Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 04/08/2021 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Bút ký

Niềm vui của mẹ

05/08/2014 lúc 07:55






M





ẹ Phùng Thị Điếu ở làng Tân Trại Hạ, xã Vĩnh Giang, Vĩnh Linh được xem là người sống lâu nhất làng. Đến nay mẹ đã sống  trọn một trăm tuổi.
Mẹ sinh từ đầu thế kỷ trước (1901) mà đến đầu thế kỷ XXI này mẹ vẫn sống khỏe mạnh và còn minh mẫn lắm. Ông Nguyễn Văn Khuê, con trai thứ của mẹ năm nay đã 65 tuổi, thương binh chống Mỹ cho biết: “Mặc dầu đã sống đến cái tuổi như vậy, nhưng bà vẫn còn nhớ rất rõ những chuyện của làng, của xã, chuyện của mỗi gia đình. Từ cái chuyện ông Nguyễn Uẩn- một thành viên của Tổ chức Thanh niên cách mạng đồng chí hội – tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam về làng giác ngộ thanh niên tham gia tổ chức cách mạng, kêu gọi dân làng đứng lên đánh Pháp; bộ đội ta đánh đồn Tân Trại Thượng, đồn tây ở Mũi Rú do nấu ăn bằng dầu bốc cháy phừng phừng, kho đạn nổ cả đêm. Đến cái chuyện dân làng dỡ nhà ra làm công sự chiến đấu cho dân quân, khẩu đội 12ly7 của ông Nguyễn Minh bắn cháy máy bay Mỹ lòi mây cây bót…”.
............    

Nghề nuôi tôm ở Do Linh

08/07/2014 lúc 15:45






Đ





ối với Gio Linh, nghề nuôi tôm được xem nư là bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế rất đắc dụng trên những vùng đất khó nghèo dọc các triền sông Bến Hải, Hiếu Giang, Cánh Hòm. Giữa tháng 5 năm nay, khi chúng tôi về Trung Hải, đã thấy vùng đất chua mặn này đang trải qua một cuộc cải biến quan trọng ngay chính trên đồng ruộng của mình.
Người dân ở đây cho hay là với một vụ lúa bấp bênh trong năm, đảm bảo cho được cái ăn còn khó, huống gì vươn lên, vượt lên để làm giàu và có một cuộc đổi đời. Năm 1993, phong trào nuôi tôm ở các địa phương trong toàn tỉnh đã rộ lên, lãnh đạo xã Trung Hải đã đón lấy như là một cơ hội để xóa đói giảm nghèo cho địa phương mình. Địa thế nằm dọc bên bờ sông Bến Hải, diện tích đất hoang hóa và bãi đồi rất lớn là điều kiện thích hợp để Trung Hải quyết tâm du nhập nghề nuôi tôm vào địa bàn. Từ diện tích 5 ha do UBND xã chủ động đứng ra đầu tư nuôi tôm, ban đầu cho năng suất khá............
 

