“Sông mạ” quê nhà
Nguyễn Hữu Quý

TCCV Online - Có một dòng chảy do đất trời sinh tạo từ mấy trăm triệu năm về trước, thuở hồng hoang chưa có bóng người vẫn còn dài rộng, sung mãn đến hôm nay. Bắt đầu từ một nét đứt gãy địa chất ở vùng đất phía bắc tỉnh Quảng Bình bây giờ, một địa hào đã được tạo nên để trên bản đồ Tổ quốc, nơi eo thắt nhất của miền Trung nắng gió bão lũ dữ dằn có đường nét quanh co của sông Gianh. Tôi gọi đấy là con sông Mạ (Mẹ) của vùng đất mình sinh ra, nằm thắt thẻo van vát ở phía nam đèo Ngang tựa như sông Cái giữa châu thổ Hồng Hà mênh mang trù phú vậy. Tôi không vô cớ khi viết thế vì thời xa xưa sông Gianh mang tên khác, chữ nghĩa sang trọng có đủ ba âm tiết Đại – Linh - Giang.

Trong tâm thức của ông cha thì rõ ràng đây là một con sông thiêng lớn. Sự kỳ vĩ, linh thiêng của sông núi là hồng phúc của ai được sinh ra và lớn lên trên đó; bao hiền tài xưa nay mấy kẻ không được hấp thu từ huyết mạch khí chất của non nước quê nhà. Sông núi quê hương mang trong nó những huyệt mạch bí ẩn, huyền diệu không thể giải thích được và dường như đã can dự sâu sắc vào diện mạo, sinh khí, hồn vía của một vùng đất để có những tinh hoa, nổi bật trong cộng đồng dân cư quần tụ ở đó. Địa linh nhân kiệt là câu thường nghe, ngẫm ngợi càng kỹ càng thấy có lý; vũ trụ bao la đan dệt chằng chịt muôn vàn mối quan hệ qua lại, hữu hình và vô hình, đủ cả.

Sông Gianh nối hai phương mặt trời lặn, mọc có nguồn chính khởi thủy từ núi Cô Pi cao 2017 mét trong vạn lý Trường Sơn trùng trùng điệp điệp ở miền tây Quảng Bình, khi thao thác, khi thong dong chảy qua các huyện thị Minh Hóa, Tuyên Hóa, Quảng Trạch, Ba Đồn, Bố Trạch để cuối cùng hòa nhập với biển Việt mênh mang ở phía đông qua cửa Gianh thuộc hai xã Quảng Phúc (bờ Bắc), Thanh Trạch (bờ Nam). Con sông dài chừng 160 cây số, uốn khúc quanh co nằm gần trọn trong vùng đất phía bắc của tỉnh Quảng Bình.

Sông Gianh là một phần của đời tôi, dĩ nhiên là vậy rồi. Đời sông thì dài, đời người quá ngắn nhưng cũng đều có những nông sâu, bồi lở cả. Lưu vực sông tương đối ổn định còn lưu vực người chẳng ai biết trước được dài rộng đến đâu. Đến lúc nào đó sông sẽ nói về người, ví dụ khi người đã thành hạt bụi trong cõi mung lung chẳng hạn, còn bây giờ người sẽ nói về sông như một sự tri ân chân chất.

