Sói con
Lê Hoài Nam

TCCV Online - Thuyên không thể nhớ mình bị ngất đi trong bao lâu. Chỉ biết khi hồi tỉnh lại anh thấy mình đang nằm trên một tấm vải dù chiến lợi phẩm trải trên một thảm cỏ khô trong căn nhà tường đất lợp mái phên nứa. Ngồi bên Thuyên là một người đàn bà chừng ngoài ba mươi tuổi, gương mặt trái xoan đen cháy, vừa phúc hậu vừa rắn rỏi và một thằng bé chừng tám, chín tuổi có khuôn mặt như ám khói, dầu dãi nắng mưa. Người đàn bà nói:

- Chị tên Hời. Phụ trách trung đội du kích thôn. Tiểu đội của chú hy sinh hết rồi. Chú là người duy nhất còn sống. Bảy ngôi mộ của bảy chú nằm thành hàng ngay ngắn trên doi cát ven làng tui đó.

- Chị ơi, em bị thương như thế nào, có nặng lắm không? - Thuyên hỏi thảng thốt.

- Mảnh đạn pháo nó găm vào cổ phía trái, ra nhiều máu lắm. Hẳn vì thế mà chú bị ngất lịm đi khá lâu. Tụi tui băng cho cẩn thận, rồi cáng về đây. Đôi bàn chân chú phồng rộp ghê quá, tôi đã đun nước ấm pha muối ngâm cho chú. Mai đây chú phải ra tuyến ngoài chữa trị thêm mới ổn. Tui đã liên lạc được với cấp trên của chú. Họ bảo cứ để chú ở nhà tui ít bữa, họ sẽ cho người đến đón!

 - Em cám ơn chị lắm! Nơi đây mang tên làng tên xóm gì hả chị?

 - Làng này có tên An Hội. Nếu chú có đi đâu phải cởi bỏ quân phục, lấy bộ thường dân của anh Ngãi - chồng chị mà mặc.

 Chị Hời đứng dậy bước vào gian buồng lôi ra một bộ bà ba đen đã cũ nhưng hãy còn lành lặn treo lên chiếc đinh đóng trên cây cột nhà ngay cạnh nơi Thuyên đang nằm.

 - Anh Ngãi chồng chị bị miểng pháo từ biển bắn vào mất cách đây hai tháng, mộ chôn cách mộ của các anh trong tiểu đội chú mấy bước chân. Coi như tụi chị phải lập một nghĩa trang mới cho làng. Nghĩa trang cũ ở nơi cánh đồng trước nhà chị bom đạn cày đi xới lại, nát ra rồi, chẳng còn ngôi mộ nào nguyên vẹn.

 Chị Hời chỉ tay lên bộ quần áo bà ba đen, nói tiếp - Em mặc quần áo của anh Ngãi đừng có sợ chi, vía anh ấy lành lắm. Chị chỉ băn khoăn rằng dạo rầy nhà chị chỉ còn khoai, không còn gạo cho em ăn, mà ăn khoai thì vết thương lâu lành lắm… Thôi bây giờ em nghỉ ngơi, chị phải ra trận địa. Mọi việc ở nhà thằng Hợi con chị sẽ lo!

 

Chị Hời lấy khẩu súng bắn tỉa treo trên cột, đội chiếc mũ tai bèo bước vội ra ngoài. Còn lại thằng Hợi, mắt mở to thô lố nhìn Thuyên không chớp mi. Thuyên khẽ gượng dậy, mở túi cóc ba lô tìm được một thanh lương khô còn sót lại đưa cho nó. Nó bẻ từng miếng cho vào miệng nhai ngấu nghiến, nuốt ngon lành. Nó bắt đầu tỏ vẻ thân thiện với Thuyên.

 - Cháu ra vườn bới khoai, tối luộc cho chú ăn nhé!

 - Hay đợi mẹ về đã?

- Mạ cháu có đêm về, có đêm không. Cháu biết làm mà. Hồi ba cháu còn sống, ba cùng mạ đi đánh giặc suốt. Việc nhà cháu làm hết - nói rồi thằng Hợi vác mai ra vườn đằng sau nhà đào khoai. Vườn khoai lang nhà nó cũng mới bị những vết đạn cày nham nhở.

