus cầm nĩa lên, chọc nĩa vào cùi bánh mì.

“Cha ơi, cha kể cho con nghe về ma nữ nhé?”

“Ma nữ?”

Angus gật đầu.

“Mẹ đã kể cho con thế nào?”

Mẹ đã kể cho nó nghe rất nhiều chuyện. Mặc dù những câu chuyện đó không phải từ những quyển sách, bà luôn kể chúng giống hệt nhau. Cha kể chuyện chẳng hay bằng mẹ. Thường thì cha bỏ qua nhiều chi tiết rồi kết thúc câu chuyện rất nhanh. Angus uống sữa ừng ực và nói: “Ma nữ là linh hồn của những người phụ nữ, những người phụ nữ bình thường, họ đã chết khi sinh con. Ta thấy họ khi ta lang thang ở cánh đồng hoang. Chân của họ có màng và tóc họ rối bung. Đôi khi họ chỉ có một lỗ mũi. Và quần áo họ giặt là của người chết.”

Cha cau mày. “Ừ, đúng vậy.”

Ma nữ trong trí tưởng tượng của nó có màu xanh, mặc chiếc váy rêu dài và đôi ủng cao su để giấu đi đôi chân có màng. Khi đến ở ngôi làng này vào mùa đông năm ngoái, Angus đã nghĩ rằng nhà của bà ta có điều gì rất lạ. Lúc đi bộ từ trường về nhà trong những ngày âm u, khi sương mù giăng phủ mặt hồ và tất cả ngôi nhà phải bật đèn, nó đã để ý tới ngôi nhà nhỏ ấy trong bóng tối lờ mờ. Chiếc đèn hình quả cầu le lói ở một khung cửa sổ, như thể một mật hiệu. Khi Angus kể về điều bí hiểm này, cha đã lắc đầu. “Đó là nhà của bà Dolly mà. Nơi đó không to hơn một túp lều là mấy.” Nhưng khi mùa xuân tới, Angus đã nhìn thấy quần áo phơi trên bờ giậu, chúng rủ xuống từ những chiếc cành của cái cây già nua và vặn vẹo. Và khi nó đi bộ dọc theo con đường thêm một tí nữa, nó nhìn thấy người phụ nữ quỳ cạnh chiếc chậu giặt bằng gỗ trên sân nhà, váy loang lổ đẫm nước. Bà ta có mái tóc trắng như bọt và đôi mắt lồi. Những dải ruy băng trên áo của bà thả lỏng. Nó đã thấy lớp mạng màu hồng trên ngực bà và nó biết ngay rằng bà là một ma nữ.

“Và họ biết tên của những người đã chết.”

Angus nhìn lên.

Cha nheo mắt, nhớ về điều gì đó mà ông đã được kể. “Tên của những người sẽ chết,” ông nói. “Những thứ quần áo là quần áo dành cho huyệt mộ. Những gì người chết sẽ mặc khi họ được chôn.” Ông đặt nĩa xuống, nhấc rượu whisky lên. Angus quan sát cách cha mình ngậm rượu trong miệng một lúc lâu trước khi nuốt.

Khi mẹ của Angus chết, họ đã đặt bà nằm trên chiếc giường vừa trải ga, trong bộ váy vàng có những bông hoa xanh. Mặc dù điện đã tắt, những chiếc rèm đã được kéo và ngọn đèn cạnh giường tỏa ánh sáng vàng như mật xuống chiếc váy, mặt mẹ vẫn tái nhợt. Sau khi mẹ được chôn cất, cha ngồi ngoài nhà suốt nhiều ngày trời, nhìn ra cánh đồng hoang, không đưa Angus đi học như lẽ ra ông phải làm. Bác Cathal đến. Ông nói: “Sandy này, như vậy không tốt đâu. Không tốt cho em và cho cả thằng bé.” Rồi từ lúc đó họ chuyển nhà đến Armadale - ngôi làng cạnh biển, nơi một số người dòng họ Mackay vẫn còn sống ở đó và bác Cathal có thể giúp họ.

* * *

Nó là người lạ mặt đầu tiên đặt chân đến nhà của bà trong suốt nhiều năm trời - đứa con trai nhỏ xíu thường quanh quẩn trước cổng, tóc lòa xòa xuống mắt. Mặc dù bà đã già rồi, quá tuổi làm mẹ nhiều năm, bà vẫn cảm thấy lực kéo của những đứa trẻ, như một tấm vải gặp cơn gió, căng phồng lên từ phía bên trong.