Phần sông Gianh thuộc quê mẹ của tôi (xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch) chỉ là một đoạn ngắn ở cuối hạ lưu, khiêm nhường đóng khung trong phạm vi từ chỗ nó tiếp nhận thêm dòng chảy của rào (sông) Chùa, phía bờ Nam đến cửa biển cùng tên. Ngược lên phía thượng nguồn dăm đến bảy cây số gì đó, sông Gianh chảy qua thị xã Ba Đồn, nơi cha tôi cất tiếng khóc chào đời vào năm Ất Hợi 1935. Tuy thế, khi nghĩ về sông núi quê nhà tôi vẫn chưa bao giờ quên niềm kiêu hãnh hồn nhiên Đại Linh Giang được bốn nguồn rào góp nước mà thành. Mỗi nguồn rào được định danh bằng một tên và có điểm phát nguyên riêng biệt. Nhánh chủ là nguồn Nậy, dân quê tôi thường gọi rào Nậy khởi thủy từ những đỉnh núi cao của dãy Trường Sơn ở vùng biên giới Việt - Lào, thuộc huyện Tuyên Hóa phía tây bắc tỉnh Quảng Bình chảy theo hướng đông nam về biển cả. Nguồn Trổ, còn gọi là rào Trổ, phát nguyên từ hệ quần sơn Mồng Gà - Đèo Ngang giữa Hà Tĩnh và Quảng Bình chảy theo hướng nam, nhập lưu với rào Nậy ở Minh Cầm. Nguồn Nan (rào Nan) bắt đầu từ những đỉnh núi cao ở Trường Sơn phía tây Tuyên Hóa; nguồn Son (rào Son) thì phát nguyên từ vùng núi tây Bố Trạch cả hai cùng mải miết chảy theo hướng đông về nhập lưu với nguồn Nậy ở vùng La Hà - Văn Phú mà ra biển. Bốn nguồn rào góp nước cho một sông Gianh càng xuống hạ lưu càng bát ngát, càng gần biển càng dạt dào sóng vỗ.

Sông có khúc, người có lúc, lời cổ nhân chẳng hề sai chút nào. Mỗi khúc sông là một làng quê, bến mưa bến nắng, bến đục bến trong, gắn bó với bao kiếp người thăng trầm chìm nổi. Ký ức làng xã còn cất giữ cho sông bao câu chuyện lịch sử, những áng thơ văn lấy cảm hứng từ sông. Mỗi lần về nơi mình sinh ra, thong thả bước trên bờ sông trong tôi dâng lên bao cảm xúc bồi hồi. Không biết bao nhiêu lớp người đã xa khuất rồi, cứ theo cái cữ Nhân sinh thất thập cổ lai hi thì kẻ vắng mặt đông đúc hơn người đang hít thở khí trời hàng trăm, hàng nghìn lần. Đó là chưa kể muôn vàn cái chết không theo quy luật sinh lão bệnh tử vì đây là vùng đất binh đao giặc giã, bão lũ giông gió triền miên. Nếu bắt đầu tính từ cái thời vùng đất tôi sinh ra nằm trong mười lăm bộ của nước Văn Lang - Hùng Vương. Rồi nghìn năm Bắc thuộc, xã tôi thuộc về huyện Tượng Lâm, quận Nhật Nam của Âu Lạc. Lại thêm, vào năm 192, dưới thời Nhà Hán, Khu Liên, người huyện Tây Quyển cùng nhân dân Chăm nổi dậy đánh đuổi người phương bắc ra khỏi đất Nhật Nam dựng lên nước Lâm Ấp kéo dài từ Bình Thuận đến Hoành Sơn bây giờ. Nước Lâm Ấp có 5 châu là Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính, Châu Ô và Châu Lý. Xã Thanh Trạch lúc ấy thuộc châu Bố Chính của nước Lâm Ấp độc lập hùng cường mà theo sử sách ghi lại là có quân đội mạnh đủ cả bộ binh, thủy binh, tượng binh thường xuyên vượt Đèo Ngang đánh phá các quận Cửu Chân, Giao Chỉ của đất Giao Châu đang còn chịu sự thống trị của người phương Bắc.

Từ thế kỷ II đến thế kỷ XI, Quảng Bình là địa đầu của vương quốc Chăm Pa, là vùng đất tranh chấp giữa hai vương quốc Chăm Pa và Đại Việt. Đại Linh Giang tiếp tục chứng kiến dòng chảy lịch sử dân tộc. Mùa xuân Kỷ Dậu năm 1069, danh tướng Lý Thường Kiệt dẫn đạo quân tiên phong Nam tiến đánh Chăm Pa, bắt được vua nước này là Chế Cũ. Để chuộc tội, Chế Cũ cắt ba châu Địa Lý, Bố Chính, Ma Linh dâng nạp cho Nhà Lý. Dải đất từ Đèo Ngang đến Cửa Việt trong đó có Quảng Bình được trở về với Đại Việt như xưa. Năm 1075, vua Lý Nhân Tông sai Lý Thường Kiệt đi tuần tra biên thùy, vẽ địa đồ hình sông thế núi của cả ba châu nhưng đổi tên châu Địa Lý thành Lâm Bình. Vùng đất Quảng Bình như bây giờ được chính thức đưa vào bản đồ nước ta.

