Linh Quang Tự - hành trình khuất khúc của một ngôi chùa làng
YẾN THỌ

T

rong khu vực có tên là Ghềnh Phủ nằm ven tả ngạn sông Thạch Hãn, trên địa phận làng Tiền Kiên, xã Triệu Giang, huyện Triệu Phong hiện còn tồn tại một ngôi chùa có tên chữ là Linh Quang Tự nằm quay mặt chính diện ra phía bờ sông và cũng là hướng chính gần như vuông góc với Thạch Hãn từ trên chảy về. Ngôi chùa có lối kiến trúc nhỏ bé, đơn sơ gồm 3 gian, tường xây, mái lợp ngói; bên trong đặt 3 ban thờ chính thờ 3 pho tượng Thái Thượng Lão Quân, Quan Thánh Đế Quân và Thánh Mẫu. Trong chùa còn có bức hoành phi làm bằng gỗ được sơn son thếp vàng, chính giữa đề 3 chữ Hán “Linh Quang Tự” cùng với dòng lạc khoản 2 bên: “Thiệu Trị tứ niên tuế tại giáp thìn mạng thu nguyệt cát nhật phụng tạo” và “Tiền Kiên phường” cho biết chùa Linh Quang ở phường Tiền Kiên đã có một lần tôn tạo dưới thời vua Thiệu Trị năm thứ 4 (1844). Ngoài ra, phía trước mặt chùa về phía bờ sông, dưới gốc một cây sanh có tấm bia đá (cao 1m, rộng 0,4m) khắc nội dung về sự cúng dường công đức của một người làng có tên là Trần Thị Thân để trùng tu tôn tạo lại ngôi chùa vào năm Ất Mùi (1895).

Tên tự của ngôi chùa và những di vật còn sót lại qua dâu bể thời gian cho thấy đây rõ ràng là một ngôi chùa làng, nhưng sự phối thờ các linh thần bên trong cùng với các hoạt động nghi lễ được tiến hành vào các dịp sóc, vọng... mà người dân làng Tiền Kiên đang phụng tự không thể không mang đến cho chúng ta những nghi ngại và cần đi tìm câu trả lời.

1. Tiền Kiên - Thạch Hãn...

Tiền Kiên là một làng nằm ở tả ngạn của sông Thạch Hãn, trên địa hình của dải cồn cát trong (hay còn gọi là dải tiểu trường sa) cùng với các làng Trà Liên, Tả Kiên, Ái Tử và Giang Hến. Trải qua hàng trăm năm nay, biến động địa cuộc của vùng này do sông Thạch Hãn mang lại về cơ bản là sự xâm thực dần dần về phía tả ngạn làm cho dòng sông chuyển dịch lên hướng Tây.

Sông Thạch Hãn đi qua khu vực địa hình tiểu trường sa từ chỗ đang chảy thẳng theo hướng Đông nam - Tây bắc bỗng bẻ ngoặt sang hướng Đông bắc rồi lượn một vòng hướng Đông - Đông nam lên Tây - Tây bắc để quay về lại hướng chính là Đông nam - Tây bắc. Bờ tả của đoạn uốn vòng cung này là làng Tả Kiên, Tiền Kiên, Trà Liên Tây (Triệu Giang).