Trong những ngày Thuyên điều trị vết thương, ăn đợi nằm chờ ở nhà chị Hời, thằng Hợi đã trở thành một “cận vệ” trung thành của anh. Ngày hai bữa nó ra vườn đào khoai, luộc lên, hai chú cháu ăn thay cơm. Thuyên lục túi ba lô tìm được hai túi kẹo chiến lợi phẩm, mỗi bữa lấy mấy cái ăn kèm với khoai, khiến cho bữa ăn có hương vị hẳn lên. Thằng Hợi còn đun nước sôi pha chè tươi hái ngoài vườn cho Thuyên uống, pha nước muối rửa vết thương, thay băng cho Thuyên. Nó dùng khăn mặt thấm nước lau rửa người, gọi là “tắm cạn” cho Thuyên. Nó giúp Thuyên thay quần áo, giặt giũ, kể cả việc dìu anh đi vệ sinh. Khi vết thương đỡ đau, Hợi lấy cái võng bạt trong ba lô mắc lên hai cái cột nhà để Thuyên nằm đỡ mỏi lưng.

Đêm ở đây không một phút yên tĩnh. Tàu chiến địch từ ngoài biển nã pháo 230 ly, cứ hai giây một phát, uỳnh uỳnh, đều đều từ chập tối đến tang tảng sáng. Pháo ngừng thì lại đến lũ máy bay trinh sát L19 mò đến tăm tia, bắn rốc-két, xả đạn 20 ly. Bọn L19 bay đi lại đến bọn trực thăng Utiti trông giống như con nòng nọc ranh ma bay đến nhòm ngó. 

Không một ngày, một giờ vắng tiếng bom rơi đạn nổ. Mỗi khi nghe tiếng cối cá nhân “tắc bụp”, tiếng đạn pháo bay xé gió trên mái nhà hoặc có tín hiệu giặc càn vào làng, thằng Hợi lại dìu Thuyên xuống căn hầm ngay dưới gầm võng. Chẳng bao lâu Thuyên đã thân thiện và yêu quý thằng Hợi như một người bạn tri âm tri kỷ.

Có buổi chiều, chị Hời về, mở băng lau rửa vết thương cho Thuyên. Chị nhét vào túi cóc ba lô của anh hai hộp thức ăn chiến lợi phẩm mang nhãn hiệu Úc, bảo để mai mốt anh mang theo trên đường đi. Chị thông báo cho Thuyên rằng cấp trên sẽ bố trí cho người đưa anh qua sông Thạch Hãn, rồi sông Bến Hải về căn cứ bên Vĩnh Linh. Chị Hời dùng que cời bếp vẽ xuống nền nhà chỉ lối cho Thuyên đi ra những bến thuyền ấy.

 

- Chị đã nói với cấp trên rằng, vết thương của chú chưa lành hẳn, các anh ấy đồng ý cho chú nán lại ở nhà chị mấy hôm nữa rồi đi cũng được. Chị chỉ băn khoăn rằng chị không thể ở nhà để chăm sóc, giúp đỡ chú. Dưới Thành Cổ mấy hôm nay căng thẳng lắm. Quân chủ lực huy động về đấy hết. Bọn chị gánh cả phần của họ ở bên ngoài.

Một hôm, vào lúc chiều sắp ngả hoàng hôn, nghe tiếng nổ lụp bụp phía Tây, thằng Hợi đeo cái giỏ đi ra phía bờ sông Thạch Hãn.  Cảm thấy vết thương đỡ đau, Thuyên bước từng bước chầm chậm ra vườn. Phía trước là khu nghĩa địa, nơi mà tiểu đội của Thuyên chiến đấu hôm trước, với những cụm dứa dại tơ tướp, ám khói; những cây thánh giá dựng trên mộ bị cưa đứt lưng chừng, những tấm bia bị lật nghiêng. Gần đó lăn lóc một thùng bom bi chưa nổ. Bất chợt, Thuyên nhìn thấy một đứa trẻ trai còn bé hơn thằng Hợi đang lom khom bới nhặt cái gì đó từ những hố đạn. 

Trong sân, thằng Hợi đã về, mang theo chiếc giỏ. Vừa moi từ trong giỏ ra những con cá mương, con cá lành canh, con cá diếc, thằng Hợi khoe với Thuyên: “Cá chết bom trên thượng nguồn trôi về đó chú. Bọn địch dọn bữa cho chú cháu mình đó mà”. 

- Cháu giỏi lắm! – Khen thằng Hợi thế nhưng tâm trí Thuyên vẫn hướng về phía đứa bé đang lom khom ngoài nghĩa địa.