Năm tháng nối nhau, sông Gianh hiền lành hay dữ dội theo hai mùa mưa nắng, lên xuống cùng con nước thủy triều, mặc nhiên chứng kiến dòng chuyển động nhân tình thế thái của các triều đại Lý, Trần, Hồ, Lê với nhiều cuộc di dân từ ngoài Bắc vào vùng đất nam Hoành Sơn ngày càng đông đúc. Dấu chân Đại Việt hành tiến về nam, ngón Giao Chỉ in vào cát bụi đường trường gian nan không kể xiết. Bao nhiêu gương mặt sạm sụa nắng gió đã soi xuống Linh Giang. Bao nhiêu bàn tay gân guốc thô tháp đã vốc nước Linh Giang lên rửa mặt. Đến lượt tôi, hình dung ra tiền nhân khai khẩn bằng những liên tưởng vô cùng xa xăm, đặt hoang vu cỏ cây muông thú bên cạnh thưa thớt bóng người với lòng biết ơn vô hạn.

Danh xưng của vùng miền này cũng không mấy cố định; năm 1491, nhà Lê định lại bản đồ giang sơn, đặt tên cho dải đất từ phía Nam dãy Hoành Sơn đến Hải Vân là Thuận Hóa. Như vậy, xã Thanh Trạch của tôi thời ấy hiển nhiên thuộc xứ Thuận Hóa rồi. Đến thời Trịnh - Nguyễn phân tranh lại thêm sự đổi thay nữa, châu Bố Chính (gồm huyện Quảng Trạch, thị xã Ba Đồn và huyện Bố Trạch bây giờ) được chia thành hai châu Bố Chính Nội và Bố Chính Ngoại. Xã tôi thời kỳ đó có tên là Bồ Khê thuộc về Bố Chính Nội đặt dưới sự kiểm soát của nhà Nguyễn. Chưa yên đâu. Năm 1831, vua Minh Mạng đổi châu Bố Chính Nội thành huyện Bố Trạch. Cái tên huyện quen thân ấy may mắn thay, còn được giữ nguyên cho đến bây giờ.

*

Con cháu về quê bây giờ không còn cực nhọc, chen chúc như thời chưa xa mấy. Còn cái thời xa thăm thẳm so với tuổi tôi năm nay đã bước qua ngưỡng lục tuần thì con đường thiên lý Bắc Nam hình như là độc đạo. Con đường hành binh hay di cư dọc dải đất cong cong hình chữ S chắc chắn là chỉ có một và khi khai mở đắp đào người xưa cố tránh núi cao rừng rậm hiểm trở. Vậy thì, sự lựa chọn khôn ngoan nhất không có gì khác là bám bờ biển mà đi. Nhờ thế mà nơi tôi sinh ra ở cuối dòng Linh Giang có cơ hội in dấu tích của các minh chủ, danh tướng, danh nhân Đại Việt một thời. Những dấu tích lịch sử, văn hóa gắn liền với chiến công, tác phẩm của các ngôi sao Việt.

Cửa Linh Giang.

Lý Thường Kiệt, danh tướng thời Lý, người tương truyền đã viết ra bài thơ Thần bất hủ Nam quốc sơn hà bên sông Như Nguyệt đã có đôi lần đến đây. Khi thì dẫn đầu đạo quân tiên phong vô Nam để bình Chiêm sau khi đã đánh tan giặc Tống. Khi thì theo lệnh vua đi tuần tra vẽ lại địa đồ cương vực. Thời ông cưỡi ngựa ghìm cương phóng tầm mắt ra biển cả cửa sông chắc còn hoang phóng lắm. Xứ Lâm Bình (tên mới châu Địa Lý) lúc đó chắc hẳn là thuộc cõi bờ xa xôi rồi.