Doileag đứng lên từ chậu quần áo, một tay chống vào lưng, cảm thấy sức nóng của mặt trời trên áo. Bà có thể thấy rằng thằng bé có cái mũi dong dỏng của nhà Mackay, mái tóc thẫm và làn da màu vàng ủng của họ. Bây giờ khi đã nghĩ ngợi, bà biết thằng bé. Nó là đứa nhỏ nhất ở nông trại.

“Sandy Mackay,” bà nói mơ màng rồi nhanh chóng nhận ra mình đã lầm: Sandy đã lớn từ lâu rồi, chắc chắc là đã gần ba mươi tuổi.

Cặp mắt của cậu bé mở to. Rồi khi bà tiến tới một bước, nó phóng xuống từ cổng và ào ra đường. Bà nhìn nó chạy, chân trượt trong bụi. Bà trở về chậu giặt, vắt khô chiếc áo cuối cùng rồi đổ nước lên cỏ. Thật lạ, hành động của những đứa trẻ. Mặc dù trời vẫn nắng, thời điểm tốt cho việc phơi khô đã qua, làn gió lạnh thổi qua như băng giá. Bà đem những thứ đã gấp vào nhà và treo chúng lên con ngựa. Rồi bà đem đồ đan ra chiếc ghế cạnh cửa và đợi.

Doileag thức dậy khi tiếng kêu vẳng ra từ ống khói lò sưởi, mảnh len đan dở ở trong lòng bà. Bà dụi mắt, quay về phía cửa sổ nơi bóng nhà kho đang ngả màu xanh lên thảm cỏ. Những chiếc cành của cái cây già nua lung lay, rập rờn trong gió. Từ khi mùa xuân đến, mọi thứ vẫn vậy, hàng đêm bà vẫn chờ cho những chiếc bóng hội tụ quanh vườn. Lần đầu tiên khi người đàn ông xuất hiện, bà đang đọc một quyển sách với chiếc đèn trên ngưỡng cửa sổ, bóng tối đằng sau cửa sổ chập chờn. Nhìn ra bầu trời rực hồng, nơi những dây đậu leo in bóng trong hoàng hôn, bà đã nhìn thấy ông ấy. Một người đàn ông trong vườn. Có điều gì đó cổ lỗ sĩ về chiếc áo khoác và chiếc mũ nồi Scotland người đàn ông đang mặc, một chàng trai trẻ. Và rồi khi chàng trai quay đầu, bà cảm thấy giống như mình bị tạt một cú nước lạnh - thứ nước từ Đại Tây Dương vào Ngày Năm Mới, sự lạnh giá dâng tràn lên ngực. Cha của bà, người bỗng nhiên trẻ lại, với đôi vai đủ mạnh để đảo than bùn.

Ống khói kêu rền rĩ, những chiếc cành lắc lư và ông ở đó, đằng sau lùm cây đại hoàng, ánh trăng sáng rực trên mũ bê rê. Chính là ấm nước. Đó là lý do ông đã quay trở lại. Mẹ bà đã luôn nói rằng cái ấm nước ám ảnh ông và thậm chí dưới mồ hình ảnh nó vẫn hiện ra trước đôi mắt đã chết của ông. Với mẹ bà, ông là một linh hồn thao thức, một người đàn ông trầm lặng. Nhưng với Doileag, khi quan sát ông hớp từng ngụm trà, sự im lặng của ông là một thứ sương mù của biển trôi dạt qua chiếc bàn. Và cái ngày sũng nước đó. Ừm, bà chỉ mới chín tuổi thôi. Ông đang cúi xuống bên ngọn lửa, cô gái nhỏ là bà chợt đến sau lưng ông. Khi ông đứng thẳng lên, quay người, bà thấy ấm nước đầy tràn, nước nhỏ giọt từ vòi. Đôi mắt của ông mở thật to, miệng ông chùng xuống và há to ra. Và rồi sức nóng xé toạc bà ra từ ngực cho tới bụng.

Vết sẹo bây giờ có màu hồng với chiều rộng khoảng ba xăng-ti-mét chạy suốt từ rốn cho tới giữa người bà, gợn sóng qua ngực bà. Đó là lý do bà không lấy chồng. Đó là điều cha mẹ bà đã thì thầm với nhau trong bóng tối nhiều năm sau đó, khi họ nằm trên chiếc giường nơi giờ đây bà ngủ.

Khi bà nhìn kỹ lại, người đàn ông đang ở cạnh cây bu - lô sáng lung linh, chiếc mũ kéo sụp xuống mặt. Bà sợ ông nhìn về phía ngôi nhà. Rằng ông sẽ xoay người, nhảy chân sáo qua sân (vì còn trẻ, nên ông chắc chắn đầy năng lượng) và bước những bước mạnh mẽ tới cửa nhà. Bà kéo rèm và đem đèn tới giường. Trăng sáng vằng vặc nhưng không có chiếc bóng nào ở cửa sổ. Đêm nay không có.