Dưới góc độ hành chính của các làng xã hình thành sau thế kỷ XVII, chúng ta thấy rằng trên đoạn sông từ ngã ba Cổ Thành về ngã ba Vĩnh Phước, từ khi chúa Nguyễn đóng dinh phủ trên bờ tả của sông Thạch Hãn vào nửa cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII thì hai bên bờ sông là khu vực đồn trú của đội quân Ngũ Kiên gồm các cơ: Tiền Kiên, Hậu Kiên, Trung Kiên, Tả Kiên và Hữu Kiên. Cơ Hậu Kiên, cơ Trung Kiên và cơ Hữu Kiên nguyên là ba cơ nằm bên bờ hữu của sông Thạch Hãn còn cơ Tiền Kiên và cơ Tả Kiên thì nằm bên bờ tả. Ở khu vực tiếp lưu, phát nguồn của sông Vĩnh Định với Thạch Hãn, ba cơ Hậu Kiên, Trung Kiên và Hữu Kiên được thiết lập ở hữu ngạn nhằm trấn giữ điểm trọng yếu phía Nam dinh Chúa trên tuyến đường thủy huyết mạch nối vùng Quảng Trị và Thừa Thiên; còn cơ Tiền Kiên và cơ Tả Kiên là hai cơ nằm bên tả ngạn sông Thạch Hãn, sát nách dinh Chúa. Các địa điểm đồn trú này giải thể từ sau khi dinh phủ của nhà Chúa chuyển vào Phước Yên (Thừa Thiên) năm 1626. Từ đó đến cuối thế kỷ XVII, khu vực này lần lượt hình thành nên các làng mang đúng theo tên gọi của các cơ thuộc Ngũ Kiên, gồm: Tiền Kiên, Tả Kiên, Trung Kiên, Hữu Kiên và Hậu Kiên. Trong quá trình phát triển, đến nay chỉ còn bốn làng còn lưu tên cũ là Tiền Kiên, Tả Kiên, Hậu Kiên và Trung Kiên; còn làng Hữu Kiên thì biến đổi và sau đó thì sáp nhập vào làng Xuân Yên/Xuân An rồi mất hẳn tên.

Làng Hậu Kiên (nay thuộc xã Triệu Thành), làng Tiền Kiên và Tả Kiên (nay thuộc xã Triệu Giang) là những làng đến nay vẫn nằm trên các khu đất cũ.

Làng Trung Kiên nguyên xưa nằm trên một khu đất về phía bờ hữu, gần với làng Bích Khê, Tân Định (xã Triệu Long) thuộc tổng Bích La, huyện Hải Lăng; về sau (cuối thế kỷ XIX) do sự bồi lở của sông Thạch Hãn nên làng Trung Kiên chuyển sang bờ tả, thuộc tổng An Đôn, huyện Đăng Xương (nay thuộc xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong) trên đất phù sa bồi của bờ tả, đối diện với làng Tân Định, Bích Khê.

Cơ Hữu Kiên sau khi giải thể đã hình thành làng Hữu Kiên, tục gọi là thôn Sãi Thị (Sãi Thọ) nằm giữa làng Bích Khê với làng Cổ Thành. Vì nguyên trước đây, trong khu vực này có chợ Sãi - một trung tâm kinh tế thương mại lớn được hình thành từ sớm trên con đường mậu dịch ven sông Thạch Hãn. Cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, sự chuyển dòng của sông Thạch Hãn đã làm biến mất khu chợ Sãi cũ cùng với làng Hữu Kiên làm cho chợ Sãi nguyên thuộc làng Hữu Kiên chuyển dần vào bên trong và thiết lập lại đầu tiên trên đất của Bích Khê. Một thời gian sau mới dịch xuống làng Cổ Thành trên địa điểm hiện nay. Làng Hữu Kiên mất hết đất, chợ Sãi chuyển đến làng Cổ Thành và đồng thời làng Xuân An được mở rộng dần về phía Đông bắc nhờ sự bồi lắng của phù sa. Và vì thế, bộ phận cư dân làng Hữu Kiên từ tổng Bích La huyện Hải Lăng chuyển sang bờ tả, lệ vào tổng An Đôn, huyện Đăng Xương rồi dần dần sáp nhập vào làng Xuân An để vĩnh viễn tên làng Hữu Kiên biến mất trên bản đồ hành chính.

Cũng như khi đi qua Cổ Thành và Hậu Kiên, sông Thạch Hãn đột ngột bẻ ngoặt ở Tiền Kiên và đầu làng Trà Liên. Các khu vực mà sông Thạch Hãn đi qua có hình thế lượn gấp khúc này trải qua nhiều thời kỳ là nơi bị xâm thực mạnh nhất. Chính vì vậy mà đến nay, làng Tiền Kiên chỉ còn là một rẻo đất nhỏ bé nằm ven sông.