Học trò trường huyện

16/01/2014 lúc 23:06






H





ọc hết năm lớp nhất bậc tiểu học, tôi thi đổ vào trường Trung häc Gio Linh. Năm ấy toàn huyện tôi (thực ra hai quận Gio Linh và Trung Lương) chỉ có một ngôi trường Trung học.
Nhiều học sinh ở các xã như Trung Giang, Trung Hải, Trung Sơn, Gio Hà, Gio Hải, Gio Mỹ đều cách xa trường hơn mười cây số. Vì thế, nhiều học sinh đi học phải đi bằng xe đạp. Thời bấy giờ có xe đạp là sang trọng lắm. Học sinh nhà nghèo phải cuốc bộ tíi trường, phải đi từ gà gáy sáng mới kịp buổi học. Đi học, ngoài chiếc cặp da đựng sách vở, còn phải đèo thêm một mo cơm. Cơm đựng trong chiếc mo cau độn khoai, sắn. Thức ăn là gói muối gừng hoặc muối sã ớt. Tan học, nhiều học sinh tìm ra vệ cỏ có bóng râm, ngồi xếp bằng an nhiên ngồi ăn ngon lành. Còn cậu nào con nhà có khá hơn thì ra quán chợ ăn quà thay bữa. Quà là bánh bột lọc, bánh tày, bánh rán, cháo vịt, cháo lòng,... thích thứ gì thì dùng thứ đó. Dấu ấn sâu đằm nhất vẫn là bánh bột lọc bọc nhân tôm mà quê tôi thường gọi là bánh sắn. Bánh sắn bà Thẻo nổi tiếng. Bánh được làm bằng tinh bột sắn bên trong nhân tôm thịt heo rim, tinh bột trong suốt nhìn rõ mình con tôm khoanh tròn đỏ thắm. Bánh được bày ra đĩa rưới lên một lớp mỡ lợn phi với lá ném, trộn ớt bột đỏ hồng. Bánh bột lọc kẹp với bánh tráng nướng dòn ăn rôm rốp, thật khoái miệng. Hôm mới rồi tôi gặp lại anh Đổng, anh LÔ... những cựu học sinh Gio Linh từ thành phố Hồ Chí Minh về thăm quê đã hỏi tôi, Bà Thẻo nay còn không? Tôi hỏi lại: “Bà Thẻo nào?” Các anh liền đáp: Bà Thẻo bánh sắn chị Cậu chứ Bà Thẻo nào. Hoá ra các anh ấy còn nhớ kỷ niệm hơn tôi.
Tôi ngộ ra rằng, trời ơi! Món ăn dân dã quê nghèo của tôi lại có dư vị lâu bền đến thế ư! Mà có phải chỉ bánh bột lọc đâu. Tôi có cảm giác món ăn gì của tuổi thơ quê kiểng đều ngon hết thảy. Không biết vì sao bây giê biết bao nhiêu sơn hào hải vị với những tên gọi mỹ miều lạ lẫm nhưng ăn chẳng thấy ngon, tôi không giải thích được.
Trường tôi, một dãy nhà trệt chỉ có bốn phòng học. Trường lợp ngói hồng, tường quét vôi màu vàng, cửa sổ sơn xanh, trông uy nghiêm đường bệ. Lớp học sinh chúng tôi cảm thấy tự hào khi được đặt chân lên bậc thềm tráng bằng xi măng láng bóng. Tiếng gót dày "côm cốp" của Thầy giáo mỗi lần đi qua sao nghe oai vệ lÉy lừng trong niềm cảm khoái bất tận. Sân trường rộng tho¸ng nhưng thiếu vắng những hàng cây. Cỏ ống, cỏ lia thia mọc thành thảm dày, trổ hoa lấm tấm mang hồn vía học trò ngây thơ mà hoang hút. Đáng ghét là những bãi cỏ may xác xơ dưới gót chân. Tội cho các nữ sinh mỗi khi quét tà áo vào, bông cỏ găm chi chít, phải ngồi nhổ hàng giờ mới sạch. Phía sau lưng trường là những hàng phi lao cao vút vi vu rì rào hun hút gió. Đây là nơi chơi đùa của học sinh chúng tôi vào giờ nghỉ học.
Đường tới trường, dẫu đi từ phía nào đến cũng đều có dấu ấn vui buồn đời thơ trẻ, dẫu chỉ là một bóng cây, một tảng đá, một lạch nước hay một bờ cỏ nghỉ chân.
Từ phía làng Hà Thượng đi xuống, băng qua cầu Bến Sanh đến chợ Quận. Con đường đất đỏ Biên Hoà mùa khô thì tung bụi mịt mù nhuộm đỏ hàng dứa dại mọc bên bờ, mùa mưa lại nhảo nhoét vì những bánh lốp ô tô đè lăn qua, lç chç những hố gà, hố vịt. Học sinh chúng tôi đi học phần lớn mang dép Nhật chỉ có hai quai trước nên ống quần lúc nào cũng bị bùn đất bắn lên, đỏ loét. Khu phố nhỏ bao bọc xung quanh quán chợ. Những cửa hiệu của mấy gia đình thương nhân giàu có nhất vùng, bán nhiÒu hàng hoá đối với chúng tôi là những thứ sang trọng, mình không dám hỏi tới. Quán chợ có đình lợp bằng mái tôn, để trống, không có tường và cao vòi vọi. Những dãy quán làm bằng tre nứa, lợp mái tranh, bán hàng tạp hoá, hàng gia vị, áo quần may sẵn và đồ chơi trẻ con. Tôi mê nhất là hiệu bán đàn và những quả bóng tròn bằng nhựa, mà mỗi lần đi qua chỉ biết đứng nhìn. Hàng bày trời là bán nông sản. Những gánh chuối, chè xanh, bầu bí bày la liệt.
Nếu đi từ phía làng NhÜ Th­îng lên là qua cầu Bến Ngự. Nghe nói nơi đây ngày xưa các vua triều Nguyễn thường ra ngự lãm. Cạnh cầu là làng Lại An, làng có nhiều cô gái răng trắng má hồng nổi tiếng xinh đẹp. Chiếc cầu nhỏ trùm bóng những hàng dừa. Đứng nghỉ chân vào mùa hè, chúng ta có cảm giác mát lành gợi nçi nhớ xa vời hun hút hương vị tuổi thơ. Dọc hai bên đường là những hàng dương liÔu, học sinh thường chọn nơi cắm trại những ngày hè. Đất ở đây là cát pha nên rất thích hợp với loài cây dương liÔu. Dương liÔu mọc thẳng tắp vươn ngọn tới tận mây xanh, ở những gốc cây này là những điểm hẹn lý tưởng của tình nhân. Chiếc nón trắng, tà áo dài đứng tựa lưng vào gốc liÔu là hình ảnh đẹp nhất tuổi học trò.
Đi từ làng Mai Xá hoặc An Mỹ lên phải băng qua trảng cát rộng dài mông lung với những lạch nước trong như lọc, lăn tăn gợn sóng. Cây Tràm ở đây mọc thành từng khoảnh, cây lµ chất đốt cho vùng cát và nguyên liệu cho thứ tinh dầu dùng bôi rốn cho trẻ con khỏi bị cảm gió. Những trảng cát bằng phẳng rộng mông mênh, là sân bóng đá của học sinh chúng tôi. Miền đất này có chç tựa như cảnh cụ Nguyễn Du tả trong trường đoạn Kiều đi hội đạp thanh bởi nhiều mồ mả và gò đống.
Học sinh của Trường hàng ngày phải mặc áo trắng quần xanh nếu là con trai cßn con gái mặc áo dài trắng tinh tươm, quý phái. Ngực áo đều được đeo biển hiệu thêu tên họ và lớp học. Kiến thức nhà trường truyền thụ đối với chúng tôi môn nào cũng mới mẽ, thú vị và đầy hào hứng. Để cho dÔ nhớ bài học, nhất là các môn tự nhiên, học sinh chúng tôi đều soạn các công thức bằng văn xuôi. Tôi còn nhớ môn toán lượng giác có câu...

Kỳ nghiêm Hồ

17/04/2014 lúc 15:19

Người quê tôi làm văn học nghệ thuật ở Hà Nội xem ra cũng đông, có cả trăm, nếu tính thêm dâu rể nữa phải vài trăm. Nhiều người tài năng siêu quần, tiếng tăm lừng lẫy, có người suốt năm xách túi đi họp, lại có người chỗ nào cũng có mặt, chạy đôn chạy đáo mồ hôi mồ kê nom vất vả lắm. Một vài người quen sống như những cái bóng, có tên tuổi hẳn hoi mà chẳng mấy khi đã thấy mặt, tài năng ra sao, tính nết thế nào thì thật chưa phải ai cũng đều đã rõ. Ô thế ra bác ấy cũng là quê ta, sao chả thấy đến họp đồng hương bao giờ, tôi vẫn biết là có anh ấy nhưng lại tưởng đã đi Văn Điển rồi cơ.
Người ta mỗi người mỗi tính, biết làm sao. Giang sơn có thể đổi thay mà tính tình con người thì rất khó thay đổi. Cái tính cách riêng của mỗi người phải cố mà giữ lấy, để mất đi, để giống nhau, ai cũng như ai thì đời sống chung thành thê thảm...

