Những năm tháng không thể nào quên
Đỗ Đình Huấn

TCCV Online - Đại đội của tôi làm nhiệm vụ vận tải từ Bắc bờ sông Bến Hải vào Cửa Việt để phục vụ các đơn vị chiến đấu. Vĩ tuyến 17 lúc này chỉ còn đất và người, không còn nhà cửa, cây cối. Mọi sinh hoạt của con người đều ở trong lòng đất, kho tàng, bến bãi nằm trên đất và lấy đất làm ngụy trang. Thuyền bè đánh chìm xuống sông để che mắt quân thù. Mọi hoạt động của quân ta đều diễn ra vào ban đêm.

 Chiều ngày 4/10/1972, bầu trời Quảng Trị đang trong xanh, yên tĩnh bỗng xuất hiện nhiều tốp máy bay A4 của Mỹ gầm rú, xé nát bầu trời. Chúng thả rất nhiều bom từ trường xuống sông Cửa Việt, sông Vĩnh Định, sông Cánh Hòm, sông Bến Hải và các tuyến đường tiến về thị xã Quảng Trị. Sau đợt bom, tàu phá bom của bộ đội hải quân đã ngụy trang kín đáo và đi rà phá bom giữa ban ngày trên tất cả các tuyến sông. Theo anh em trinh sát báo về, bom rất nhiều nhưng nổ rất ít. Tối hôm đó, trời mưa như trút nước, nhưng có lệnh thông đường tất cả các lực lượng đều phải vào vị trí chiến đấu. Tôi và anh Thành (cán bộ tăng cường), cùng anh em xuống bến sông khênh thuyền lên, tát nước cho thuyền nổi, sau đó khởi động máy chạy đến kho lấy hàng.

Theo sự phân công, anh Thành đi trước, sau đó là thuyền của Trung đốc 2 do đồng chí Cửu chỉ huy. Thuyền thứ 3 do tôi và đồng chí Triện, Trung đội trưởng chỉ huy. Trong thâm tâm mọi người đều biết phía trước còn rất nhiều bom từ trường chưa nổ, nên ai cũng ái ngại, chần chừ. Thấy vậy, tôi đã lên thuyền cùng anh Thành đi trước. Do tính nghiêm trọng của tình hình, tôi đã ra mệnh lệnh hành quân rất rõ ràng: “Nơi giao hàng của chúng ta là thôn Tường Vân, Cửa Việt. Tốc độ hành quân 10km/h, thuyền cách thuyền từ 50 m đến 100 m, nếu xảy ra sự cố thì bắn súng báo hiệu ứng cứu. Giao hàng xong, chạy ra Mai Xá Thị ngủ lại.

Đến 17 giờ ngày 5/10 xuất phát về hậu cứ Vĩnh Giang trong đêm”. Sau khi nghe mệnh lệnh hành quân, chúng tôi im lặng, không ai nói gì trước cái chết. Chúng tôi nín thở, vượt lên bom từ trường để vào vị trí chiến đấu trong mưa gió, mỗi thuyền cách nhau vài chục mét đã không nhìn thấy nhau. Thuyền tôi đi trước tiến vào sông Cánh Hòm rồi vào sông Vĩnh Định, đến Mai Xá Thị vượt qua sông Cửa Việt lên bến Tường Vân. Trên đường đi chúng tôi không gặp trở ngại gì nên 2 giờ sáng ngày 5/10 chúng tôi đã giao được đạn tên lửa cho Trung đoàn pháo binh Vân An, xăng dầu cho đơn vị xe tăng 203. Chúng tôi chờ mãi nhưng vẫn không thấy hai chiếc thuyền đi sau. Tôi quyết định quay về Mai Xá Thị, “Trạm trung chuyển” của chúng tôi do đồng chí Thái, Trung đội trưởng chỉ huy. Về đến đây thì trời vừa sáng, chúng tôi đánh chìm thuyền rồi chui vào các hầm trong bãi tha ma tìm gặp đồng chí Thái hỏi thăm xem có thấy anh em không, nhưng hoàn toàn thất vọng. Tôi quyết định, anh Thành ở lại, tôi và Thái cùng với Vui (Vui là lính cộng hòa mới quy hàng cho ta) quay trở lại đi tìm anh em giữa ban ngày.

Chúng tôi vào làng Mai Xá, nhân dân đều sống dưới hầm, các loại cây cối còn sót lại là những cây dừa non xơ xác, chúng tôi xin nhân dân mấy cành tàu dừa để làm ngụy trang. Sau một giờ chúng tôi đã khênh thuyền lên, tát nước, nổ máy thử rồi ngụy trang thành một bụi cây trên sông. Chúng tôi chạy với tốc độ chậm để tìm kiếm anh em, khi thấy máy bay trinh sát chúng tôi giảm tốc độ và chạy sát vào bờ. Cứ như thế chúng tôi còn rẽ vào các nhánh sông khác, xem anh em có lạc đường không, nhưng thật vô vọng. Chạy về hậu cứ Vĩnh Giang, lúc đó là 12 giờ ngày 5/10/1972, đồng đội tôi và nhân dân Vĩnh Giang đứng lặng người đi vì tổn thất lớn lao này. Họ dọn cơm cho 3 anh em tôi ăn, ăn xong, tôi gọi đồng chí quản lí, cấp cho đồng chí Thái một lạng mì chính. Đoàn thanh niên xã Vĩnh Giang hái vội được 10 kg rau muống gửi tặng. Tôi giao nhiệm vụ cho Thái về báo cáo với anh Thành việc hai chiếc thuyền mất tích.