Sự xâm thực mạnh mẽ của sông Thạch Hãn ở các khúc uốn đi qua làng Cổ Thành (ở bờ hữu) và Tiền Kiên (ở bờ tả) buộc cư dân ở hai khu vực này phải đặt đá trấn yểm và lập miếu thờ sát mép bờ sông để trấn giữ đất, ngăn chặn sự hung dữ của thần sông. Ở chỗ ngã ba tiếp lưu giữa sông Thạch Hãn và sông đào Vĩnh Định, trên khu vực chợ Sãi, gần đình làng Cổ Thành có miếu Thần Thạch và miếu Ngũ Hành. Ở chỗ bẻ ngoặt của sông Thạch Hãn đâm thẳng vào đất đai làng Tiền Kiên có lập miếu Ngũ Hành và rất có khả năng còn có một ngôi đền miếu thờ thần sông và trấn yểm.

Theo dân địa phương thì trong khu vực Ghềnh Phủ - nơi hiện tọa lạc của chùa Linh Quang, trước đây, còn có hai ngôi miếu cổ mặt chính hướng ra phía sông Thạch Hãn (phía Đông nam), phía bên tả là ngôi miếu Thành Hoàng và phía bên hữu là miếu Ngũ Hành (thờ 5 vị tiên nương: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ). Ngôi miếu Ngũ Hành thì nay nằm cách một đoạn về phía Nam; còn ngôi miếu Thành Hoàng có nhiều khả năng là miếu thờ thần sông vừa có chức năng trấn yểm. Cả hai ngôi miếu này đều khó có thể có nguồn đáng tin cậy để khẳng quyết rằng chủ nhân là của người dân làng Tiền Kiên. Bởi trước khi làng Tiền Kiên hình thành từ một cơ quân đội của nhà Chúa giải thể thì khu vực này đã là đất của làng Ái Tử. Sự thờ cúng thần sông và trấn yểm những vị trí quan trọng là việc mà người dân đã phải làm từ trước đó.

2... và Ghềnh Phủ

Ghềnh Phủ là tên một địa danh lưu lại ký ức liên quan đến thời kỳ chúa Nguyễn trên vùng đất Ái Tử - Trà Bát nằm trên đất làng Tiền Kiên. Tên địa danh này hàm ý chỉ một khu vực có một ghềnh đá nhô ra ở phía bờ sông Thạch Hãn gắn với dinh phủ chúa Nguyễn.

Làng Tiền Kiên (cùng với Tả Kiên và Trà Liên) được bao bọc gần như từ ba phía bởi ba con sông là Thạch Hãn (ở phía Đông) Ái Tử/Rào Ái (ở phía Tây và Tây nam) và sông Vĩnh Phước/Nguồn Vĩnh (ở phía Bắc). Sông Ái Tử chảy từ thượng nguồn (nguồn Ái) về theo hướng Tây - đông, sau khi đi qua hết khu vực làng Ái Tử thì theo hướng tiến lại gần sông Thạch Hãn; nhưng khi đến địa phận làng Tiền Kiên, do không thể nhập được với sông Thạch Hãn nên nhánh sông này đột ngột chuyển hướng, chảy quanh co uốn khúc về phía Bắc và Tây bắc rồi tiếp tục hợp lưu với sông Vĩnh Phước (nguồn Vĩnh) để đổ vào sông Thạch Hãn tại hạ lưu phía Bắc làng Trà Liên, cách Tiền Kiên chừng gần 1km. Xét trên bình diện địa lý, nếu coi dải đất thuộc các làng Trà Liên, Tiền Kiên và Tả Kiên như một cái chai mà xung quanh các phía được bao bọc bởi sông Thạch Hãn, Ái Tử và Vĩnh Phước thì Tiền Kiên nằm ở điểm nút của cổ chai được mở ra về phía làng Ái Tử.

