Tranh & Ảnh nghệ thuật
Giá sách Cửa Việt
Liên kết Website
Thống kê
Bài đăng : 9789
Người online: 35
Truy cập trong ngày: 102
Lượt truy cập
Giới thiệu Tạp chí số mới
Số 272 (5 - 2017)
Email chuyên mục
Email chung tapchicuaviet@gmail.com

Sự kiện bình luận - Thơ ythitccv@gmail.com
Bút ký
camnhung1308@gmail.com
Truyện ngắn
hkzanh@gmail.com
Văn hóa thời đại thuyliencuaviet@gmail.com
Người & Đất quê hương letrongthi79@gmail.com
Tranh - Ảnh Mỹ thuật htt383@gmail.com



Tư tưởng chỉ đạo của đồng chí Lê Duẩn qua “Thư vào Nam”
 Lê Thị Hồng

Khi người lính Pháp cuối cùng rút khỏi bờ Nam sông Bến Hải, người dân Việt Nam vẫn tin rằng, việc chia cắt này là tạm thời và đất nước sẽ thống nhất vào tháng 7 - 1956 bằng một cuộc tổng tuyển cử tự do và dân chủ. Thế nhưng, Mỹ nhảy vào Đông Dương, vĩ tuyến 17 lại mang trên mình nỗi đau chia cắt. Khát vọng hòa bình, độc lập dân tộc và thống nhất đất nước lại càng trở nên cháy bỏng hơn vì miền Nam ruột thịt vẫn còn dưới ách thống trị của tên thực dân đế quốc mới.

Từng lăn lộn với phong trào cách mạng miền Nam từ bưng biền Đồng Tháp tới Sài Gòn đô thành, đồng chí Lê Duẩn đã không cầm được nước mắt khi đồng bào, đồng chí miền Nam hân hoan đón nhận Hiệp định Giơnevơ, tin tưởng sau hai năm sẽ sum họp, thống nhất. Vì vậy, theo yêu cầu của Bác Hồ và Trung ương Đảng, vì trách nhiệm lớn lao trước vận mệnh dân tộc, đồng chí ra Bắc sau một thời gian hoạt động tại miền Nam.

Cùng với Trung ương Đảng quyết định con đường đấu tranh cách mạng ở miền Nam, thực hiện nguyện ước của Bác Hồ và cả dân tộc “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”, đồng chí Lê Duẩn - trên cương vị là Tổng Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hồ Chủ tịch, đã dồn hết tâm lực chỉ đạo sâu sắc cuộc kháng chiến chống Mỹ. Tư tưởng chỉ đạo chiến lược của đồng chí thể hiện tư duy vô cùng phong phú, sáng tạo với tinh thần độc lập, tự chủ và một quyết tâm nhất quán không gì lay chuyển trên tất cả các lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao.

Thế hệ hôm nay và mai sau khó có thể hình dung được sức lao động của một lãnh tụ không chỉ thể hiện trên bàn hội nghị, bằng các chỉ thị, nghị quyết, những cuộc gặp gỡ, thảo luận, mà còn qua những bức thư vừa là đỉnh cao của trí tuệ vừa chứa chan tình đồng chí, đồng bào. Đó là Thư vào Nam - một di sản quý báu mà đồng chí Lê Duẩn đã để lại.

Tư tưởng chỉ đạo của đồng chí Lê Duẩn qua những bức thư vào Nam thể hiện ở nhiều vấn đề nổi bật, có thể nêu một số vấn đề sau:

1. Tư tưởng quyết tâm kháng chiến đến ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Trong thư gửi đồng chí Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh) và các đồng chí Xứ ủy Nam Bộ ngày 20 - 4 - 1961, đồng chí khẳng định: Sự nghiệp giải phóng miền Nam dù lâu dài, gian khổ đến mấy, cuối cùng cũng nhất định giành được thắng lợi hoàn toàn” và “trong bất cứ tình thế nào, nhân dân ta cũng phải thắng. Chúng ta thà hi sinh tất cả chứ không bao giờ chịu mất nước, không bao giờ chịu đầu hàng (Lê Duẩn: Thư vào Nam, NXB Sự thật, Hà Nội, 1986, tr. 49).