Thằng bé nhặt nhạnh gì đó thêm một lát nữa rồi nó đi về phía trảng cát phía tây nghĩa địa. Nó không đi vào làng mà chui vào gầm chiếc xe thiết giáp M113 bị thiêu cháy đen thui nằm chềnh ềnh gần một bụi dứa dại. Đây là chiếc xe bị tiểu đội của Thuyên bắn cháy hôm trước. Lúc đó trời đã tối, bọn trực thăng quần đảo tìm kiếm mãi để phóng hỏa phi tang, nhưng chúng bắn trượt nên chiếc xe không bị thiêu thành tro.

Vào nhà thay bộ quân phục bằng bộ bà ba đen, đội chiếc nón lá lên đầu, Thuyên đi ra đồng về phía chiếc xe M113 bị cháy. Trong gầm xe, thằng bé cởi trần, chỉ mặc chiếc quần cộc lấm lem đất cát. Thấy Thuyên đến, nó vội giấu cái túi ni lông về đằng sau, trân trối nhìn anh bằng ánh mắt của loài sói: đói khát, cảnh giác và dữ dằn. 

- Cháu đừng sợ! - Thuyên lên tiếng trấn an thằng bé - Chú là bộ đội giải phóng đây mà. Pháo từ ngoài biển bắn vào. Bom đạn từ máy bay địch bắn xuống. Cháu còn nhỏ thế, ra đây, không thấy là rất nguy hiểm sao?

- Đói lắm. Đi nhặt đồ ăn! - thằng bé nói.

- Bố mẹ cháu đâu?

 Thằng bé chỉ tay về khu nghĩa địa:

- Chết bom, nằm dưới mộ kia kìa!

- Nhà cháu ở đâu?

Thằng bé chỉ tay về nơi có cụm dân cư hầu như chỉ còn đống đổ nát, phía đầu làng An Hội:

- Cháy hết rồi!

- Cho chú xem cháu nhặt được những thứ gì nào? Chú không lấy của cháu đâu mà sợ.

Thằng bé nhìn Thuyên hãy còn cảnh giác, nhưng nó vẫn cầm cái túi nilông màu nâu cáu bẩn đưa về phía trước mở ra cho anh xem. Một chiếc tuýp hút thuốc bằng nhựa không cháy của quân Pắc-chung-hy, một lọ thuốc Nivaquyn chữa sốt rét của quân giải phóng, một hộp đựng kíp nổ và một hộp kẹo mang nhãn hiệu Jujifruits của Mỹ. Thuyên mở chiếc hộp Jujifruits ra thì bên trong đã rỗng, không còn chiếc kẹo nào. Có một bao thuốc “Quân tiếp vụ” lấm láp, bên trong còn bốn điếu. Thuyên nói:

 - Những thứ này chẳng có gì ăn được, cháu à.

 - Cháu đói lắm. Cháu muốn ăn.

 - Bỏ tất cả những thứ ấy đi, rồi theo chú!

 Như chỉ chờ câu nói ấy, thằng bé vứt cái túi “chiến lợi phẩm” xuống ruộng,  nó chộp lấy một bàn tay Thuyên nắm rất chặt như sợ anh thay đổi ý kiến mà bỏ rơi nó. Nhưng nó chỉ lê lết đi theo Thuyên một quãng là khuỵu xuống, cái thân người còm nhom của nó mềm oặt ra như con mèo ốm. Mặc dù thân thể còn yếu ớt vì vết thương, Thuyên vẫn cố gắng xốc thằng bé lên vai, cõng nó.

 - Tên cháu là gì?

 - Độn.

 - Tối đến Độn ngủ ở đâu?

 - Gầm cái xe bị cháy, cái chỗ cháu ngồi lúc nãy ấy.

 - Ngủ gần nghĩa địa, Độn không sợ à?

 - Không có chỗ ngủ nên phải ngủ ở đấy. Đêm nằm cháu lấy cỏ phủ kín người  để ma không nhìn thấy.

 

Trong bếp nhà chị Hời, thằng Hợi đã làm xong bữa ăn chiều. Những củ khoai lang dãi, nhỏ như đầu đũa, thằng Hợi luộc chín đã vớt ra cái rá. Nồi cá nấu với dọc mùng đã chín, nó múc ra một cái bát to. Nó sắp sẵn hai thứ ấy ra cái mâm gỗ đặt dưới nền nhà. Hợi ngồi bên mâm có ý chờ Thuyên. Nhìn thấy Thuyên cõng thằng Độn về đến sân, thằng Hợi kêu:

 - Kìa chú, sao chú lại cõng con ma nghĩa địa ấy về nhà cháu? Từ ngày bố mẹ nó chết, nhà nó cháy, nó ra nghĩa địa ở, đêm đến mò về làng, chui vào bếp hàng xóm tìm thức ăn, rồi nó lại trở ra nghĩa địa sống với ma. 