* * *

Ma nữ đã thốt lên tên của cha nó. Angus nằm thao thức, nhìn trừng trừng lên những tấm rèm. Cha ở dưới nhà, nằm trên sofa, những chiếc bóng phủ xuống mặt ông trong ánh sáng lập loè từ ti vi. Khi lâm bệnh, mẹ không thể nói được. Thay vào đó, mẹ thở yếu ớt khò khè và đôi khi bà bị sặc. Những câu chuyện, những bài hát nằm đâu đó sau cặp môi tái nhợt.

Cửa phòng khách mở, tiếng ti vi đột nhiên oang oang, và Angus nghe thấy tiếng cha sục sạo trong bếp. Ông hẳn đang lấy rượu whisky. Angus nhìn lên trần nhà màu xám và dỏng tai nghe. Có tiếng kim loại chạm vào nhau khi nắp chai rượu được vặn lại và rồi không có tiếng động nào nữa.

“Cha ơi?”

Tiếng sàn nhà cọt kẹt ở sảnh ra vào.

“Cha ơi!”

Khi họ mới chuyển về đây, cha đã xé toạc tấm thảm khỏi những bậc cầu thang, chỉ để lại vài sợi thảm và búi màu xanh. Bây giờ ông đang đi thình thịch lên những bậc thang gỗ trần trụi. Rồi chẳng mấy chốc, cửa mở, cha bật đèn lên.

“Gì vậy, con trai?”

Angus nhổm lên trên hai khuỷu tay, nheo mắt. Mẹ sẽ chẳng bao giờ bật đèn lên như vậy. Mẹ sẽ lặng lẽ đến bên nó trong bóng tối, ấn tấm chăn xuống cằm nó, thì thầm với nó. Mi mắt của cha sụp xuống. Rượu whisky khiến mắt của cha như vậy. Trông cha đờ đẫn, mắt vàng ủng.

“Con cần gì, con trai.”

“Dạ, không. Con không sao ạ.”

Cha gật đầu. “Vậy, chúc con ngủ ngon.”

Angus kéo chăn lên cằm nhưng không ngủ. Nó đang nghĩ về những thứ mà ma nữ, người sống ở ngôi nhà nhỏ cạnh biển, có trong chậu giặt bằng gỗ của bà.

* * *

Doileag quỳ trên thảm cỏ cạnh nhà, giũ chiếc áo khoác cuối cùng của bà. Ngước nhìn ra cổng, những tấm gỗ thẫm màu dưới bầu trời xám xịt, bà nhớ về cậu bé. Đôi tay bé nhỏ của cậu đã vịn vào cột hàng rào. Ngọn gió rì rào trên những tàng cây, thổi phần phật chiếc áo ghi-lê.

Mẹ, chị và anh em trai của bà đã chết trẻ. Không người nào quá năm mươi tuổi. Nhưng Doileag đã nhìn cha bà già đi. Với cặp má hóp lại và đôi tay gầy guộc, cha bà đã ngồi với bà ở bàn, luôn kiên nhẫn với sự trầm lặng của ông. Có phải cha bà đã trở về vì bà? Có phải thời điểm đã đến để bà lìa đời?

Bà giặt xong váy lót và lôi nó ướt lướt thướt từ chậu giặt. Sương mù đang lan đến từ hồ. Ngón tay dài ngoẵng của nó vòng qua những cái cây, luồn giữa cành cây. Từ sau lưng, nó trôi như hơi thở qua tai bà. Những chiếc bóng dày lên dưới cây bu - lô. Dẫu bà không dám quay đầu, bà biết cha mình ở đó, áo của bà đột nhiên đẫm ướt từ nơi mà bà đã ôm chiếc áo khoác vừa giặt vào ngực. Khi bà tiến bước nữa tới ngôi nhà, đôi ủng của bà vướng vào những nếp gấp ẩm ướt của áo khoác và bà ngã. Bà nhổm người lên trên khuỷu tay, quay người nhìn, thu vào tầm mắt nhà kho, bờ đê, rau củ. Bà vừa chờ vừa thở. Và khi không điều gì xảy ra, bà bắt đầu khóc.