Tư tưởng chỉ đạo này không phải chỉ bắt nguồn từ tình yêu đất nước nồng nàn, cháy bỏng, từ quyết tâm lớn lao mà còn dựa trên sự phân tích rất khoa học so sánh lực lượng một cách toàn diện; nhìn thấy trước những khó khăn, gian khổ bội phần đồng thời hiểu sâu sắc tinh thần yêu nước, quật cường của đồng bào, đồng chí, chiến sĩ ở miền Nam và dự đoán thời gian đi đến thắng lợi một cách tài tình. 

Đồng chí Lê Duẩn chỉ rõ: Quyết tâm của Đảng và nhân dân ta đánh thắng giặc Mỹ xâm lược trong bất kỳ loại chiến tranh nào là dựa trên sự phân tích lực lượng so sánh giữa ta và địch, đánh giá đúng chỗ mạnh, chỗ yếu của Mỹ, để không phạm sai lầm chủ quan, khinh địch, đồng thời để có quyết tâm đầy đủ, có cách đánh tốt nhất giành thắng lợi cuối cùng (Sđd, tr. 101).

Từ cách nhìn biện chứng đó, đồng chí phân tích cặn kẽ so sánh lực lượng giữa ta và địch: Nhìn chung tiềm lực kinh tế, quân sự thì phải nói là Mỹ mạnh hơn ta. Riêng ngân sách quân sự của Mỹ hằng năm hiện nay là 50 tỷ đôla, trong khi đó, giá trị tổng sản lượng công nông nghiệp của miền Bắc nước ta hằng  năm chỉ trên một tỷ đô la. Nhưng tại sao ta vẫn cho là Mỹ yếu? Nói đến mạnh, yếu là nói về lực lượng so sánh cụ thể, trong thời gian và không gian nhất định, chứ không phải là một bài tính đơn giản, máy móc. Chúng ta nhận định rằng hiện nay ở Việt Nam, Mỹ yếu cả về chính trị và quân sự (Sđd, tr. 101). Đồng chí khẳng định: Hiện nay, nói về sức mạnh quân sự thì đáng chú ý nhất là sức mạnh của chiến tranh nguyên tử và sức mạnh của chiến tranh nhân dân. Chỗ mạnh của Mỹ là vũ khí nguyên tử thì chúng không dùng được. Còn chỗ mạnh của ta là chiến tranh nhân dân thì Mỹ không có. Phát huy ưu thế này và những kinh nghiệm tích lũy được, chúng ta nhất định đánh thắng bất kỳ tên xâm lược nào, dù đó là đế quốc Mỹ (Sđd, tr. 106).

Vì vậy, đồng chí tin tưởng rằng: nhất định quần chúng cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng tiên phong có đủ lực lượng và phương pháp để đấu tranh giành thắng lợi (Sđd, tr. 51). Bởi vì, chúng ta “có ý chí quyết đánh, quyết thắng của toàn dân ta từ Bắc chí Nam, từ đảng viên đến quần chúng. Sự lãnh đạo của Đảng ta, một Đảng dày dạn trong đấu tranh cách mạng, nắm vững quy luật của chiến tranh nhân dân. Và sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của anh em bầu bạn trên khắp thế giới” (Sđd, tr. 105-106).

Tinh thần đó, khí phách đó luôn là tư tưởng chủ đạo, thấm đượm trong từng trang thư, động viên mạnh mẽ đội ngũ cán bộ, đảng viên chấp nhận hy sinh, gian khổ, lãnh đạo quần chúng nhân dân đoàn kết chiến đấu để giành chiến thắng. Và trong khi ra sức động viên cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân miền Nam quyết chiến và quyết thắng, đồng chí cũng không quên thay mặt Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, toàn Đảng, toàn quân và dân miền Bắc hứa sẽ làm tròn nhiệm vụ của hậu phương lớn xã hội chủ nghĩa, tiếp sức cho chiến trường miền Nam đánh Mỹ. Tư tưởng chỉ đạo của đồng chí Lê Duẩn qua Thư vào Nam về quyết tâm kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng không chỉ dành cho miền Nam mà đó là sự chỉ đạo đối với cả nước, là quyết tâm của cả dân tộc chưa bao giờ khuất phục trước cường quyền, áp bức.