Ngôi làng văn hiến Hiền Lương

22/01/2014 lúc 16:07

 
 
 





P





hải mất nhiều năm sau này tôi mới nhận chân ra được: mỗi làng quê Việt Nam đều hàm dưỡng một lượng phù sa văn hóa bằng sức sống nội tại của mình để khắc nên những dấu ấn đặc trưng, rất riêng; không làng nào giống làng nào cả. Và trong từng ngôi làng ấy, dù ở đồng bằng hay miền núi, dù của người kinh hay người thiểu số cũng đều có những cách sống minh tuệ, mạch nguồn bền bĩ vượt qua thời gian thăng trầm lịch sử để giữ lại cho chính ngôi làng của mình những gì thuộc về giá trị được gọi là Truyền thống. Văn hóa Huế có những ngôi làng như vậy. Với tôi, ngôi làng Hiền Lương thuộc xã Phong Hiền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế bây giờ là một thí dụ.
Khi tiếp cận với những mạch sống văn hóa linh diệu ấy của làng Hiền Lương, nó đã đánh thức ký ức tiềm ẩn trong tôi nhớ về một thời xa xưa, kể từ lúc  người Việt từ châu thổ sông Hồng, sông Mã vượt dãy Hoành Sơn vào đây khai phá, thiết lập thôn trang, sắp đặt bộ máy quản trị thì làng này mang tên Hoa Lang. Trải qua các triều đại nhà Trần, Hồ, Lê, Mạc, chúa Nguyễn, Tây Sơn...nơi đây liên tiếp xảy ra hàng trăm cuộc chiến tranh lớn nhỏ rất khốc liệt, lúc bi thương, lúc hùng tráng để giành, giữ đất và thay đổi thế lực cầm quyền. Mặc dù nằm trong bối cảnh vừa tạo lập, vừa giao thoa văn hóa, vừa phải thích nghi với thủy thổ, vừa phải chiến đấu tự vệ, nhưng làng Hoa Lang lại không ngừng phát triển... Đến thời Nguyễn - Thiệu Trị, do tên làng Hoa Lang ngẫu nhiên trùng tên húy bà Thái hậu Hồ Thị Hoa (mẹ vua Thiệu Trị) mà vào năm 1841, nhà vua đã ban đổi ra thành làng Hiền Lương. Mang tên mới, với khát vọng cát địa xoay chuyển linh mạch sẽ sản sinh nhiều bậc hiền tài lương đống cho nước nhà. Là một ngôi làng Việt thuần nông, song Hiền Lương lại mau mắn sớm có thêm nghề rèn thủ công sinh kế nổi tiếng, nên dân quanh vùng quen gọi bằng cái tên nôm: làng Rèn.
Bây giờ, làng rèn Hiền Lương đứng chân gần bên cầu An Lỗ, cạnh dòng sông Bồ ngầu đỏ phù sa, cách kinh thành Huế chừng 20 cây số về phía bắc. Từ quốc lộ 1A, đoạn qua giữa hai xã Phong An quê nội của cụ Đồ Chiểu và xã Phong Hiền chánh quán nhà cơ khí tài danh Hoàng Văn Lịch. Những ai muốn vào làng đều phải rẽ xuống một quãng và băng ngang chợ An Lỗ, do chợ họp thường xuyên lại chiếm một phần đường tỉnh lộ xuôi về phố Sịa - mà xứ Sịa là địa danh cổ nổi tiếng, trung tâm của huyện lỵ Quảng Điền, quê hương Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, nhà thơ Tố Hữu... nằm gần trấn thành Hóa Châu xưa; nơi ấy cá ngon tôm ngọt, gạo dẻo nếp thơm, cà giòn khoai bở, rượu nồng thuốc đậm lại trắng tàn...Những sản vật sinh trưởng từ đồng ruộng Quảng Điền hương vị khác lạ, ai đã dùng rồi thì rất khó quên, thường được dân xứ Sịa đem lên trao đổi ở chợ An Lỗ.
Vị trí kề cận này ngẫu nhiên tạo cho Hiền Lương thừa hưởng được địa thế phong lưu: “Nhất cận thị, nhì cận giang, tam cận lộ" mà thuận bề cho sự giao thương, phát triển của ngôi làng.
............

Thư Quảng Trị

02/12/2013 lúc 23:29






B





ạn thân mến,
Như mọi lần, tôi một mình chạy xe vào thị xã Quảng Trị. Mới hôm trước, gió Lào và nắng nóng tới 40,80C, vậy mà bữa nay trời xuân ở đây đẹp mát tỏa sắc bâng khuâng lên đất đai, cây cỏ. Nhưng, điều khác biệt lớn nhất là hôm nay có rất nhiều người cùng về với nơi từ trong ba mươi lăm năm trước đã ký âm những nét nhạc bất tử của khúc tráng ca về dòng Thạch Hãn và ngôi Thành Cổ vinh quang từng tuẫn đạo vì hòa bình và thống nhất của đất nước, vì tự do của dân tộc Việt Nam.
Một nỗi xốn xang nhanh chóng lan tỏa khi từ bến Vượt, những người lính trẻ măng mang ba lô, mũ cối của các chiến sĩ giải phóng bước lên bờ kè, đi sau lá cờ Tổ quốc đến tháp chuông giữa lòng thị xã Quảng Trị trong giọng ngâm bồi hồi: “Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ- đáy sông còn đó bạn tôi nằm- có tuổi hai mươi thành sóng nước- vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm“...

