Tranh & Ảnh nghệ thuật
Giá sách Cửa Việt
Liên kết Website
Thống kê
Bài đăng : 10097
Người online: 4
Truy cập trong ngày: 49
Lượt truy cập
Giới thiệu Tạp chí số mới
Số 279 (12 - 2017)
Thông tin Tòa soạn
Tổng biên tập

Thùy Liên

Thư ký Tòa soạn

Hoàng Công Danh

Trưởng ban Trị sự

Thanh Thọ

Ban biên tập

Lê Thi

Cẩm Nhung



Thơ Phương Uy từ những phức cảm phân tâm học
 Phan Tuấn Anh

em vẽ mùa thu màu mực nước

nỗi đau lộng lẫy bàn tay

(Phương Uy)

Trong thời gian gần đây, có một thi phẩm theo tôi giới nghiên cứu văn học và những bạn yêu văn chương chưa đánh giá đúng mức tiềm năng nghệ thuật của nó. Thi phẩm đó chính là Bụi của giấc mơ(Nxb Hội Nhà văn, 2017 - các trích dẫn trong bài, nếu không có chú thích gì thêm thì đều từ nguồn này) của nhà thơ trẻ Phương Uy. Tập thơ này đặc biệt trên nhiều phương diện khác nhau, mà trong khuôn khổ ngắn của tiểu luận này, tôi sẽ chỉ đi sâu vào nghiên cứu vô thức sáng tạo của tác giả.

Xem xét lại tâm lý học bề sâu, cũng như được gợi ý từ bài viết từng xôn xao văn đàn Việt Nam một thời của Đỗ Lai Thúy với tựa đề Đáp lời con quái Sphinx và cội nguồn sáng tạo thơ Xuân Diệu, tôi nhận thấy thơ Phương Uy dường như được lẫy động và thôi thúc do một mặc cảm/xu hướng giới tính đồng tính luyến ái. Quay trở lại với bài viết của nhà phê bình thời danh Đỗ Lai Thúy, trong hồi ký của mình, ông kể lại rằng bởi tạp chí Văn hóa Nghệ An đăng bài viết (sau này tạp chí Sông Hương đăng lại), mà nhà phê bình phân tâm học suýt bị Cù Huy Hà Vũ (con trai Huy Cận) kiện ra tòa. Do Đỗ Lai Thúy đã dám xem toàn bộ thi giới của Xuân Diệu - ông hoàng thơ tình Việt Nam, cũng như những “em”, những mối tình nồng cháy, những lời yêu thương ngọt ngào đắm say trong thơ Xuân Diệu đều là đồng tính luyến ái. Cú đánh chí mạng này vào tượng đài thơ tình số 1 Việt Nam thời hiện đại như một vụ đốt đền đầy hệ lụy, vì Đỗ Lai Thúy đã dám “giải thiêng” một thần/biểu tượng không chỉ trong Thơ Mới, mà còn cả thơ ca Cách mạng. Đỗ Lai Thúy có viết đầy cá tính trong hồi ký của mình rằng: “Tôi có nhắn với anh (Cù Huy Hà Vũ - PTA) hãy kiện Tô Hoài trước đã”1. Một nhà thơ khác phản đối Đỗ Lai Thúy trong nhận định Xuân Diệu đồng tính, còn nhà phê bình thì chỉ nhã nhặn trả lời: “Có thể với anh ấy thì Xuân Diệu không có tình yêu đồng giới, vì anh ấy quá xấu trai mà”2. Trong tiểu luận Đáp lời con quái Sphinx và cội nguồn sáng tạo thơ Xuân Diệu, Đỗ Lai Thúy từng nhận định: “Thế là, bài thơ tình ai cũng tưởng là nam nữ bây giờ thành nam nam; và người em nuôi của Xuân Diệu hóa ra người bạn trai của nhà thơ. Nhưng Hoàng Cát, có lẽ, chỉ là một trong nhiều vì sao nhỏ bị hút vào ngôi sao lớn Xuân Diệu. Còn một hành tinh khác, cùng tầm cỡ, cặp với Xuân Diệu là nhà thơ Huy Cận, bạn và em vợ thi nhân. Họ trở thành một ngôi sao đôi, vừa tự quay quanh mình vừa quay xung quanh nhau, cứ thế đi suốt quỹ đạo đời mình”3.