2. Tư tưởng chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn qua Thư vào Nam về phương pháp cách mạng miền Nam.

Trước một kẻ thù thâm độc, hiếu chiến và xảo quyệt, tuy có những điểm yếu nhất định nhưng là một đế quốc siêu cường về quân sự và kinh tế, làm thế nào để thắng Mỹ? Đó là câu hỏi lớn mang tính thời đại. Trên cơ sở đường lối kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã được xác định, đồng chí Lê Duẩn cho rằng muốn đánh thắng Mỹ thì cần phải có một phương pháp cách mạng đúng đắn, sáng tạo và chính đồng chí đã vạch ra và từng bước hoàn chỉnh trong quá trình chỉ đạo chiến tranh.

 Phương pháp cách mạng miền Nam được khái quát ngắn gọn trong một công thức gồm bốn đoạn: “Khởi nghĩa từng phần - quân sự, chính trị kết hợp - ba vùng chiến lược - tổng công kích, tổng khởi nghĩa”. Đồng chí nhấn mạnh: Xuất phát từ tình hình hiện nay và kinh nghiệm trước đây của cách mạng, chúng ta đề ra chủ trương đánh địch bằng cả hai lực lượng chính trị và quân sự, tiến tới tổng khởi nghĩa, tổng công kích để giải phóng miền Nam. Ta phải phát động quần chúng đấu tranh chính trị, phát triển lực lượng chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang, đánh địch cả về chính trị và quân sự, thực hiện nhiệm vụ chiến lược quan trọng là tiêu diệt sinh lực địch, tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền (Sđd, tr. 36).

Đồng chí nhắc nhở: Phải có thực lực, đồng thời chúng ta cũng phải biết nắm thời cơ, bất ngờ tiến công địch, khởi nghĩa từng phần, đánh thắng địch từng bước, tiến lên đánh thắng địch trên toàn chiến trường, khởi nghĩa giành toàn bộ chính quyền (Sđd, tr. 37).

Từ thực tiễn cách mạng miền Nam và từ kinh nghiệm Cách mạng tháng Mười Nga và Cách mạng tháng Tám của Việt Nam, đồng chí Lê Duẩn chỉ đạo: Trong trường hợp của miền Nam, muốn tiến tới tổng khởi nghĩa thì phải làm cho quân đội địch bị đánh bại, mà ở đây, quân địch bị đánh bại chủ yếu là do lực lượng vũ trang cách mạng của ta (Sđd, tr. 47).

Do đó, đồng chí yêu cầu các cấp lãnh đạo chiến trường cần phải nắm vững phương châm đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh quân sự. Đồng chí chỉ ra rằng, khởi nghĩa nhất thiết phải kết hợp với tổng công kích và tổng công kích phải đi trước một bước. Kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, kết hợp khởi nghĩa của quần chúng với chiến tranh cách mạng sẽ là nội dung mới, hình thức mới của chiến tranh giải phóng ở miền Nam. Trong đó đấu tranh quân sự phải được đẩy lên ngang tầm với đấu tranh chính trị. Càng về sau thì đấu tranh quân sự càng trở thành cuộc đọ sức chủ yếu giữa ta và địch.