Cựu chiến binh Cồn Cỏ về thăm lại đảo Tiền tiêu

16/01/2014 lúc 22:57






T





rần Văn Thà cùng các bạn chiến binh thân thiết tìm được địa chỉ mét tr¨m s¸u m­¬i chiến sĩ năm xưa của đảo Cồn Cỏ, các anh mừng lắm, ríu rít bàn cách gọi nhau ra thăm đảo Tiền Tiêu, nơi các anh đã chiến đấu ngoan cường, in lại dấu son đậm trong đời. Các anh liền làm đơn gởi ra Tỉnh đội Quảng Trị giúp đỡ, tạo điều kiện cho cuộc gặp gỡ này, song Chính ủy Tỉnh đội Quảng Trị trả lời bằng văn bản: Chúng tôi chưa thể giúp đỡ được. Nhận thư, các anh ngồi lặng người, nghe buốt trong tim.
Đợi đủ thời gian ba năm, năm 2007, các anh làm đơn lần thứ hai, Trần Văn Thà với tư cách đảo trưởng thời đạn bom ra tận Đông Hà gặp gỡ, thuyết phục, mới được Tỉnh đội chấp nhận.
Mừng vui, thư tới tấp gởi đi, như những cánh bướm phất phới bay về khắp cả Bắc - Trung - Nam. Trong hai ngày chÝn, m­êi tháng 6 năm 2007, các cựu chiến binh Cồn Cỏ tấp nập đổ xe xuống Đông Hà.
Cuộc gặp gỡ vui mừng khôn xiết, thật không có ngôn ngữ nào tả nçi. Họ hét gọi tên nhau, chạy ào tới, ôm chầm lấy nhau, ghì chặt, nâng bổng nhau lên vai. Cầm tay nhau chạy tung tăng. Thật không thể nghĩ trên nhà khách Tỉnh đội này là các ông già tóc bạc phơ, toàn cỡ b¶y m­¬i tuổi trở lên, mà đúng hơn là sân nhà trẻ ngày Tết Trung thu của các cháu nhận quà. Họ hầu như quên tuổi tác của mình; đang sống hết lòng mình với tuổi trẻ một thời chia nhau miếng nước, chia nhau lửa đạn. Bùi Thanh Phong hồn nhiên tới mức anh ôm cổ, nhảy lên lưng hết người này đến người khác, vật bạn xuống giường, đè lên, day day hàm râu vào má bạn, tôi nhìn anh, cứ nhớ Bùi Thanh Phong bèn m­¬i năm trước đây là một trong những người đầu tiên bắn đạn vào máy bay phản lực gầm rú trên bầu trời Cồn Cỏ.
Vui quá trời. Ba đêm trong nhà khách Tỉnh đội hầu như không ngủ. Trưa không ngủ. Họ nói chuyện với nhau không phải thầm thì đâu, mà oang oang như chợ vỡ vậy. Đúng là phải dốc hết lòng mình ra mới đã, 40 năm mới gặp được nhau chứ dễ dàng gì.
Ông Sửu, đảo phó năm ấy, giờ đã t¸m m­¬i t­ tuổi nói nghẹn ngào:
- E đây là lần cuối cùng chúng ta đoàn tụ với nhau đông đúc như thế này.
Không phải chỉ ông Sửu nghĩ như vậy đâu. Đó là ý kiến đa số. Bởi người lính rời quân ngũ về với ruộng đồng, biết bao nhiêu điều chất lên vai họ, không dễ gỡ mình ra lúc nào cũng được. Mỗi chuyến xa nhà là một bài tính riêng, dẫu kỷ niệm cũ không bao giờ quên. Những bộ quần áo lính ngày ấy mang về, giặt giũ, cất kín như của gia bảo, bây giờ mới có dịp mang ra mặc. Hầu như không có ai không có chiếc mũ mềm gắn quân hiệu đã đi với họ suốt đời lính. Đội trên đầu lúc này đây như một niềm kiêu hãnh không bao giờ phai.
Đoàn cựu chiến binh Cồn Cỏ của Thanh Hóa có hai m­¬i l¨m người, khoe: Trước khi đoàn đi, Tỉnh ủy và Ủy ban tỉnh Thanh Hóa gặp gỡ chúc chuyến đi thành công, không chỉ cho xe chở đi, mà còn cử riêng một phóng viên truyền hình mang theo máy đặc chủng, ghi hết mọi hoạt động của anh em trong cuộc gặp gỡ này, rồi in riêng cho mỗi người một đĩa làm kỷ niệm.
Buổi hẹn gặp gỡ với tỉnh, dự định 7 giờ 30 phút vào hội trường, nhưng sáng đó chiến sĩ Cồn Cỏ của Vĩnh Linh, Quảng Trị mới tới, không có chỗ đón tiếp, nên đành đến muộn, họ ào vào nhau, không dứt ra được, mãi 9 giờ 15 phút mới ngồi ngay ngắn trong hội trường.
Cuộc tiếp xúc này anh Trần Văn Thà, nguyên đảo trưởng Cồn Cỏ có bèn đề nghị:
Một là: Nên có một bảo tàng cho đảo Cồn Cỏ. Vì lý do gì đó không làm ở đảo được thì thu xếp một phòng riêng cho Cồn Cỏ ở Bảo tàng Quảng Trị.
Hai là: Cồn Cỏ cần có một tượng đài làm biểu tượng cho mình, và nên giữ nguyên những địa danh ở đảo như đã đặt ra trong chiến tranh.
Ba là: §ề nghị nên có kỷ niệm chương cho các chiến sĩ Cồn Cỏ nhân kỷ niệm n¨m m­¬i năm thành lập. Ai không còn nữa thì gửi về gia đình họ.
Bốn là: Hiện còn có một số chiến sĩ bị thương trên Cồn Cỏ, vì lý do này, lý do khác chưa làm được chính sách thương tật, đề nghị Tỉnh đội giúp đỡ. Vì chúng tôi còn sống đây, sẽ xác nhận được cho nhau.
Sáng ngày m­êi mét th¸ng s¸u, chỉ có b¶y m­¬i cựu chiến binh ở xa được lên tàu ở Cửa Việt ra đảo. Họ tranh nhau ngồi trên ván gỗ mũi tàu, không phải để hóng gió mát, mà để nhìn thấy đảo Cồn Cỏ từ xa. Nhác thấy bóng đảo mờ mờ nơi chân trời, ai đó nói như reo lên:
- A, đảo kia rồi!
Thế là cả con tàu xôn xao. Nhao nhao nói: Mỏm cao bên tay trái đó là Hải Phòng, mỏm cao bên phải là Mũi Si… Đâu đâu, bến Nghè đâu, bến Nghé đâu?... Mỗi người đều tìm trong ký ức mình những kỷ niệm riêng nơi Cồn Cỏ. Rõ ràng Cồn Cỏ đang sống dậy trong từng người. Khi bước lên tàu, mọi người đều ngỡ ngàng vì màu xanh ngan ngát của Cồn Cỏ. Bởi ngày ấy chia tay Cồn Cỏ, thì Cồn Cỏ hố bom chồng lên hố bom. Mảnh đất hơn ba cây số vuông đang bị bom đạn địch cày nát, có đâu màu xanh như bây giờ...