Đọc thơ Phương Uy, điều làm tôi kỳ lạ nhất đó là hiện tượng “nam tính hóa nữ tính”, tức một dạng đồng tính nữ (lesbian). Việc phân tích cảm thức đồng tính của tôi ở đây đơn thuần dựa trên cách làm việc của phân tâm học văn bản, chứ không dựa vào phân tâm học tác giả như cách làm của Đỗ Lai Thúy đối với trường hợp Xuân Diệu. Lúc này, chúng ta cần nhớ lại quan điểm “vô thức được cấu trúc như một ngôn ngữ” của nhà phân tâm học cấu trúc Jacques Lacan và lấy văn bản làm tiêu chí quan trọng nhất. Đúng với nhận định “chữ bầu lên nhà thơ” của Lê Đạt. Phương Uy như chúng ta đều biết, là một nữ thi sĩ, nhưng nếu bỏ qua những thông tin về tác giả, nhiều bài thơ khi đọc đều thấy ẩn bên trong đó là một cái tôi nam tính rõ nét, có khi bị đè nén, khuất lấp, nhưng cũng có khi phát lộ một cách công khai ra ngoài. Điều rất lạ ở Phương Uy là ở chị, sự lưỡng giới, hoặc đồng tính trong cái tôi trữ tình đã tạo ra một hình tượng tác giả đa nhân cách, hoặc đa giới tính. Trong chị dường như có hai con người, thậm chí, xét từ tọa độ chữ, cái tôi nam giới thường áp chế và bộc lộ rõ ràng hơn cái tôi nữ giới. Phải chăng đó chính là cội nguồn nỗi đau và sự tang thương của thế giới mà Phương Uy đang sống và nghiệm trải? Cái tôi đích thực bề sâu buộc chị phải im lặng, chỉ có thể cất lên trong thơ và tự bộc lộ mình trong sự im lặng của lời. Bằng chứng đầu tiên khi chúng ta đọc thơ Phương Uy, là cái tôi trữ tình trong nhiều bài thơ thường xưng “anh”, hoặc là “tôi” (trong mối quan hệ với “em”), chứ không xưng “em” như giới tính (công khai) của chị ngoài đời.

Thống kê lại toàn bộ tập thơ, tôi thấy có 24 bài cái tôi trữ tình xưng “tôi” (trong quan hệ hô ứng với em), 18 bài xưng “anh”, chỉ có 3 bài xưng “em”. Nhưng ở đây, cái “tôi” lại trong mối quan hệ với “em”, nên nó cũng mang bản chất như “anh”, vậy là, ta có đến 41 bài thơ xưng “anh”. Có 12 bài phiếm chỉ, không rõ nhân xưng, trong đó có hai bài xưng “gã”, và đối tượng trữ tình cũng là “em”. Trong ba bài cái tôi trữ tình xưng em, cũng chỉ có bài Những sợi buồn là thể hiện “em” một cách nữ tính hoàn chỉnh. Trong lịch sử thi ca, không hiếm trường hợp nữ thi sĩ xưng “anh” nhằm hóa thân vào cái tôi nam tính, cũng không hiếm trường hợp ngược lại, nam thi sĩ xưng “em” nhằm hóa thân thành cái tôi nữ tính. Tuy nhiên, số lượng đại từ nhân xưng nam tính áp đảo, chiếm đến gần như toàn bộ cả tập thơ như trong tập thơ đầu tay của Phương Uy là điều đáng ngạc nhiên và đáng suy ngẫm. Chẳng phải Đỗ Lai Thúy cũng từng nhận ra đối tượng và đại từ nhân xưng trong thơ Xuân Diệu khác hẳn các nhà Thơ Mới khác. Nếu Đinh Hùng là gái muôn đời, Hàn Mặc Tử là gái quê, Nguyễn Bính là gái xuân thì ông hoàng thơ tình lại chọn tình trai.Nếu Xuân Diệu luôn tự nhận mình là thiểu số, với khát khao cháy bỏng muốn nói ra giới tính thật của mình trong tình yêu: “Anh phải nói và phải nói”, thì trong thơ Phương Uy cũng mang cảm giác tương tự. “ta đã cùng nhau chồng lên khuôn diện mình bao tầng mặt nạ - chưa đủ để cách xa? - mặt trời và mặt trăng còn gặp nhau trong ngày nhật thực - sao em sớm muốn nhạt nhoà?” , nhà thơ luôn có cảm giác mình phải sống dưới một lốt (giới tính) khác so với giới tính bản nguyên bên trong, nên anh/chị thường khát khao được bày tỏ, được lột đi lớp da mặt nạ. Do vậy, mặt nạ và những cái bóng là hệ thống hình tượng xuất hiện một cách thường trực trong thơ Phương Uy. Thơ ca với chị chính là nỗ lực xé kén mặt nạ, và bóng âm của giới tính nhằm hiện hữu trong thực tại với giới tính bản nguyên của chính mình. “Ngày hôm qua đã di căn nỗi thắc mắc của anh về cái bóng mình, đó là cái bóng của anh hay anh chỉ là cái bóng?” . Không phải ngẫu nhiên, mà nhà thơ chọn tựa đề cho tập thơ của mình là Bụi của giấc mơ, trong thơ chị cũng nhiều bài nói về sự im lặng (Bụi của giấc mơ, Bên kia thinh lặng…), đó chính là khát khao được cất lời, được bày tỏ giới tính. Chính cái thế lưỡng cực, đứng từ giới này nhằm nhìn giới kia, sự xung khắc giữa cái nữ tính sinh học và cái nam tính bản thể, đã làm thơ Phương Uy trở nên khát khao, nhiều ẩn dụ, biểu tượng vô thức, luôn không ngừng quẫy đạp phản kháng nhưng cũng đầy bi quan, tuyệt vọng. Sự lấp lửng hai mặt về phương diện giới tính này đã tạo ra một trường sáng tạo thẩm mỹ khác lạ, độc đáo, ám ảnh trong thơ Phương Uy.