* * *

Ngoài ngôi làng, bầu trời đã tối, nhưng bầu không khí vẫn thoang thoảng mùi rong biển ấm áp, mùi những chiếc thừng bị cọ tơi tả và mùi chiếc giỏ đựng cá bị bỏ ngoài nắng. Angus rẽ xuống phía những vách đá. Trên cánh đồng ngập sương mù, những con cừu be be gọi mẹ, tiếng kêu khắc khoải của chúng vang rền tới tận mũi biển. Nó muốn biết quần áo trong chậu giặt của ma nữ già nua là của ai. Nó vừa đi vừa đá viên sỏi, nhìn mái nhà nhỏ nhô lên giữa những ngọn đồi.

Khi đến đằng sau ngôi nhà, Angus có thể nghe một bài hát u buồn vang lên trên biển. Một tiếng kêu não lòng bay lên rồi hạ xuống trên ngọn gió. Nó đi chậm lại và ở vài mét cuối cùng, Angus bò trườn tới cổng. Đặt chân lên tấm ván thấp nhất, nó đẩy người lên, nghe bài hát rõ hơn lúc này. Ma nữ đang lê mình qua sân, chân cào vào đất. Mắt bà và mắt nó chạm nhau. Tiếng kêu của bà lục khục trong cổ họng. Khi bà giơ tay lên chỉ, Angus há hốc miệng. Nó phóng xuống từ chiếc cổng và chạy, chạy miết mà không hề ngoảnh lại.

Đêm đó khi Angus đợi ở đầu cầu thang để cha cho nó đi ngủ, có tiếng gõ cửa. Cha bước ra từ bếp và ngước nhìn nó. “Con vào giường đi. Chút nữa cha lên,” ông bảo nó, nhưng khi Angus không động đậy, ông thở dài và mở cửa.

“Sandy.” Tiếng của bác Cathal.

“Có việc gì không anh?”

“Bà Doileag bị ngã. Bà ấy lê đến nhà anh với một cái chổi dưới nách.” Angus dựa đầu vào những thanh cầu thang. Nó có thể thấy mặt của bác Cathal sáng lên ở cửa ra vào. “Em đưa bà ấy đến bệnh viện được không?” bác hỏi. “Anh muốn đưa bà ấy đi nhưng mắt cá chân của bà bị đau và anh không thể giúp bà leo lên xe tải được.”

Cha ngước nhìn lên những bậc cầu thang.“Cha nghĩ rằng con nên đi cùng, Angie. Lấy áo choàng ngủ của con nhanh lên.”

Ngồi trên xe ô tô một mình ngoài nhà bác Cathal, Angus nhìn cha trên bậc thềm. Những con chim sẻ bay vụt trên nóc nhà, chiếc bóng của chúng chấp chới trong hoàng hôn. Khi bác Cathal trở ra, ông đang đỡ ma nữ, một chiếc khăn nâu choàng qua đôi vai bà. Cha dìu lấy tay bà. Bà vừa đi vừa dựa vào người ông. Angus tưởng tượng chiếc khăn choàng có một cái mùi khăm khẳm như mùi cây cỏ mục rữa thành bùn. Cha giúp bà ngồi lên ghế trên cùng và đóng cửa xe, trong giây lát chỉ có nó và bà ở trong xe. Ngồi lệch một bên ở phía sau, Angus có thể thấy đường nét của mũi và cằm bà. Đầu của bà giật giật. Bà biết nó ở đó.

Cha vào xe, đóng cửa lại. Con đường tiến sâu vào đất liền tối thẫm. Những ngọn đồi đen đổ về phía xa xa và ở đó mọi vật màu xám. Cha hỏi Dolly liệu sống một mình có khó khăn lắm không.

“À, tôi đã quen với sự yên ắng.” Angus nhìn đôi môi mỏng của bà cong thành những hình thù khác nhau khi nói. Người bà có mùi xà phòng phơi nắng. Mẹ đã giặt những đôi tất dài với loại xà phòng đó và trải những đôi tất ấy dọc theo thành bồn tắm, treo chúng trên lò sưởi.

“Bà nằm đó bao lâu sau khi ngã?”

“Chẳng lâu đâu. Con trai anh đã tới.” Bà nói, xoay nửa người trên ghế. Giọng bà mềm đi khi cất lời. “Tôi không nghĩ cậu bé hiểu... những gì đã xảy ra. Tất cả khác xa với thế giới của cậu ấy.”

Cha của Angus ngước mắt nhìn nó trong gương nhưng chẳng nói gì. Sau đó họ lái xe đi trong im lặng, cánh đồng hoang trải dài hai bên đường. Buổi đêm tràn vào xe bằng những làn gió ấm áp trườn qua cửa sổ để mở.