Theo Đại Nam nhất thống chí, năm 1471, vua Lê Thánh Tông dẫn quân đi đánh Chiêm Thành, khi ghé qua cửa biển này đã làm bài thơ Linh Giang hải tấn. Thơ còn lưu lại đến mai sau. Phiên âm từ chữ Hán là: Sơn bảo bồi hoàn hải diểu di/ Bố Chinh tùng cổ hiệu hoang thùy/ Tịnh hà thôn lạc mao vi ốc/ Triệt phố quan tân trúc tác kỳ/Nữ thượng phong yêu khoa yển vãn/ Dân điều quých thiệt ngũ thù ly/ Ký Nam thánh hóa hoằng nhu viễn/ Khẳng hạn phong cương ngoại đảo vi. Bức tranh về một vùng cửa sông hiện lên thật rõ nét, có núi có sông, có biển có người, có cây cỏ có chim muông, có cờ bay có gái đẹp, có cảnh có tình. Đặc biệt có cả tâm hồn, chí khí, tầm nhìn xa trông rộng của một minh chủ thời hưng thịnh. Cụ Nguyễn Đình Diệm đã dịch rất hay bài thơ này: Núi bọc xung quanh biển mịt mờ/ Bố Chinh ngày trước vẫn hoang sơ/ Ven sông làng xóm nhà tranh cỏ/ Khuất bến tre pheo dựng cột cờ/ Gái thắt lưng ong khoe yểu điệu/ Dân hòa giọng quých nói líu lo/ Trời Nam đã rưới ơn mưa móc/Chẳng phải xa xôi bỏ cõi bờ. Hóa ra con gái vùng này thời xa lắc xa lơ đã duyên dáng đến thế rồi ư! Gái thắt lưng ong khoe yểu điểu. Những yểu điệu thục nữ cuối Linh Giang đã hồn nhiên làm xiêu lòng bao khanh tướng văn nhân. Cũng lạ cho ông vua Lê Thánh Tông, việc nước việc quân bộn bề ngổn ngang như thế mà khi đi qua cửa biển Linh Giang mịt mờ khói sóng vẫn để mắt tới tấm lưng ong thon thắt nõn nà của các cô gái miền phên dậu này. Minh chủ cũng là thi nhân, người cầm gươm chỉ huy ba quân đánh giặc cũng là người múa bút ngợi ca vẻ đẹp non sông, con người Đại Việt. Thật là hồng phúc cho trăm họ xa gần. Có một câu thơ mang tầm nhìn xa rộng trong kế sách giữ nước của vua Lê Thánh Tông. Đó là Khẳng hạn phong cương ngoại đạo vi, không vì ngoài biên cương hiểm trở mà bỏ người dân nơi hải đảo này. Muốn giữ nhà phải rào chắc phên dậu, muốn giữ nước phải chăm lo hải đảo biên thùy. Biển đảo là không gian sinh tồn của dân Việt, xưa đã vậy, nay càng phải vậy. Không thể nào khác được!

Chưa hết những bài thơ viết về Linh Giang của các bậc tiền nhân. Mỗi bài thơ ra đời trong một hoàn cảnh khác nhau nhưng hình như nó đều có cái man mác, mênh mang, phảng phất u hoài. Khi còn phục vụ trong nhà Lê, nhà thơ Phan Huy Ích trong một lần theo lệnh vua đi công cán Thuận Hóa vào năm 1774 đã có thi phẩm Độ Đại Linh Giang viết theo thể tứ tuyệt; hậu thế đọc lên đủ hình dung ra cảnh vật, lòng người lúc đó: Cánh buồm lênh đênh qua sông Gianh/ Cầm cờ tiết giữa dòng nghe khúc đò đưa/ Đã hai trăm năm con sông dải áo ngăn cách/Mà nay một lá thuyền bình yên trong sóng lặng. (Dịch nghĩa).