Nhưng vấn đề nam tính hóa nữ tính không đơn thuần chỉ diễn ra và hiển lộ thông qua đại từ nhân xưng của cái tôi trữ tình trong thơ, mà còn biểu hiện kín đáo, có thể trong vô thức sáng tạo, thông qua những hình tượng và xúc cảm trong các thi phẩm. Đọc thơ Phương Uy, dẫu bỏ hết đi những “anh”, “tôi”, hoặc xóa đi hết đại từ nhân xưng, ta vẫn thấy hiện lên một nam tính rõ nét:

mảnh thời gian màu tàn thuốc

cuồng dại xóa trắng ngày

những ngón tay thèm được chạm vào vòm cây mùa sinh nở

- Nghe giác quan khoái cảm trương phình trong sự nhung nhớ miên man

- đi tìm trái tim Đan - kô để được ủi an, dịu xoa trong ấm ngời ngọn lửa

- Sáng nay - chiếc lưỡi dụ mị - liếm láp bông hoa gầy gò

- lột nỗi buồn ra khỏi lớp da ngày - thời gian trong trần truồng có vui giả tạo?

Tất cả những ví dụ dày đặc ẩn dụ nam tính trên, chúng ta hoàn toàn có thể tìm thấy trong mọi bài thơ của Phương Uy trong Bụi của giấc mơ. Chúng biểu đạt cho một chủ thể nam tính từ trong hành vi sinh hoạt (hút thuốc), cho đến cái tôi bên trong (trái tim Đan - kô), mà đặc biệt là trong hành vi ái ân (khoái cảm trương phình - cương cứng, lột lớp da - bao cao su, lưỡi liếm láp bông hoa gầy gò - hôn bạn tình nữ)… Ngay cả những bài không có nhân xưng thật cụ thể của cái tôi trữ tình, nếu thật tinh ý, ta vẫn thấy thấp thoáng cái tôi nam tính: “Đừng để mưa tràn qua ngày cũ - nơi đứa con trai ngày xưa tựa cửa gục đầu - khói thuốc xoay vòng lẩn lút đêm sâu...” . Hoặc hình như cái tôi trữ tình đang cố chối bỏ cái thân phận “giới nữ” bề ngoài của chị: “một loạt những vết thương nhỏ đang thành hình - trong tôi - đừng - chảy - máu - nữa!” .

Bên kia thinh lặng có thể xem là bài thơ tiêu điểm, mang chủ đề của toàn tập thơ, và Phương Uy thực sự muốn nói điều gì đằng sau sự lặng im của chị? “Này em, đừng mị ma mang chiếc áo màu hạnh phúc - Em cứ suốt đời đi tìm một tận cùng không thật - Để anh mải miết hẹn hò với cơn đau khổ bản nguyên. Tại sao lại không muốn chảy máu nữa, tại sao màu máu lại ám ảnh chị đến như vậy trong thơ? Nếu xem “chảy máu” như một biểu tượng của nữ tính, của khả năng sinh nở và trưởng thành tính dục, thì ta có thể nhận ra sự kháng cự, muốn chối bỏ hiện tượng thiên tính nữ ấy của Phương Uy. Thật vậy, chị luôn nỗ lực chạy trốn quá trình ấy: “tôi đã chạy hụt hơi trong giấc mơ màu huyết dụ. Thơ Phương Uy, dẫu đã cố ngụy trang dưới những hình thức tinh vi, tân kỳ, ta vẫn thấy một sự ẩn ức tính dục thường trực, hình ảnh những con bài thủ dâm, hay người đàn bà thủ dâm trước gương thực sự làm tôi chú ý.