Về đấu tranh chính trị, đồng chí Lê Duẩn kiên trì nhấn mạnh vai trò của hình thức đấu tranh cơ bản đó trong mọi thời kỳ của cách mạng và chiến tranh cách mạng miền Nam, phê phán những nhận thức tư tưởng không đúng, coi nhẹ đấu tranh chính trị. Trong thư gửi anh Mười Cúc và Xứ ủy Nam Bộ tháng 4 năm 1961, đồng chí chỉ đạo rất cụ thể về việc tập hợp quần chúng vào mặt trận đấu tranh chính trị: Muốn phát động được và đưa quần chúng ra đấu tranh, phải đề ra yêu cầu cụ thể về dân chủ, dân sinh, phù hợp với nguyện vọng của đông đảo quần chúng. Không nên huy động biểu tình liên miên, kéo dài, không có mục đích rõ ràng làm cho lực lượng nòng cốt và quần chúng mệt mỏi. Phải luôn luôn quan tâm đến các yêu cầu về kinh tế của quần chúng. Ngay trong những cuộc đấu tranh giành chính quyền ở thôn, xã, cũng phải tìm cách nêu ra những khẩu hiệu về kinh tế (Sđd, tr. 49). Trong thư gửi Anh Xuân (đồng chí Nguyễn Chí Thanh) tháng 2 - 1965, đồng chí chỉ đạo phải gấp rút xây dựng đội quân chính trị với hình thức tổ chức, khẩu hiệu đấu tranh thật linh hoạt để có thể thu hút tuyệt đại bộ phận quần chúng vào những tổ chức do ta lãnh đạo. Phải khéo léo hướng dẫn quần chúng hành động theo khẩu hiệu của cách mạng, làm cho quần chúng trên thực tế chịu sự chỉ huy thống nhất của ta trong những giờ phút quyết định (Sđd, tr. 93).

Đồng chí nêu lên nhiều vấn đề về khẩu hiệu đấu tranh chính trị và kinh tế, về các hình thức đấu tranh bất hợp pháp, nửa hợp pháp và hợp pháp, về các tổ chức bí mật, nửa công khai, biến tướng và công khai… nhằm huy động đông đảo quần chúng tham gia đấu tranh, đồng thời bảo vệ được lực lượng cách mạng, tạo thế hợp pháp để quần chúng nhân dân có điều kiện sản xuất, kinh doanh, duy trì cuộc sống bình thường, đóng góp cho cách mạng và sẵn sàng chuẩn bị cho khởi nghĩa khi thời cơ đến.

Tư tưởng chỉ đạo về đấu tranh vũ trang của đồng chí Lê Duẩn qua Thư vào Nam thể hiện tư duy quân sự độc đáo và sáng tạo.

Trước hết, đồng chí chỉ đạo phải tăng cường xây dựng lực lượng vũ trang. Trong thư gửi Anh Mười Cúc và các đồng chí Nam Bộ ngày 7 - 2 - 1961, đúc rút những bài học qua cuộc kháng chiến chống Pháp, cách mạng Trung Quốc và cách mạng Lào, đồng chí nêu lên mặt yếu của ta về quân sự: Hiện nay, về lực lượng chính trị thì có thể nói ta chiếm ưu thế tuyệt đối so với Mỹ - Diệm. Nhưng về lực lượng vũ trang thì ta kém hơn địch nhiều. Chúng ta chưa đủ lực lượng làm chủ Tây Nguyên, một địa bàn trọng yếu đóng vai trò xương sống chiến lược của toàn bộ chiến trường miền Nam. Chúng ta cũng chưa làm chủ được đồng bằng Nam Bộ, đồng bằng Khu 5, kể cả các thị trấn. Trong tình hình đó, nếu có điều kiện thuận lợi cho phép khởi nghĩa thành công, làm chủ thành thị, thì chúng ta cũng không thể giữ được mà phải rút ra để chiến đấu lâu dài  (Sđd, tr. 35-36). Để các đồng chí lãnh đạo miền Nam hiểu sâu hơn về việc phải gấp rút xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang, đồng chí phân tích: Một điều cần khẳng định là cách mạng miền Nam không chỉ đối phó với chính quyền và quân đội Diệm mà còn phải đối phó với cả đế quốc Mỹ và tay sai..., vì vậy: Ta phải phát động quần chúng đấu tranh chính trị, phát triển lực lượng chính trị, xây dựng căn cứ địa, xây dựng lực lượng vũ trang, đánh địch cả về chính trị và quân sự, thực hiện nhiệm vụ chiến lược quan trọng là tiêu diệt sinh lực địch, tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền (Sđd, tr. 36).