Những đêm thiêng Thành Cổ

17/04/2014 lúc 15:19






T





rên đường thiên lý Bắc - Nam suốt dài Quốc lộ 1 A, ngang qua thị xã Quảng Trị, xin bạn hãy rẽ về phía Bắc 2km đến viếng thăm Thành Cổ. Thành Cổ - một thời mưa bom bão đạn, một thời lửa - thép. Bạn đừng quên thắp nén hương tưởng nhớ những người đã ngã xuống, hoá thành trời xanh mây trắng vì cuộc sống bình yên hôm nay. Bạn sẽ chìm sâu vào không gian linh thiêng siêu thực, tưởng như khói hương bay, tiếng bom đạn ầm oàng hỗn loạn và máu chảy của một thời hoa lửa hiển hiện vừa mới hôm qua.
Bạn có bao giờ tự hỏi: Cái Thành Cổ - Quảng Trị chưa đầy hai cây số vuông và khu vực xung quanh có giá trị gì về quân sự để đến nỗi phải chịu cảnh hoang tàn đổ nát, máu đổ xương tan do bom đạn Mỹ- Nguỵ tàn phá sức huỷ diệt ngang với bảy quả bom nguyên tử ném xuống Hi rô si ma - Nhật Bản? 81 ngày đêm bộ đội, du kích chống lại cuộc tái chiếm Thành Cổ của các lực lượng Thuỷ quân lục chiến, Biệt động quân, Lính Dù… thuộc Tổng trừ bị của Nguỵ, mỗi ngày hy sinh một đại đội, cũng có nghĩa là khoảng một vạn chiến sĩ hy sinh trong thời gian này. Rất có thể nhiều hơn nữa, hoặc ít nhất cũng bằng ấy người lính phía bên kia chết trận. Dứt khoát phải có nguyên cớ nào đấy!?...

Giếng cổ - lịch sử trong đá và nước

08/07/2014 lúc 15:20






Đ





ối với nhiều người, Gio An thường được biết đến như là một địa danh lịch sử từng đi vào trong ký ức về cuộc chiến tranh chống Mỹ (và cả trong bài hát quen thuộc của nhạc sĩ Huy Thục). Bây giờ, khi mà âm vang của cuộc chiến đã lùi xa thì ở đất nước này, người ta vẫn thấy còn nguyên những điều kỳ lạ...
Làng trên đá.
Vùng Gio Linh xưa nay vẫn lưu truyền câu tục ngữ : “Gan Mai Xá- Đá Hảo Sơn” Gan Mai Xá - làng Mai (xã Gio Mai) thì rõ rồi (Đất này từng có những vị tưởng bách chiến bách thắng phò Tây Sơn; những anh hùng liệt sĩ “gan đồng dạ sắt” và những bà mẹ làng Mai nổi tiếng từng đi vào âm nhạc như tượng đài. Thế còn đá Hảo Sơn?
Dọc con đường nhựa dẫn vào Hảo Sơn, cũng như những xóm làng khác của Gio An, trước mắt chúng tôi đâu cũng là đá. Trên bề mặt bazan xốp mịn, đá trỗi lên từng phiến lô xô, ở khắp sân nhà, trong vườn cây, trên bờ ruộng... nhiều vô kể. Đá lớp lớp dưới những tầng đất sâu, đá nhấp nhô thiên hình vạn trạng, như thể ông thầy tạo tác ngày xưa đã cao hứng bày ra nơi đây một trận thạch đồ.
Bác Nguyễn Văn Phúng, một cán bộ chuyên trách Văn hóa xã dẫn chúng tôi đi một vòng mục kích “chiến trường” đá. Chỉ tay lên những vườn hồ tiêu xanh thẳm, giọng bác nhẩn nha:
Tiêu trồng trên đá cả đó cháu. Để cải tạo một mảnh đất vườn, chúng tôi đã phải đào và khiêng đổ đi không biết bao nhiêu phiến đá. Để đặt một gốc tiêu, phải bứng đi 3-4 tảng đá to bằng thúng, bằng bàn là chuyện thường.
Đá đào lên chất từng đống đồ sộ trông cứ như một chợ đá vĩ đại. Có thể cảm nhận được rằng, ở đây cây cỏ cũng như con người, đã học được cách sống chung với đá, sinh tồn từ trên đá.
Nhưng khó khăn đến như trồng cây trên đá vẫn chưa phải là sự lạ. Chuyện lấy nước từ đá mới đáng là kỳ tích. Bác Phúng lại kể:
- Ở Gio An, giếng lấy nước thường sâu đến 15- 20m, thậm chí là 30- 35m. Đào một cái giếng như vậy phải mất trên 300 công (mỗi công 50.000đ), tính sơ sơ cũng đến 15-25 triệu đồng nguyên một gia tài của nhà nông!
Vậy nên có người thậm chí cả đời không dám mơ đến chuyện đào giếng. Nhưng ngay cả khi không thiếu tiền người ta vẫn chưa thể cầm chắc là có giếng. Bởi, cũng giống như một trò chơi thử vận may, có người đào xuống dăm bảy mét đất là tìm thấy nước. Nhưng có người nửa đời vật lộn cưa, đào, đục, xẻ với hàng chục khối đá mà nước thì mãi chưa thấy đâu. ......