Tôi đặc biệt chú ý đến hình tượng máu, chảy máu trong thơ Phương Uy - xem đó như một loại mã “đồng tính luận” hiển lộ nhất, mang chuyển những vô thức bề sâu của tác giả. Máu đối với giới tính có hai ý nghĩa, với nữ giới, nó báo hiệu cho chu kỳ sinh sản, nó là một biểu tượng của nữ tính, cho dù là biểu tượng thường bị cấm kỵ hay kỳ thị trong một số nền văn minh. Máu cũng còn là biểu trưng cho trinh tiết, sự hiến dâng của phái nữ, nó là một dấu ấn tính dục của người phụ nữ tất yếu phải trải qua để bước vào thế giới của những người trưởng thành tính dục. Thơ Phương Uy bằng nhiều cách khác nhau, dẫu đã ngụy trang tinh vi dưới hệ thống hình tượng thiên nhiên, đồ vật, siêu thực, nhưng chúng ta vẫn dễ dàng tìm thấy hai cảm thức này trong hệ thống hình tượng liên quan đến máu. Do là một kẻ mang xu hướng đồng tính nữ, nên với Phương Uy, máu là một ám ảnh, nó là một nỗi đau nhắc nhở thi nhân rào cản thân xác đã mâu thuẫn với xu hướng giới tính bên trong. Phương Uy luôn muốn chối bỏ sự chảy máu – thứ dấu hiệu nhắc nhở “chị” vẫn trong hình hài giới nữ. Chính vì vậy, mọi hình tượng gắn với máu trong thơ Phương Uy thường mang trạng thái khổ đau, hủy diệt. Ta có thể dẫn ra hàng loạt ví dụ như sau:

- trong tôi

.

.

.

đừng

chảy

máu

nữa!

mệt rồi, tôi!

- tôi thấy bóng H cúi đầu giữa màu đỏ diệp lục

mê sảng một tháng Tư không hề sám hối.

- giãy tung thềm đêm bạch tạng

nụ hoa lặng lẽ chảy máu

- trăng khô loang máu

có còn giọt sót trinh nguyên?

- Anh đánh mất thiên đường từ thuở niềm đau mới thai sinh (…)

những mầm cây chảy máu xanh biêng biếc cả góc vườn

Từng ảo ảnh lướt qua các thân cây

- tôi hóa thân thành ánh nhìn trống rỗng

nghe lời ca vỡ máu ngân nga

- Mùa tách vỏ lặng thầm

chảy máu dài trên gió đêm

<Đêm cuối tháng mười>

- Khi cảm xúc đã chật

phố héo lánh một cơn buồn

nắng chảy máu giữa chiều

- trăng vấy máu chiều lục diệp

sáng bừng một khoảng rêu rong

Với hàng loạt hệ thống hình tượng máu nói trên, ta có thể dễ dàng nhận ra nó là một hệ thống hình tượng có tính ám ảnh chấn thương trong vô thức sáng tạo của nhà thơ, giống như trường hợp của Hàn Mặc Tử và Bích Khê. Tuy nhiên, với Phương Uy, hình tượng máu không gắn với những căn nguyên bệnh lý, mà xuất phát từ một sự lưỡng phân và giằng co về mặt giới tính. Đó là một cuộc truy tầm bản sắc giới tính của thi nhân thông qua ngả chữ nghĩa. Thơ ca do đó, là một lối về của đời sống tính dục và giới tính bản nguyên.

Phương Uy là một nhà thơ không mới, bởi chị xuất hiện trên các báo và trang web văn chương cũng đã lâu và cũng đã có đủ sự chú ý cần thiết đối với một tài năng. Tuy nhiên, thông qua tập thơ đầu tay này, bạn đọc đã có thể biết đến một Phương Uy khác, một Phương Uy đa/toàn diện hơn, một nhà thơ luôn nỗ lực cách tân và sống đến kiệt cùng nhựa sống bởi/trong thơ.

P.T.A

___________________

1, 2 Hồ Thế Hà và… (Chủ biên) (2014), Phân tâm học với văn học, Nxb Đại học Huế, Huế, tr.18.

3 http://vanhoanghean.com.vn/dat-va-nguoi-xu-nghe6/nguoi-xu-nghe43/dap-loi-con-quai-sphinx-hay-coi-nguon-sang-tao-tho-xuan-dieu


___________________
(Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 275, tháng 8 năm 2017)





Các bài viết cùng chủ đề

      
      
      
      
      
      
      
      
      
      

Giấy phép số 229/GP-TTĐT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 3 tháng 12 năm 2008
Tòa soạn: 128 Trần Hưng Đạo - Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị • E-mail: tapchicuaviet@gmail.com • Điện thoại: 053.3852458

Copyright © 2008 http://www.tapchicuaviet.com.vn - Thiết kế: Hồ Thanh Thọ • wWw.htt383.com