Do có vị thế địa chiến lược như vậy nên sau 12 năm (1558 - 1570) đặt doanh trại ở Ái Tử, Nguyễn Hoàng đã cho mở rộng quy mô lỵ sở và chuyển dinh phủ của chúa qua làng Trà Bát. Vị trí dinh phủ chúa Nguyễn Hoàng từ năm 1570 - 1600 đặt tại khu vực mà ngày nay còn lưu lại tên Phủ Thờ, nằm cách Ghềnh Phủ chừng 200m về phía Bắc.

Nhận thấy lợi thế khúc cua của đoạn sông Thạch Hãn chảy qua trước khu vực dinh, Nguyễn Hoàng đã huy động lực lượng binh lính và nhân dân trong vùng lên núi phá đá chở về đắp thêm vào khu vực này. Một mặt là để bảo vệ sự xói lở làm ảnh hưởng đến khu vực dinh do dòng sông tạo ra; mặt khác, Nguyễn Hoàng cho tiến hành xây dựng nơi đây thành bến thuyền để tàu thuyền có thể ra vào trao đổi, buôn bán hàng hóa. Dọc theo bờ sông về phía Bắc cũng cho kè ven sông để chống sạt lở. Dấu tích này ngày nay còn để lại tên các xóm Thượng Cừ (tức kè), Trung Cừ - những khu đất thổ cư vốn được hình thành vào những thời kỳ muộn từ sau thế kỷ XVII - XIX ven sông Thạch Hãn ở phía tả ngạn, thuộc đất làng Trà Liên. Dấu tích về một thời tấp nập của dinh chúa còn lại tại khu vực Ghềnh Phủ là một doi đất/bờ đá trầm tích cát kết ăn ra giữa sông Thạch Hãn và những tảng đá lớn nằm ở mép bờ sông. Đó chính là phần nhô ra của bến thuyền/thương điếm/thương cảng thời chúa Nguyễn. Sự xâm thực mạnh của sông Thạch Hãn đã làm xói lở cả khu đất ven sông làm xóa mờ nhiều dấu tích về thương cảng sông này, nhưng nhiều năm qua và hiện nay, trên bề mặt của ven bờ sông tại khu vực Ghềnh Phủ luôn có một lớp mảnh gốm, sành, sứ các loại ken dày. Đó là những mảnh gốm, sành, sứ của Trung Hoa, Nhật Bản và các nước khác; nhất là những mảnh vỡ của các đồ sành từ các lò gốm địa phương miền Trung. Những năm trước đây, các nhà khảo cổ học khi vào nghiên cứu tại khu vực này cũng đã phát hiện rất nhiều mảnh sành, sứ Trung Hoa, trong đó có các mảnh gốm sứ Nhật Bản. Điều đó chứng tỏ, trong những năm Nguyễn Hoàng thiết lập lỵ sở nhà chúa tại Ái Tử - Trà Bát, nhất là nhờ chính sách mở cửa buôn bán với nước ngoài thông qua cửa biển Việt Hải/Việt Khách/Việt Yên, Ghềnh Phủ là một bến thuyền lớn, hết sức tấp nập, nơi đây đã có nhiều tàu thuyền buôn lớn của người ngoại quốc vào đây trao đổi, buôn bán hàng hóa. “Bến cảng này chỉ riêng năm 1577 có 13 thuyền Phúc Kiến (Trung Quốc) cập bến buôn bán1. Chính sự buôn bán tấp nập giữa Đàng Trong với các thuyền buôn lớn của người nước ngoài như Trung Quốc, Nhật Bản, Bồ Đào Nha... đã làm nên một Đàng Trong hết sức năng động và phát triển của thời kỳ lúc bấy giờ. Sách Đại Nam thực lục tiền biên chép: “Thuyền buôn các nước đến nhiều. Trấn trở nên một nơi đô hội lớn2.