Qua sông Bến Hải

08/07/2014 lúc 15:16






Đ





ối với những người cầm súng vượt Trường Sơn vào nam đánh Mỹ thì Bến Hải không chỉ là tên gọi của dòng sông lịch sử mà là sự gợi nhắc tha thiết, cồn cào về một thời gian nan, oanh liệt của họ. Đó chính là một thời nhớ mãi như cách nói của chúng ta bây giờ. Khi ấy, các nhà văn - Đại tá Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Bảo, Lê Thành Nghị đang còn là những thanh niên, sinh viên trẻ trung sôi nổi được gọi vào quân đội. Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Bảo, lăn lội ở chiến trường quân khu năm, cũng nằm hầm ở hào chống giặc đi càn như quân giải phóng, cũng lui cui phát rẫy trồng mì ở cứ. Lê Đình nghị làm lính thông tin đã từng nếm mùi nắng gió bom đạn ở đường 9 Quảng Trị và những bài thơ, bút ký, truyện ngắn thời thanh xuân của các anh đã ra đời từ những miền đất ấy. Ba nhà văn tuổi đã vượt “ngủ tuần” là Tổng biên tập và phó biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội đóng ở nhà số 4 - Lý Nam Đế - Hà Nội trên suốt chặng đường 600 cây số từ thủ đô vào Quảng Trị cứ lôi ký ức chiến tranh ra kể với nhau. Thì ra, đã gần 30 năm hòa bình cuộc chiến khốc liệt và hào hùng ấy vẫn sống mãnh liệt trong thế hệ như các anh, vẫn là nỗi ám ảnh khôn nguôi đối với những người cầm bút đã lớn lên và trưởng thành cùng nhân dân thời “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Cuộc hành trình vào Quảng Trị lần này theo lời mời của nhà văn Xuân Đức, Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh và nhà văn Cao Hạnh, Tổng biên tập tạp chí Cửa Việt  thực chất là sự trở lại mảnh đất bộn bề dấu tích chiến tranh magf mỗi dịa danh, từng hiện vật còn được lưu giữ lại, kể cả hàng hàng bia mộ có tên và chưa có tên của đồng đội ta làm bừng dậy nguồn cảm hứng và trách nhiệm sáng tác cho một đề tàilớn của nền văn học nước nhà: đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng.
Trước khi vào với bạn bè Quảng Trị, đoàn nhà văn của Tạp chí văn nghệ Quân đội dừng lại mấy phút với Bến Hải Hiền Lương. Mùa thu đến rồi mà đất Quảng Trị vẫn ong ong nắng. Bầu trời cao thẳm, ngăn ngắt xanh không một sợi mây. Lại bồi hồi nhớ câu thơ của Tế Hanh viết ở đầu câu giới tuyến Hiền Lương thời đất nước bị chia đôi “Trời vẫn xanh một màu xanh Quảng Trị” cái màu xanh dễ cắt nghĩa đó lắng vào con sông Bến Hải, mãi miết từ xanh trên đỉnh Trường Sơn ra tới Cửa Tùng, xa hơn, xa hơn nữa là cồn cỏ - hòn đảo lửa thời chiến tranh – hòn đảo “ thanh niên” của tương lai chỉ cách di tích lịch sử địa đạo Vịnh Mốc 28km đường biển............
 

Cát trinh nguyên

26/06/2014 lúc 15:51

Bây giờ Mỹ Thủy là bãi tắm đang có khách mà anh. Y Thi nói có vậy rồi dắt xe vào bãi gửi. Đuổi theo xe chúng tôi là xe du lịch nhỏ có biển số của Thừa Thiên. Dân sành chơi đã tìm đường ra đây khi biển Thuận An trong ấy đã nhiễm bẩn
- Mỹ Thủy nào đây? Tôi hỏi.

Đất thép - Đất hoa

02/12/2013 lúc 23:03






K





hông rực rỡ và gây chú ý ngay từ cái nhìn đầu tiên như dã qùy khi tôi đặt chân đến Tây Nguyên, cúc dại mềm mại nằm hiền hòa bên đường ray xe lửa chở tôi từ phương xa đến thị xã Đông Hà. Nó làm tôi nhớ lại thuở bé thơ về quê nội với những triền đê vàng trong nắng chiều. Cúc dại được người dưng hàng xóm kết thành chiếc vương miện xinh xinh đội trên đầu và làm cả chiếc nhẫn lồng vào ngón tay xiu xiu của con bé gầy còm, đen nhẻm. Thế nên, ngay ánh mắt đầu tiên của tôi khi đặt chân đến Quảng Trị là ánh mắt thân thiện và trìu mến!
Khi tàu chưa đổ tại ga Đông Hà, bao ý nghĩ cứ đan xen, dù biết rằng người chờ ở ga là người thân thiết và gần gũi lắm. Khi ấy tôi nghĩ, đến nơi này chắc là tôi rụt rè lắm vì cảnh vật qúa lạ lẫm so với miền sông nước của mình và vì nơi ấy qúa nổi tiếng. Có lẽ, chính tôi cũng không thể ngờ rằng những bông hoa vàng bé bỏng này lại là sợi dây kết nối vô hình... 