Đến 14 giờ, ngày 5/10 tại hậu cứ Vĩnh Giang chúng tôi nhận được điện của bộ đội hải quân yêu cầu đơn vị đến nhận thương binh và liệt sĩ khiến tôi choáng váng. Sau một phút tôi trấn tĩnh và đề nghị anh Tưởng, Chính trị viên đi nhận anh em, còn tôi sang đại đội dân công hỏa tuyến “Thanh Chương - Nghệ An” huy động lực lượng để tối đi đào huyệt. Tôi đến đại đội dân công vừa báo tin buồn thì cả đại đội òa khóc, sau đó mọi người chuẩn bị cuốc xẻng theo tôi đi đào huyệt.

Đến 18 giờ cùng ngày, chúng tôi lại nhận được điện của hải quân báo về chiếc thuyền của đồng chí Thái, đồng chí Vui thợ máy đã nổ tung lúc 12 giờ 30 phút ngày 5/10/1972 trên sông Cánh Hòm. Tại sở chỉ huy hải quân, anh Tưởng điện về cho biết, thuyền bị bom từ trường ở những đoạn sông hẹp, đại bộ phận anh em bị hất lên bờ nên còn sống, chỉ có 7 đồng chí bị thương nặng, 3 đồng chí hi sinh đã tìm thấy xác, còn 4 đồng chí nữa chưa thấy đâu. Đêm ngày 6/10/1972, đơn vị tôi và nhân dân Vĩnh Giang đã làm lễ truy điệu, lễ an táng cho 3 đồng chí trong niềm đau xót, tiếc thương vô hạn.

Sáng ngày 7/10/1972, tôi chỉ huy một tiểu đội đi tìm anh em hi sinh còn nằm ở dưới đáy sông. Súng ống, trang bị được tập kết một nơi. Tất cả mọi người đều mặc đồ lót, ngụy trang kín đáo. Chúng tôi đến những khúc sông có dấu vết bom nổ để tìm kiếm suốt cả ngày mùng 7 nhưng chỉ thấy bom từ trường chưa nổ vẫn dang cánh nằm dưới đáy sông. Sáng ngày mùng 8 là 3 ngày rồi, chắc chắn anh em phải nổi lên mặt nước, nhưng chẳng thấy đâu. Đến 10 giờ tôi phát hiện 1 đồng chí chết ngồi dưới đáy sông. Để cho chắc chắn, tôi và đồng chí Quyền liên lạc lặn xuống lần thứ hai để xác định trước khi báo cáo về sở chỉ huy. Chúng tôi sờ vòng quanh và thấy hai chân đồng chí đó bị đắp bùn nên không nổi lên được. Tôi ngoi lên bờ và cử 2 đồng chí về hậu cứ báo cáo với anh Tưởng, đồng thời đề nghị đơn vị chuyển vào hai bộ quan tài bằng ván ĐKB để ghép lại, đưa thi hài đồng chí về xã Vĩnh Giang chôn cất. Suốt cả chiều ngày mùng tám vẫn không tìm thêm được xác đồng chí nào. Như vậy, vẫn còn thiếu đồng chí Côi, y sĩ quê ở Thái Bình, đồng chí Thái quê Hoằng Phúc, Hoằng Hóa, Thanh Hóa, đồng chí Vui quê Triệu Phong, Quảng Trị.

Chiều ngày mùng 9/10, tôi nhận được lệnh về Cụm 5 hậu cần họp. Sáng 10/10/1972, khi tôi bước chân vào phòng họp được các đồng chí chỉ huy đón tiếp ân cần, chia sẻ nỗi mất mát đau thương và thông báo cho tôi biết, đây là loại bom từ trường mới “Từ trường định lần” mà chúng ta chưa nắm được. Có quả một lần, nhưng quả hai, ba lần mới nổ… Tôi lặng người đi và nhận ra rằng, cuộc chiến đấu này ngày càng cam go và tàn khốc, đau thương. Sự hi sinh quên mình của đồng đội tôi vì hòa bình, độc lập của dân tộc, vì sự thống nhất non sông, có lẽ suốt đời tôi không bao giờ quên.

 

Đ.Đ.H

Nguồn Báo Quảng Trị

______________________________
Tạp chí Cửa Việt online
Ngày cập nhật: 9/10/2018



Bài viết cùng chuyên mục
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 


Giới thiệu | Liên hệ đặt báo | Liên kết Website
Giấy phép số 229/GP-TTĐT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 3 tháng 12 năm 2008
Tòa soạn: 128 Trần Hưng Đạo - Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị • E-mail: tapchicuaviet@gmail.com • Điện thoại: 0233.3852458
Copyright © 2008 http://www.tapchicuaviet.com.vn - Thiết kế: Hồ Thanh Thọ • wWw.htt383.com