Sự mật tập của thương cảng sông Thạch Hãn nhất là đối với thương nhân người Hoa là một thực tế lịch sử. Chính điều này là cơ sở để đẻ ra cơ sở thờ tự mà từ trong truyền thống, các thương nhân luôn tìm cách để hóa giải thông qua việc thiết lập hoặc chuyển đổi các cơ sở thờ tự cũ sang một mục đích mới.

3. Hành trình khuất khúc của Linh Quang Tự

Hành trình chuyển đổi của ngôi chùa và việc thờ cúng bên trong chứa nhiều khuất khúc còn phải chờ các nghiên cứu tới đây mới tường tận. Chỉ biết rằng: Khởi thủy, ban đầu tại khu vực này chỉ là những ngôi miếu nhỏ để người dân làng Tiền Kiên làm nơi thờ cúng vị Thành Hoàng và Ngũ vị Tiên Nương (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ). Về sau, các cơ sở thờ cúng xưa đã lần lượt biến mất và ngay tại trên khu vực này xuất hiện một ngôi chùa có tên là Linh Quang Tự (chùa Linh Quang) do người dân làng Tiền Kiên coi sóc, phụng thờ.

Cho đến nay, thời điểm đầu tiên hình thành chùa Linh Quang còn là một ẩn số nhưng chắc chắn là niên đại khởi dựng phải có trước thời Thiệu Trị. Theo bức hoành phi làm bằng gỗ được sơn son thếp vàng lưu giữ tại chùa cho biết chùa được trùng tu vào năm Thiệu Trị thứ 4 (1844) (“Thiệu Trị tứ niên tuế tại giáp thìn mạng thu nguyệt cát nhật phụng tạo”). Tương truyền, lần này, chùa được trùng tu với quy mô khang trang với một kiến trúc bao gồm một điện thờ có kết cấu khung gỗ 1 gian, 2 chái, mái lợp ngói ở chính giữa, mặt quay ra bờ sông. Phía trước điện thờ, ở bên tả có nhà sắc (nơi cất giữ các sắc phong của vua ban); phía bên hữu là nhà bia (nơi để đặt bia ghi công tích). Bên trong điện thờ, ở gian giữa phối thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế, Thái Thượng Lão Quân và Thích Ca Mâu Ni; gian bên tả thờ Quan Thánh Đế Quân và gian bên hữu thờ Quán Thế Âm Bồ Tát. Hai bên tiền đường còn đặt tượng hai vị Hộ pháp (ông Thiện, ông Ác). Đây là cách thức thờ tự khá phổ biến của các ngôi chùa làng vùng Quảng Trị thuộc dòng Phật giáo dân gian Đại Việt.

Thời thuộc Pháp, sau những biến cố của đất nước, nhất là phong trào Cần Vương và Văn Thân, ngôi chùa bị hư hại. Đến năm Ất Mùi (1895), chùa được trùng tu, tôn tạo lại bởi công đức của một người làng là bà Trần Thị Thân (Văn bia trên bia đá dựng trước chùa ghi: Tuế thứ Ất Mùi niên, trọng thu nguyệt, cát nhật phụng chú). Ngôi chùa lúc này khá bề thế và bắt đầu phối thờ đa dạng hơn. Ngoài phối trí thờ tự như giai đoạn trước thì gian giữa còn phối thờ thêm Tam Thanh (Ngọc Thanh Thượng Đế Nguyên Thuỷ Thiên Tôn, Thượng Thanh Đại Đế Linh Bửu Thiên Tôn, Thái Thanh Đại Đế Đạo Đức Thiên Tôn) ở lớp trên cùng. Yếu tố Đạo giáo thâm nhập sâu vào chùa. Mặc dù là phối trí thờ cả Phật giáo và Đạo giáo nhưng sinh hoạt tín ngưỡng lại không theo một tôn giáo nào, chùa do làng Tiền Kiên quản lý và các lễ cúng tế theo lệ làng, hương khói vào các ngày sóc vọng.