Tiếp trong thư gửi ngày 20 - 4 - 1961, đồng chí khẳng định: Từ đây, đấu tranh vũ trang chuyển sang đóng vai trò ngày càng quyết định và chỉ đạo cụ thể: Phải ra sức xây dựng lực lượng vũ trang bao gồm dân quân, du kích ở thôn, xã, bộ đội địa phương tỉnh, huyện đến bộ đội chủ lực khu, miền, đồng thời phải đẩy mạnh đấu tranh quân sự của ba thứ quân để giúp sức đắc lực cho đấu tranh chính trị (Sđd, tr. 43).

Trong thư gửi anh Bảy Cường (đồng chí Phạm Hùng) ngày 10 – 10 - 1974 về nội dung “Kết luận đợt một của Bộ Chính trị”, trong đó đúc kết tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị và cũng là tư tưởng chỉ đạo của đồng chí suốt tiến trình cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của quân và dân miền Nam về đấu tranh vũ trang và chiến tranh cách mạng: Kết hợp “ba mũi giáp công”, sử dụng ba thứ quân, kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lớn, vừa chú trọng tiêu diệt sinh lực địch, vừa đánh phá cơ sở hậu cần, phương tiện chiến tranh, cơ quan đầu não của địch... Những vấn đề có tính quy luật đó đã trở thành khoa học và nghệ thuật quân sự, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, địa lý của Việt Nam, với đặc điểm, bản lĩnh con người Việt Nam; phát huy được sức mạnh của từng người, từng đơn vị, từng địa phương và sức mạnh chung của cả nước (Sđd, tr. 381).

Tư tưởng chỉ đạo của đồng chí Lê Duẩn về đấu tranh chính trị, đấu tranh quân sự và kết hợp chặt chẽ hai mũi tấn công đó được đề cập thường xuyên trong các bức thư gửi vào chiến trường, thể hiện cụ thể đường lối chỉ đạo kháng chiến của Trung ương Đảng, Bác Hồ, góp phần đặc biệt quan trọng vào diễn biến cuộc chiến tranh của nhân dân Việt Nam chống Mỹ, cứu nước.

Từng lời, từng chữ trong mỗi bức thư không chỉ là sự chỉ đạo cụ thể, sâu sắc mà còn gửi gắm một quyết tâm, một tình cảm cháy bỏng, trở thành niềm tin, sự thông suốt về tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ miền Nam. Trên nền một đường lối đúng đắn, một phương pháp cách mạng sáng tạo, quân và dân miền Nam đánh thắng Mỹ oanh liệt, hào hùng.

3. Tư tưởng chỉ đạo về vấn đề tạo thời cơ và nắm bắt thời cơ, về kết thúc chiến tranh, thắng địch một cách bất ngờ.

Là người chịu trách nhiệm trước Trung ương Đảng, Bác Hồ về chỉ đạo cuộc kháng chiến ở miền Nam, đồng chí Lê Duẩn không ngừng suy nghĩ và không ngừng sáng tạo trên cơ sở hiểu biết sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống kiên cường, bất khuất nhưng vô cùng nhân nghĩa của dân tộc và vận dụng kinh nghiệm đấu tranh cách mạng của các nước trong thời đại mới, hoàn cảnh quốc tế mới.

Trong thư gửi Anh Mười Cúc và Trung ương cục miền Nam tháng 7 - 1962, đồng chí Lê Duẩn khẳng định cách mạng miền Nam qua 8 năm tuy còn nhiều khó khăn, phức tạp nhưng vẫn không ngừng phát triển. Đồng chí căn dặn: “Người lãnh đạo phải luôn luôn vững vàng, đi đúng phương hướng, nắm thật chắc, thật rõ tình hình.” Phân tích tình hình cách mạng Lào và miền Nam trong thời gian này, đồng chí chỉ đạo: Đế quốc Mỹ phải thua nhưng có thể thua đến mức nào, ta phải thắng nhưng có thể thắng đến mức nào; đó là điều phải tính toán, đo lường cho chuẩn xác (Sđd, tr. 53). Đây là lần đầu tiên qua những bức thư gửi vào chiến trường, đồng chí Lê Duẩn nêu lên tư tưởng chỉ đạo về nghệ thuật kết thúc chiến tranh.