Trở lại Trí Bưu

16/01/2014 lúc 22:10






T





ôi là một trong số những người may mắn còn có diễm phúc được nhìn thấy thị xã Quảng Trị vẹn nguyên sau ngày giải phóng 1-5-1972. Mùa hè ấy sắc hoa phượng vĩ trên thị xã như rực rỡ hơn. Đường phố ngày mới giải phóng tuy thưa  người nhưng không vì thế mà bớt đi vẻ nhộn nhịp, hồ hởi. Hào khí chiến thắng, không khí đoàn viên, ngập tràn thị xã. Lúc ấy, với tầm nhìn một người lính binh nhì của đạo quân chiến thắng, tôi chưa đủ chín để nhận thức ra rằng: Ánh hoa rực rỡ phát tiết ra ngoài của thị xã Quảng Trị vào thời khắc ấy mấy ngày sau chỉ còn là kỷ niệm trong ký ức của những người yêu Quảng Trị mà thôi.
Bây giờ Đông Hà đã thay Quảng Trị đảm nhiệm vai trò thị xã tỉnh lỵ và đang tiến nhanh lên thành phố trực thuộc tỉnh. Tôi có một nhận xét nhỏ: Nếu như Đông Hà mang dáng dấp của một đô thị trẻ, tân kỳ thì thị xã Quảng Trị  vẫn giữ nguyên vẻ trầm lắng suy tư duyên dáng bên dòng Thạch Hãn với nét văn hóa đặc trưng đầy chất thị dân riêng có của mình: “ Người Quảng Trị hiền từ mà thanh lịch, quảng giao mà sâu lắng, nhạy bén nhưng không xu thời”
Cách kinh đô Huế sáu mười cây số về phía Bắc, mấy trăm năm làm phên dậu cho xứ Đàng Trong nhưng người Quảng Trị không muốn nhuốm màu vương giả kinh kỳ. Người dân thị xã sống đôn hậu dịu dàng, hồn nhiên tươi mát như đôi bờ sông Thạch Hãn quanh năm ngút ngát một màu xanh diệu vợi của lúa ngô rau đậu nối nhau chuyển mùa.
Nhưng với tôi, nhắc đến thị xã Quảng Trị, ấn tượng nhất vẫn là tiếng chuông từ nhà thờ Trí Bưu trầm ấm ngân nga, cứ mỗi sớm mỗi chiều đồng vọng gửi vào thinh không thông điệp thanh bình vĩnh cữu. Ngoài phần máu thịt thiêng liêng, tôi yêu thị xã Quảng Trị một phần bắt đầu từ tiếng chuông nhà thờ thanh tịnh ấy.
Làng Trí Bưu có tên trong địa bạ Quảng Trị từ thế kỷ XVI; là một làng thuần nông, mọi người cần cù chịu khó, thương yêu đùm bọc nhau và mưu sinh bằng những nghề hết sức lương thiện: trồng trọt, chăn nuôi, hái củi, bán than… Cần kiệm, đoàn kết nên làng Trí Bưu sớm trở thành giàu có, sầm uất nhất vùng. Và Trí Bưu cũng là nơi có họ đạo sớm nhất trong hạt Dinh Cát, thời các Chúa Tiên..
Cuối năm 1975, tôi đến xứ đạo Trí Bưu trong sứ mạng của một người lính thời bình. Trung úy Trần Văn Nụ - Chính trị viên phó tiểu đoàn, bảo tôi:
- Chú đi với anh ra nhà thờ Trí Bưu liên hệ xin đất cho đơn vị tăng gia, cấy lúa.
Ông Nụ gốc gác là dân quê lúa Thái Bình, đi bộ đội khi mười tám tuổi. Vào Nam chiến đấu từ chiến sĩ cho đến khi lên đến chức chính trị viên phó tiểu đoàn, trận nào ông cũng đảm nhiệm chân xạ thủ chính súng chống tăng B41 vì ông Nụ có biệt tài sử dụng loại súng này. Trong mỗi trận tập kích, lính ta biết phía ngoài cửa mở có ông Nụ ôm B41 yểm trợ ai cũng yên tâm. Bởi vì nhiều trận đánh công đồn hỏa điểm địch xuất hiện thì cũng chỉ mấy giây sau B41 của ông Nụ bịt được ngay. Ông phát hiện ụ súng, lô cốt của địch ban đêm rất nhanh và tác xạ bách phát, bách trúng. Cái lô cốt mẹ trước cổng chi khu quân sự quận lỵ. Mai Lĩnh đối diện UBND xã Hải Phú bây giờ mang nhiều vết đạn toang toác trong đó có vết đạn B41 của ông Nụ. Bộ sưu tập thành tích chiến đấu của ông có tới tám cái Huân chương chiến công, trông đó theo ông khẳng định có tới sáu Huân chương chiến công hạng ba vì thành tích tiêu diệt nhiều mục tiêu của địch bằng súng B41, yểm trợ cho xung lực hoàn thành nhiệm vụ trong những trường hợp gay cấn nhất.
Trong chiến tranh xứ đạo Trí Bưu bị tàn phá không thua gì ngoài Cổ Thành Quảng Trị. Cả xứ đạo không còn bóng cây to. Tre pheo bị bom pháo phát hiện tiện sát gốc, xơ xác toe tua. Cả thôn không một ngôi nhà nguyên vẹn, nhà thờ cũng bị hư hại nặng nề. Dân li tán sau chiến tranh mới trở về làng cũ, cuộc sống dưới những mái tôn rách che tạm bợ khó khăn trăm bề...