Trong hai cuộc chiến tranh, chùa Linh Quang lại bị bom đạn tàn phá và đã có hai lần sửa chữa vào các năm 1956 và 1972. Sau mỗi lần sửa chữa thì quy mô và kiến trúc của ngôi chùa đã bị thay đổi và thu hẹp dần. Từ năm 1956, sau lần chùa bị hư hại nặng, vì không có điều kiện xây dựng lại nên làng đã chuyển cho Hội Đạo giáo Quảng Trị tu sửa và sử dụng. Từ khi chuyển cho Hội Đạo giáo Quảng Trị quản lý, chùa Linh Quang trở thành trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng của Đạo giáo toàn tỉnh Quảng Trị. Trước năm 1972, hàng năm tại chùa thực hiện 3 lễ chính đó là: Lễ vía Ngọc Hoàng Thượng Đế/Ngọc Hoàng giáng hạ vào ngày mồng 9 tháng giêng; Lễ ngày sinh Lão Tử vào rằm tháng 2 và Lễ vía Thái Thượng Lão Quân vào rằm tháng 7. Những ngày lễ này, tất cả Hội Đạo giáo Quảng Trị tập trung về chùa cúng theo nghi thức trai tế (lễ chay).

Sau ngày đất nước thống nhất (1975), Hội Đạo giáo Quảng Trị không còn tồn tại nên sinh hoạt tín ngưỡng liên quan đến Đạo giáo tại chùa Linh Quang cũng phai nhạt dần. Chùa Linh Quang lại trở về do làng Tiền Kiên thờ phụng và quản lý. Cho đến những năm cuối thế kỷ XX, trong chùa còn phối thờ các thần chủ:

- Đại Thiên Tuần thú dụ công vị tiền.

- Thái Giám Bạch mã gia tặng thượng đẳng thần.

- Kim đức Tiên bà tôn thần.

- Mộc đức Tiên bà tôn thần.

- Thủy đức Tiên bà tôn thần.

- Hỏa đức Tiên bà tôn thần.

- Đương cảnh Thành Hoàng Đại vương tôn thần vị tiền.

Các bài vị này hiện được thờ tại ngôi miếu Ngũ Hành bên cạnh chùa.

Như vậy, hành trình chuyển đổi của chùa Linh Quang là từ một ngôi miếu thờ thần sang một ngôi chùa làng rồi thành một trung tâm của Đạo giáo cả một vùng Quảng Trị để rồi quay về lại một ngôi chùa làng mà tên tự thì Phật giáo nhưng phối trí thờ tự lại là Đạo giáo. Trên hành trình ấy, yếu tố Đạo giáo và tín ngưỡng thuật chú của Đạo giáo luôn song hành với tiến trình lịch sử thay đổi về chức năng và thờ cúng của ngôi chùa. Phải chăng, gốc gác sâu xa của ngôi chùa chính là ngôi miếu thờ thần sông và cũng chính là ngôi đền mang chức năng trấn yểm để chế ngự sự hung hãn của thần sông nhằm bảo vệ khu vực Ghềnh Phủ và bảo vệ khu vực dinh Chúa Trà Bát được xây dựng ở vào thời điểm mà Nguyễn Hoàng đã cho xây kè chắn xói lở, thiết lập thương cảng trên sông Thạch Hãn (khoảng thời gian 1570 - 1575). Đồng thời, trong một địa điểm của một thương điếm/bến thuyền, hoạt động của các thương nhân vào ra tấp nập, nhất là các thương nhân người Hoa thì rất có thể đây vốn từng là một Hội quán - nơi sinh hoạt tín ngưỡng của những thương nhân.