Năm 1558, dưới triều Lê Trung Hưng, Nguyễn Hoàng được chính thức bổ nhiệm làm trấn thủ châu Thuận Hóa. Ông đưa gia tộc xuôi về nam cùng với câu Sấm ký được cho là của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: Hoành sơn nhất đái vạn đại dung thân. Từ nhỏ đến lớn, từ ít đến nhiều, từ yếu đến mạnh, thế lực họ Nguyễn dần dà tăng lên cho đến lúc trở thành một đối trọng nghiêng ngã với Chúa Trịnh ở Đàng ngoài. Cuộc tranh chấp giữa Đàng trong với Đàng ngoài kéo dài đằng đẵng hai thế kỷ. Quãng thời gian không thể gọi là ngắn. Mặc nhiên, Linh Giang trở thành giới tuyến của hai thế lực phong kiến có số má lừng lững ở đôi miền Bắc Nam. Linh Giang trở thành biểu tượng chia cắt non sông trong một giai đoạn lịch sử có nhiều biến loạn, rối ren. Nỗi khổ đau chồng chất lên dân đen trăm vùng, đọc lại câu ca dao thời loạn ấy vẫn còn thấm thía xót xa: Ai làm cho vợ xa chồng/ Cho con xa mẹ, cho lòng ta đau… Nỗi buồn ấy đâu dễ biến tan trong lòng người. Mọi cuộc chiến tranh chấm dứt nhưng dư âm của nó còn kéo dài rất lâu. Đôi khi còn lâu hơn cả một đời người nếu may mắn được sống sót sau nạn binh đao khốc liệt. Nó len vào giấc ngủ, loảng xoảng tiếng gươm khua ngựa hí, tiếng thét hờn căm, tiếng bom đạn ùng oàng, tiếng những linh hồn trăn trở bên bầm dập cỏ cây.

Không gian của thời hậu chiến mang nhiều hoài niệm sầu não bi thương. Đại thi hào Nguyễn Du, người viết ra Truyện Kiều từ Những điều trông thấy mà đau đớn lòng nổi tiếng thế giới cũng đã để lại cho Linh Giang một bài thơ chữ Hán có tên Độ Linh Giang, dịch nghĩa thế này: Bãi cát bằng chạy dài tận nơi nước và trời gặp nhau/ Mênh mông bến đò cũ khói sóng mùa thu/ Bến bờ nhìn thông suốt biển rộng/ Biên giới các triều đình đã vạch ra giữa dòng/ Ba quân nơi thành cũ ngày nay lá vàng rụng/ Trăm trận đánh xương tàn nằm phơi nơi hoang vu xanh ngắt/Người dân bờ bắc chẳng còn phải ngần ngại/ Vòng quanh hằng năm trước đã cùng đồng thuyền.

Thế đấy, núi sông có tạm thời chia cắt nhưng lòng dân có bao giờ cắt chia đâu chứ. Khát vọng thống nhất non sông, hòa hợp dân tộc muôn đời là ước mong lớn nhất của nhân dân. Thời nào cũng chung khát khao, ước vọng ấy. Nó thật giản dị nhưng cũng khó khăn biết bao. Đất nước Việt Nam đã có mấy lần cát cứ, cắt chia. Tuy nhiên, như lịch sử đã minh chứng nội xâm hay ngoại xâm mưu toan chia cắt giang sơn này cuối cùng đều bị thất bại...

Và còn điều này nữa, những tuổi tên nổi tiếng và vô danh sinh ra ở làng còn gắn bó mãi với sông Mạ ở quê nhà. Dù họ đi đâu, ở đâu thì lối đầu tiên khởi hành và nẻo cuối cùng trở về tôi tin vẫn chỉ gói trong một tiếng Làng. Những đứa con mang Làng đi xa, làm nên những chiến công, thành tựu rồi trở về bên cửa sông Gianh để cảm nhận sâu hơn, thật hơn trước biển rộng trời cao bấy nhiêu dư âm của nồm nam dĩ vãng, của những hồn nhiên dại khờ trên cát, của những giấc mơ rung rinh theo màu hồng cánh hoa tứ quý mọc chốn hoang vu mà không sợ bị con người quên lãng...

N.H.Q

Nguồn Văn nghệ số 44/2018

______________________________
Tạp chí Cửa Việt online
Ngày cập nhật: 11/12/2018



Bài viết cùng chuyên mục
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 


Giới thiệu | Liên hệ đặt báo | Liên kết Website
Giấy phép số 229/GP-TTĐT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 3 tháng 12 năm 2008
Tòa soạn: 128 Trần Hưng Đạo - Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị • E-mail: tapchicuaviet@gmail.com • Điện thoại: 0233.3852458
Copyright © 2008 http://www.tapchicuaviet.com.vn - Thiết kế: Hồ Thanh Thọ • wWw.htt383.com