Thư gửi Anh Xuân tháng 2 - 1965, đồng chí chỉ rõ phương châm chiến lược của ta vẫn là: Chiến đấu lâu dài và ra sức tranh thủ thời cơ để giành thắng lợi. Đồng chí khẳng định, Bộ Chính trị cho rằng: chúng ta đang có thời cơ vì từ trận Ấp Bắc tới Bình Giã, Mỹ đã thua trong chiến lược “chiến tranh đặc biệt”. Sau đó, trong nhiều bức thư liên tiếp và càng về cuối cuộc chiến, vấn đề thời cơ càng được đồng chí nhắc đến nhiều hơn với tinh thần hết sức khẩn trương, hết sức nóng bỏng, thúc giục cán bộ, chiến sĩ tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.

Tư tưởng chỉ đạo về vấn đề nắm thời cơ, tạo thời cơ gắn liền với vấn đề giành những thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn và giành thắng lợi từng bước, thắng địch một cách bất ngờ đi đến thắng lợi cuối cùng. Đồng chí chỉ rõ: Chúng ta đặt ra yêu cầu giành một thắng lợi căn bản trong tình hình cụ thể của chiến tranh. Điều đó rõ ràng có khác với giành thắng lợi hoàn toàn trong bất cứ tình huống nào.

Sau khi phân tích rất kỹ tất cả các tình huống mà diễn biến cuộc chiến tranh có thể xảy ra, nêu lên những nhiệm vụ cần phải làm để thắng địch trong thời gian trước mắt như tác chiến quân sự trên ba vùng chiến lược, xây dựng căn cứ địa phát triển lực lượng cách mạng, đồng chí dành hẳn một phần trong thư gửi Trung ương cục miền Nam để nói về vấn đề “biết thắng địch một cách bất ngờ”.  Đây vừa là vấn đề lý luận, một nghệ thuật quân sự độc đáo, vừa là tư tưởng chỉ đạo vô cùng sáng tạo của tầm cao trí tuệ trong thời đại Hồ Chí Minh. Đồng chí Lê Duẩn viết: Biết thắng địch một cách bất ngờ là một trong những nhân tố quan trọng để giành thắng lợi, một phương châm tác chiến mà tất cả những người cầm quân đều phải nhuần nhuyễn. Thắng địch một cách bất ngờ không có nghĩa là thắng một cách tình cờ hoặc cầu may, mà phải có ý thức, có chuẩn bị trước, có kế hoạch khắc phục mọi khó khăn, trở ngại và phải có tinh thần triệt để cách mạng, tinh thần quyết chiến, quyết thắng rất cao (Sđd, tr. 154). Và thắng địch một cách bất ngờ luôn gắn liền với nắm thời cơ, tranh thủ thời cơ mà tiến công khi quân địch hoang mang, tan rã trên chiến trường hoặc khi chính quyền Mỹ, ngụy bị khủng hoảng nghiêm trọng về chính trị, kinh tế.

Trong thư gửi anh Bảy Cường và Trung ương cục miền Nam tháng 6 - 1971, đồng chí Lê Duẩn khẳng định ta đã và đang thắng Mỹ. Chúng ta thắng vì Đảng ta có đường lối đúng... đồng thời ta biết nắm thời cơ và tạo được bất ngờ. Đồng chí viết: Yếu tố bất ngờ cũng là một vấn đề có tính quy luật trong cuộc chiến đấu gay go, quyết liệt giữa ta và địch. Nếu về phía Mỹ chúng luôn luôn bị bất ngờ vì thái độ chủ quan của chúng, thì về phía ta, tạo ra được bất ngờ để đánh thắng địch hoàn toàn không phải là điều ngẫu nhiên, mà là kết quả của một quá trình xây dựng lực lượng lớn mạnh, tạo thế chiến lược có lợi, tính toán và chuẩn bị cả về chiến lược cũng như chiến thuật. Vì vậy, trên bước đường tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn, những trận đánh cuối cùng của ta cũng phải là những trận bất ngờ được tính toán, chuẩn bị chu đáo và đầy đủ nhất (Sđd, tr. 261-262).