Hành trình để trở thành một ngôi chùa làng mà bên trong việc phối trí thờ tự mang tính Đạo giáo có ẩn náu yếu tố tín ngưỡng thuật chú, trấn yểm rồi tiến đến thành một trung tâm Đạo giáo của cả vùng không thể không liên quan đến tín ngưỡng tâm linh từ một ngôi đền trấn yểm thủy thần trên sông Thạch Hãn và Hội quán của các thương nhân ở vào thời điểm mà thương cảng kề cận dinh Chúa thường xuyên bị đe dọa bởi sự xâm thực của dòng chảy sông Thạch Hãn cũng như sự mật tập của các thương nhân (nhất là các thương nhân người Hoa và người Nhật). Chính điều này đã dẫn dắt chúng ta cần hướng đến việc tiệm cận về gốc gác ngôi chùa Linh Quang là thuộc về thời kỳ chúa Nguyễn. Đối với các thương nhân, Quan Thánh Đế Quân được coi như ông Thần Tài, Thiên Hậu Thánh Mẫu là vị thần bảo trợ cho những thuyền buôn. Việc thiết lập cơ sở thờ cúng trong một trung tâm buôn bán, trao đổi để giải quyết vấn đề tâm linh, cầu cạnh sự giúp rập, chở che, phò trợ cho mua bán thuận lợi, an toàn trong những chuyến hành trình dài trên biển là hiện tượng khá phổ biến. Chính vì vậy, những địa điểm này thường có sự kết hợp phối thờ các vị thần liên quan đến Đạo giáo, Phật giáo như: Ngọc Hoàng Thượng Đế, Thái Thượng Lão Quân, Quan Thánh Đế Quân, Thiên Hậu Thánh Mẫu, Quán Thế Âm Bồ Tát. Một hội quán bên cạnh cảng sông Thạch Hãn có thể cũng đã hình thành theo kiểu như thế trên nền tảng của một nơi thờ tự dân gian có nhiệm vụ trấn yểm. Từ khi chúa Nguyễn Phúc Nguyên dời dinh vào Thừa Thiên Huế, cảng sông Thạch Hãn không còn là nơi tàu thuyền tấp nập, giao thương nên Hội quán vắng dần người lui tới, cơ sở thờ tự này được những người làng Tiền Kiên - một làng hình thành trên cơ sở một cơ quân đội của chúa Nguyễn giải thể - cai quản và duy trì thờ phụng. Từ đó, Hội quán chuyển thành Đạo quán và đến thời Nguyễn thì chuyển thành chùa với tên là Linh Quang Tự nhưng vẫn phối thờ và sinh hoạt tín ngưỡng theo Đạo giáo. Và vì thế, trong thời điểm chiến tranh liên miên của những thập niên 60 - 80 của thế kỷ XX, chùa Linh Quang trở thành nơi thu hút những tín đồ theo Đạo giáo và nhanh chóng thành trung tâm Đạo giáo của tỉnh Quảng Trị. Cuối cùng, khi hoạt động của Đạo giáo ngưng trệ, chùa Linh Quang lại trở về với một ngôi chùa mà chức năng của nó là phục vụ cho sinh hoạt tín ngưỡng dân gian - nơi phối thờ theo cách hiệp tự kể từ khi đất nước hết chiến tranh (sau 1975) và là một ngôi chùa mà danh tự thì vẫn còn nhưng danh phận thì đã biến tướng theo sự thay đổi về ý niệm tôn giáo, tín ngưỡng thời hiện đại.

 

Y.T

Tháng 2-2019

 

_____________________

Chú thích:

1. Dẫn theo: Đỗ Bang. Phố cảng vùng Thuận Quảng. Nxb Thuận Hóa, 1996.

2. Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục tiền biên, tập 1. Nxb Sử học. Hà Nội, 1962, tr. 31.

 

 

 

_________________________________________________
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 295, tháng 4 năm 2019
Ngày cập nhật: 17/4/2019



Bài viết cùng chuyên mục
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 


Giới thiệu | Liên hệ đặt báo | Liên kết Website
Giấy phép số 229/GP-TTĐT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 3 tháng 12 năm 2008
Tòa soạn: 128 Trần Hưng Đạo - Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị • E-mail: tapchicuaviet@gmail.com • Điện thoại: 0233.3852458
Copyright © 2008 http://www.tapchicuaviet.com.vn - Thiết kế: Hồ Thanh Thọ • wWw.htt383.com