Cha bảo Angus đem món thịt nghiền đến nhà bà Doileag. Thậm chí cha còn luộc khoai tây, cho vài củ vào nồi. Trời đã mưa, con đường ướt nhẹp. Trên đồi, những vũng nước sáng lên, như thể chúng là bầu trời chạy trốn nhưng bị bùn giữ lại. Tại chiếc cổng lớn, Angus đặt nồi xuống đất để cởi dây bện.

“Gì đó?” một giọng nói vang lên và trái tim nó sắp nhảy ra khỏi lồng ngực. Người phụ nữ đang ngồi trên bậc thềm, cánh cửa đằng sau để mở, từ nơi đó bóng tối đang bò lan ra. Lúc đó Angus muốn bỏ đi. Bỏ lại chiếc nồi và chạy.

Nhưng khi nó vẫn đang suy nghĩ, bà nói: “Này này, mèo tha mất lưỡi của cháu rồi à?”, Angus cảm thấy đã quá muộn để quay đi. Vì thế nó bước tới chậm rãi, giả vờ cái nồi nặng và nó không muốn làm đồ ăn đổ. Giả vờ nhìn xuống đôi tay đang đặt trên tấm vải lau bát đĩa được gấp lại, nhưng thật ra nó đang quan sát nơi người đàn bà đang ngồi, để cố gắng quyết định nên dừng xa bà bao nhiêu. Chiếc váy xanh của bà phủ xuống những bậc thềm. Dưới chiếc váy, nó nhìn thấy đôi chân trần của bà. Đôi chân nhìn khá bình thường. Một chân bị băng bó, nhưng những ngón chân trông như những ngón chân bình thường. Cách bà khoảng một mét, nó cúi xuống, đặt nồi xuống đất. Bà cười với nó rồi nhìn ra bầu trời trên mặt biển. “Cháu nhìn thấy không? Một chiếc cầu vồng.” Nó hơi xoay người, vẫn để ý tới bà, nhưng đằng kia thật sự có một chiếc cầu vồng. Nhạt như nét vẽ bút chì.

“Cháu đã từng nhìn thấy cầu vồng,” Angus nói, rồi ước rằng mình chưa từng nói gì.

“Vậy à?”

Nó quay đi, không muốn nói với bà nơi mà nó đã nhìn thấy cầu vồng. Ở sân nhà thờ, cái ngày mà nó và cha đã bỏ mẹ lại. Góc râm đó nơi những bia mộ chụm lại dưới đê. Nó không muốn nghĩ về điều đó, rằng mẹ vẫn ở đó dưới tất cả những lớp đất ấy.

“Một chiếc cầu bắc lên thiên đàng. Đó chính là nó.” Bà gật đầu về phía chiếc cầu vồng in trên bầu trời xám. “Chắc hẳn có ai đó đang leo lên cầu. Để lên thiên đàng.”

“Một người đã chết hả bà?”, nó hỏi.

“Này, này, cậu bé, đừng lo lắng. Đó chỉ có thể là một người già cỗi như bà mà thôi. Cây cầu duỗi màu sắc của nó từ trên trời đến tận chân con người. Và con người đi lên cao.” Bà vòng tay thành một hình vòm trên đầu.

Lúc đó nó cũng nhìn lên. Nhìn vút lên bầu trời rạng rỡ đầy sấm sét. Angus nghĩ về chiếc cầu vồng ngày xưa, tưởng tượng chiếc cầu vồng đó hạ xuống sân nhà thờ như thể sương mù nhưng rực lên màu đỏ và màu tím, màu sắc chảy tràn xuống cỏ. Nó nhìn thấy đôi giày bóng lộn của mẹ bước đi những bước đầu tiên vào trong sương mù.

Angus bưng chiếc nồi lên và tiến tới chỗ bà Doileag. “Cha cháu nấu món thịt nghiền cho bà. Có cả khoai tây nữa.”

“Ôi, tuyệt quá. Đưa bà cầm cho nào.”

“Bà kể cháu nghe về cây cầu bà nhé”.

“Ừ, bà sẽ kể!”

Doileag nhẹ nhàng kéo váy qua một bên để có chỗ cho Angus ngồi xuống bậc thềm.

Nguyễn Phan Quế Mai chuyển ngữ


___________________
(Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 273, tháng 6 năm 2017)





Các bài viết cùng chủ đề

      
      
      
      
      
      
      
      
      
      

Giấy phép số 229/GP-TTĐT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 3 tháng 12 năm 2008
Tòa soạn: 128 Trần Hưng Đạo - Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị • E-mail: tapchicuaviet@gmail.com • Điện thoại: 053.3852458

Copyright © 2008 http://www.tapchicuaviet.com.vn - Thiết kế: Hồ Thanh Thọ • wWw.htt383.com