Tạo thời cơ, nắm lấy thời cơ và tạo được bất ngờ để đánh thắng địch cũng là nghệ thuật biết đánh và biết thắng như đồng chí chỉ đạo: Đã biết mở đầu đúng, biết đánh lâu dài thì chúng ta phải biết kết thúc đúng (Sđd, tr. 281).

Vì vậy mà vấn đề thời cơ được đồng chí chỉ đạo cụ thể hơn một bước: Phải thấy hết tầm quan trọng của việc nắm vững thời cơ. Thắng lợi có ý nghĩa chiến lược trong mùa xuân năm 1971, việc Mỹ phải rút thêm quân cuối năm nay và cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 1972 là những sự kiện do trùng hợp với nhau mà tạo nên thời cơ thuận lợi. Thời cơ đó mở ra cho chúng ta triển vọng giành thắng lợi lớn trong năm sắp tới, đồng thời cũng đòi hỏi ta phải cố gắng đến mức cao nhất, giành thắng lợi lớn nhất, làm cho Mỹ phải chấm dứt chiến tranh, quân Mỹ phải rút hết và ngụy quân, ngụy quyền phải suy yếu một bước nghiêm trọng (Sđd, tr. 281).

Những thắng lợi của ta trong năm 1972 buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pari là minh chứng cho sự đúng đắn về tầm chỉ đạo chiến lược chiến tranh của đồng chí Lê Duẩn mà Thư vào Nam là một phần trong hoạt động cách mạng sáng tạo đó.

Sau Hiệp định Pari, so sánh lực lượng có sự thay đổi lớn có lợi cho ta. Nhận định chính xác đặc điểm tình hình, đánh giá đúng so sánh lực lượng trên chiến trường, Đảng ta đã có những quyết định đúng đắn có ý nghĩa quyết định thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Các quyết định lịch sử của Đảng trong thời kỳ này thể hiện rõ tư tưởng chỉ đạo về tạo thời cơ, nắm bắt thời cơ kết thúc chiến tranh, thắng địch một cách bất ngờ của đồng chí Lê Duẩn.

 Các quyết định lịch sử của Đảng trong thời kỳ này được đồng chí Lê Duẩn giải thích rõ trong các bức thư, điện gửi các đồng chí lãnh đạo chiến trường miền Nam. Trong thư gửi đồng chí Phạm Hùng (Bảy Cường), Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương cục miền Nam ngày 10 - 10 - 1974, sau khi phân tích tình hình, so sánh lực lượng giữa ta và địch, đồng chí Lê Duẩn nhận định: Lúc này chúng ta đang có thời cơ. Hai mươi năm chiến đấu mới tạo được thời cơ này, chúng ta phải biết nắm lấy để đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đến thắng lợi hoàn toàn (Sđd, tr. 374). Ngoài thời cơ này, không có thời cơ nào khác. Nếu để chậm mươi, mười lăm năm nữa, bọn ngụy gượng dậy được các thế lực xâm lược hồi phục, bọn bành trướng mạnh lên thì tình hình sẽ phức tạp vô cùng (Sđd, tr. 375); do vậy, Thời cơ này đòi hỏi phải làm nhanh, làm gọn, làm triệt để nhưng phải khôn khéo. Có như thế mới tạo được bất ngờ, không ai kịp trở tay (Sđd, tr. 376). Cuối bức thư là một chỉ thị, một quyết tâm lớn của toàn Đảng, toàn quân, dân hai miền: Thời cơ này không cho phép lừng chừng, do dự (Sđd, tr. 383).