Thuyên ngồi xổm xuống sân cho thằng Độn buông vai anh truồi xuống. Chừng như cái đói khiến thằng Độn đánh hơi rất nhanh thấy mùi khoai luộc và mùi cá nấu dọc mùng. Nó chun chun mũi hít hít mấy cái. Nhìn vào trong nhà thấy mâm có thức ăn, nó chạy bổ vào, bưng bát cá nấu dọc mùng lên húp ừng ực. Húp một hơi hết nước, nó thò tay bốc cá và dọc mùng ấn vào mồm nhai nhồm nhoàm.

 - Tổ cha mi! - Thằng Hợi vừa la vừa chạy đến giật lấy bát cá nấu trên tay thằng Độn. Hai đứa giằng nhau. Thằng Độn quyết không buông cái bát. Bất chợt, Thuyên nghe tiếng thằng Hợi kêu thét lên. Thì ra thằng Độn cắn vào tay của thằng Hợi. Thằng Hợi ôm bàn tay lăn lóc trên nền nhà, miệng gào khóc thảm thiết. “Tổ cha thằng ma nghĩa địa, tao sẽ giết mày!”. Thuyên cũng mắng thằng Độn: “Cháu hư quá. Đúng là một con chó sói con!”. Thằng Độn nghe thế liền co cẳng chạy ra sân, chui qua vườn, đi về phía cánh đồng. Thuyên mở túi thuốc băng vết thương cho thằng Hợi. Vừa làm anh vừa dỗ dành nó:

 - Lỗi tại chú. Chú đã đưa thằng Độn từ cánh đồng về đây. Chú xin lỗi cháu.

 Đêm hôm ấy, chị Hời về nhà. Thuyên xin lỗi chị. Chị bảo:

 - Chú không có lỗi gì đâu. Mấy hôm nay chúng tôi cũng nghe nói có thằng bé lang thang, ăn ngủ ngoài nghĩa địa. Chúng tôi chưa biết phải giải quyết thế nào thì đã xảy ra chuyện này… Chúng tôi mới là người có lỗi.

- Nếu chị nghĩ như vậy, coi như chị đã tha thứ cho em. Em sẽ ở lại đây chăm sóc cháu Hợi. Khi nào cháu lành vết thương, em mới đi!

- Không cần phải thế đâu em - chị Hời nói - cấp trên nhắn chị nói với chú đêm nay phải đi đấy. Tám giờ ba mươi tối, chú ra bến sẽ có người chở đò đưa chú sang sông! Mật khẩu như sau: khi người chở đò nói: “Thạch Hãn” thì chú đáp: “Cửa Việt”. Sắp đến giờ rồi, chú đi đi kẻo muộn!

 Thằng Hợi chừng như đã đỡ đau, nằm co quắp trên giường ngủ. Thuyên bước đến hôn nhẹ lên mái tóc đỏ như lông bò của nó. 

 

Chị Hời đã chuẩn bị mấy phong lương khô, một bi đông nước cho Thuyên mang theo. Chia tay chị Hời, Thuyên ra khỏi ngõ, lặng lẽ đi về phía nghĩa địa, nơi có xác chiếc xe M113 bị cháy, xem thằng Độn có ở đấy không. Nhưng anh tìm mãi, nhòm cả vào thùng xe bật lửa soi, vẫn không thấy nó. Thuyên chum tay vào miệng gọi “Độn ơi” mấy lần cũng không thấy có hồi âm. 

Nhưng đã đến giờ Thuyên phải đi. Ngập ngừng giây lát, Thuyên đi theo con bờ ruộng về phía bến sông. Cô lái đò vừa cầm cây sào đẩy cho con thuyền cập vào bến vừa nói mật khẩu “Thạch Hãn”. Thuyên đáp: “Cửa Việt”. Cô gái nói: “Mời anh khẩn trương lên đò!”. Thuyên chuẩn bị bước lên thuyền thì bỗng có một thằng bé từ trong bụi cây ven sông chui ra bước xuống bến. Nó dang đôi tay ôm chặt lấy một bên chân Thuyên, nói: “Chú, chú cho cháu đi với”. Thuyên quay lại, dưới ánh pháo sáng, anh nhận ra thằng Độn. “Chú là bộ đội, còn đi đánh giặc, cháu bé thế, theo chú làm sao được!”. Thằng Độn nói: “Ở lại làng, cháu sẽ chết đói.” Thấy Thuyên còn lưỡng lự, thằng Độn quỳ mọp xuống dưới chân anh, chắp tay vái như tế sống anh: “Cháu xin chú, hãy cứu cháu. Nếu chú không cứu, cháu sẽ nhảy xuống sông chết ngay bây giờ!”. Bế thốc thằng Độn lên đò, Thuyên nói:

- Thôi được, hãy cứ đi cùng chú, đi đến đâu ta tính đến đó…

***

 Mùa hè năm 2014, nhà báo Lê Thuyên được nghỉ hưu. Trước khi rời nhiệm sở, Đài Phát thanh và Truyền hình thành phố có làm một phóng sự nói về cuộc đời cầm bút của ông. Khi trả lời phỏng vấn, Thuyên có nhắc đến những ngày tháng ông là người lính cầm súng trên đất Quảng Trị, nhắc một vài kỷ niệm về chị Hời, thằng Hợi, thằng Độn… Sau khi phóng sự ấy phát trên truyền hình khoảng hai ngày, Thuyên đọc thấy trong email của ông một bức thư:

Kính gửi chú Lê Thuyên! Cháu là Độn, thằng “Sói con” của chú đây. Vậy là kể từ ngày chú cháu mình xa nhau, đã 42 năm, hôm nay cháu mới có may mắn gặp lại chú, dĩ nhiên mới chỉ “gặp” chú trên truyền hình. Cháu mở google, tìm được facebook và địa chỉ email của chú. Thế là cháu viết thư này. Bao nhiêu năm mất liên lạc với chú chỉ vì ngày ấy cháu còn nhỏ quá, chưa biết học chữ, chẳng biết ghi một dòng lưu giữ về nhân thân chú. Cháu vẫn nhớ cái ngày cuối cùng chú cháu mình sống bên nhau. Chú dẫn cháu vào ngôi trường dành cho học sinh miền Nam đóng trên đất Vụ Bản - Nam Định. Cháu còn quá nhỏ, lại không có hồ sơ mang theo, ông hiệu trưởng từ chối không nhận. Tranh luận mãi với ông ấy, cuối cùng chú phải dùng dao găm rạch ngón tay lấy máu viết lời bảo lãnh cho cháu, ông ấy mới chịu nhận. Thế rồi giờ khắc chia tay, chú chỉ dặn cháu mấy điều và hôn cháu một cái rồi chú đi. Về phần cháu, cháu đã chịu khó học hành và biết vâng lời thầy, cô. Sau hơn chục năm được nuôi dậy ở ngôi trường ấy, cháu đã thi đỗ vào trường đại học thương mại. Bây giờ cháu đã trở thành một thành viên trong hội đồng quản trị một công ty thương mại của Thủ đô.

 

Điều mong muốn của cháu bây giờ là cùng chú về thăm lại làng An Hội đầy máu lửa và đau thương ấy để xin lỗi thằng Hợi và muốn giúp được gì đó cho quê hương... Chú đi cùng cháu nhé!

Thật không tin nổi sự gặp gỡ đầy bất ngờ này, Thuyên liền viết thư trả lời thằng Độn:

 Cháu Độn thân yêu. Cám ơn cháu đã gửi thư cho chú. Việc cháu nhờ, chú có khả năng giúp được. Khi nào đi vào An Hội, cháu báo tin trước cho chú chuẩn bị rồi đến nhà đón chú đi. Địa chỉ nhà chú: số nhà… ngõ… phố… phường… quận Bắc Từ Liêm - Hà Nội. Chào cháu. 

L.H.N

Nguồn: Báo Người Hà Nội

______________________________
Tạp chí Cửa Việt online
Ngày cập nhật: 3/8/2018



Bài viết cùng chuyên mục
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 


Giới thiệu | Liên hệ đặt báo | Liên kết Website
Giấy phép số 229/GP-TTĐT do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 3 tháng 12 năm 2008
Tòa soạn: 128 Trần Hưng Đạo - Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị • E-mail: tapchicuaviet@gmail.com • Điện thoại: 0233.3852458
Copyright © 2008 http://www.tapchicuaviet.com.vn - Thiết kế: Hồ Thanh Thọ • wWw.htt383.com