 Các bức điện gửi vào chiến trường trong những ngày tháng 3, 4 - 1975 thể hiện sự chỉ đạo sắc bén, táo bạo của đồng chí Lê Duẩn nhằm thực hiện thắng lợi những quyết định lịch sử của Đảng nói trên. Chỉ đạo giải phóng Đà Nẵng, trong thư gửi ngày 27 - 3 - 1975, đồng chí Lê Duẩn viết: Thời gian là lực lượng. Phải hành động hết sức táo bạo, bất ngờ, làm cho địch không kịp trở tay. Tin chiến thắng Đà Nẵng bay về làm cho yếu tố bất ngờ và thời cơ càng đóng vai trò quyết định của cuộc chiến, vì vậy, trong thư gửi anh Bảy Cường, anh Sáu, anh Tuấn hồi 14 giờ ngày 01 - 4 - 1975, đồng chí Lê Duẩn đã viết: Cách mạng nước ta đang phát triển với nhịp độ “một ngày bằng hai mươi năm”. Do vậy, Bộ Chính trị quyết định: Chúng ta phải nắm vững thời cơ chiến lược, quyết tâm thực hiện tổng tiến công và nổi dậy, kết thúc thắng lợi chiến tranh giải phóng trong thời gian ngắn nhất. Tốt hơn cả là bắt đầu và kết thúc trong tháng 4 năm nay, không để chậm. Phải hành động “thần tốc, táo bạo, bất ngờ.  Ngày 22 - 4 - 1975, đồng chí Lê Duẩn điện chỉ thị cho các đồng chí chỉ huy ở mặt trận: Thời cơ để mở cuộc tiến công về quân sự và chính trị vào Sài Gòn đã chín muồi. Ta cần tranh thủ từng ngày để kịp thời phát động tiến công. Hành động trong lúc này là bảo đảm chắc chắn nhất để giành thắng lợi hoàn toàn. Nếu để chậm sẽ không có lợi cả về quân sự và chính trị (Sđd, tr. 408).

Trong bức điện gửi các đồng chí trong Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh lúc 10 giờ ngày 29 - 4 - 1975, đồng chí Lê Duẩn chỉ thị: Các anh ra lệnh cho quân ta tiếp tục tiến công vào Sài Gòn theo kế hoạch, tiến công với khí thế hùng mạnh nhất, giải phóng và chiếm lĩnh toàn bộ thành phố, tước vũ khí quân đội địch, giải tán chính quyền các cấp của địch, đập tan triệt để mọi sự chống cự của chúng (Sđd, tr. 394).

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 toàn thắng là đỉnh cao về nghệ thuật nắm thời cơ, từ thời cơ này tiến lên tạo ra và nắm lấy thời cơ tiếp theo, liên tục, kiên quyết với khẩu hiệu “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ” để kết thúc chiến tranh một cách kịp thời, trọn vẹn và có lợi nhất. Đại thắng mùa xuân năm 1975 đã tạo ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc, đưa cả nước bước vào kỷ nguyên độc lập và chủ nghĩa xã hội. Hoài bão của Chủ tịch Hồ Chí Minh và khát vọng của toàn dân tộc đã trở thành hiện thực.

Bức điện cuối cùng của Thư vào Nam là lời chúc mừng, lời khen ngợi của Bộ Chính trị và chính đồng chí Lê Duẩn trong niềm vui dâng trào: Sài Gòn - thủ phủ của ngụy quyền miền Nam đã được giải phóng.

Những bức thư gửi ra chiến trường như những cánh én báo hiệu mùa xuân đã ngày càng đến gần, mỗi lúc một thôi thúc, một sự khẳng định với cách nhìn biện chứng, tràn đầy niềm tin và hy vọng, dẫu biết rõ rằng từng bước đi là phải vượt qua nhiều chông gai, gian khổ, hy sinh. Cũng chính vì vậy mà đồng chí Lê Duẩn trở thành người con ưu tú của mọi miền đất nước.

L.T.H

 

_____________

Tài liệu tham khảo: Thư vào NamLê DuẩnNhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội năm 1986.


___________________
(Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 270, tháng 3 năm 2017)





Các bài viết cùng chủ đề

      
      
      
      
      
      
      
      
      
      

Giấy phép số 229/GP-TTĐT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 3 tháng 12 năm 2008
Tòa soạn: 128 Trần Hưng Đạo - Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị • E-mail: tapchicuaviet@gmail.com • Điện thoại: 053.3852458

Copyright © 2008 http://www.tapchicuaviet.com.vn - Thiết kế: Hồ Thanh Thọ • wWw.htt383.com