Tạ ơn một vùng đất

17/04/2014 lúc 15:20






T





ôi quyết định ngủ lại một đêm ở thị xã Quảng Trị, đó là một đêm khi chiến tranh đã có một khoảng lùi ba mươi nhăm năm trên mảnh đất này. Một khách sạn vô tình tôi gặp vào lúc trời vừa chạng vạng. Khách sạn bốn hay năm tầng gì đó nằm hắt hiu dọc một con phố nhỏ. Một đầu phố hướng tới Cửa Bắc Cổ Thành, một đầu hướng ra bờ sông Thạch Hãn.
Quảng Trị là một tỉnh như thế, đứng án ngữ trên quốc lộ xuyên Việt. Quảng Trị trong lịch sử nước Việt như một cái gạch nối về mặt địa lý cũng như ý nghĩa văn chương. Mấy chục năm qua, biết bao lần ra Bắc vào Nam tôi đã đi qua đây nhưng không một lần nghỉ lại. Đêm nay cũng vậy, mấy tầng lầu khách sạn hầu như không có một  khoảng sáng nào qua các cửa sổ. Vừa mới chập chiều phố xá còn tấp nập ánh đèn mà chỉ trong thoáng chốc... Tôi mở cửa phòng, chỉ còn lại những tàn cây run rẩy dưới ánh đèn đường xanh nhẽo nhợt. Chẳng biết có phải mọi người cũng như tôi, không muốn dừng lại đây để tránh những ám ảnh chiến tranh, những ám ảnh không dễ xoá nhoà trong ký ức của một dân tộc. Đó là ''tám mươi mốt ngày đêm'', lịch sử đã chọn đất này làm nơi thử thách. Dưới mọi góc độ, trên mọi bình diện từ sự khủng khiếp của vũ khí huỷ diệt, đến sức chịu đựng, lòng can đảm của con người mà trước đây chưa có một thực tế nào có thể chứng minh một cách thuyết phục. Thì đây, “tám mươi mốt ngày đêm'' thành cổ mãi mãi còn đó, mãi mãi sẽ là một minh chứng cho mọi thời đại. Cho dù mọi thứ có thể phôi pha, Cổ thành chỉ còn là một đống đổ nát hoang tàn trong khói bụi chiến tranh. Song, đối với lịch sử thì bóng của Thành Cổ Quảng Trị vẫn rợp một khoảng dài!
Đã hơn ba mươi năm chiến tranh qua đi, từ Đông Hà cho đến thị xã Quảng Trị, hạnh phúc giản dị rạng trên gương mặt người mỗi buổi sáng mai về...

Linh chi, cây cỏ thần tiên

09/03/2014 lúc 20:50






T






háng ba, đất trời Thành Cổ ngập tràn trong ánh nắng xuân, ngập tràn trong dòng người và xe cộ ngược xuôi. Tháng ba, tôi vào Thành Cổ. Tôi đã hàng chục lần vào Thành Cổ, có khi dừng lại lâu lâu, có khi chỉ ngang qua, nhưng lần nào cũng vậy, Thành Cổ luôn là mảnh đất tôi yêu mến. Trải hơn ba mươi năm dựng xây, dù có cái chưa làm được, có cái đang dở dang, nhưng Thành Cổ Quảng Trị, thị xã nhỏ bên dòng Thạch Hãn thơ mộng, từng làm rạng danh lịch sử đấu tranh bởi 81 ngày đêm, từng bị nát vụn dưới lớp lớp đạn bom kẻ thù…hôm nay đã có thể mạnh mẽ vươn lên như một sức trai trẻ tràn đầy sinh lực. Vì thế tôi muốn nói rằng, Thành Cổ hôm nay không chỉ là nơi để người ta tưởng niệm, tri ân với những gì của quá khứ mà còn là nơi được người ta chú ý đến bởi những gì mà người dân ở đây đang làm để xây dựng một Thành Cổ, xây dựng một thị xã ngày càng tươi đẹp hơn. Trong chuyến vào Thành Cổ lần này tôi muốn tìm đến với những người đang lao động sản xuất.
         “Thị xã hôm nay có nhiều mô hình làm ăn tiêu biểu, có nhiều gương sản xuất, kinh doanh giỏi trên các lĩnh vực và tôi muốn giới thiệu với anh một cơ sở sản xuất nấm Linh Chi khá nổi tiếng ở ngay giữa lòng Thành Cổ này. Ông là kỹ sư Lê Văn Quỳnh!”. - Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã Quảng Trị, anh Nguyễn Trí Tuân đã nói với tôi như vậy...

Con tôm, hạt muối Tường Vân

16/12/2013 lúc 09:46






T





ôi ngồi với Minh trong suốt buổi chiều chỉ để ngắm từng đoàn thuyền từ phía Lông Hà, Tân Lợi, Hà Lộc, Đại Lộc (xã Do Hải và Gio Việt) bên kia sông và Phù Hội, Hà Tây, An Lợi (xã Triệu An) bên này sông đang cùng nhau hối hả hướng về Cửa Việt đê vượt sóng ra khơi. Người bạn cùng chăn trâu, tắm sông của tôi thuở thơ ấu cứ mân mê mãi trên tay những hạt muối trắng tinh khôi lấy từ đồng muối cuối làng và khẳng định từ năm mươi phần trăm mồ hôi người làm muối, phần còn lại là nước biển. Chính cái vị mặn ấy là nỗi nhớ miên trường của Minh và người làng Tường Vân trong những ngày xa xứ, trong nhiều đêm mất ngủ ở quê người. Cả buổi chiều hôm đó, tôi lặng lẽ ngồi nghe Minh say sưa kể về cách làm muối của người làng và hiểu rằng để làm ra hạt muối, người làng Tường Vân phải dầm mình trong cái nắng tháng bảy, tháng tám đổ lửa để tinh luyện, cô đặc giọt nước biển thành váng muối rồi hạt muối. Minh buồn buồn đọc cho tôi nghe hai câu ca dao mà theo Minh đã vận vào đất làng rằng “Tường Vân là làng éo le/ Lấy đất làm muối, lấy tre làm nồi” rồi giải thích cho tôi hiểu rằng “éo le” cũng bởi làng nằm trên bán đảo được bao phủ ba bề là sông nước và choải mình ra phía hợp lưu của hai con sông Thạch Hãn, sông Hiếu trước khi xuôi về Cửa Việt, đổ vào biển đông. Rằng mặc dù sông gần Biển nhưng người làng Tường Vân không làm biển mà làm ruộng một vụ, làm muối, nuôi vịt. Rằng ngày xưa các cụ thường dùng nồi đất để nấu nước biển thành muối như chứ chưa làm ô, chạt phơi nước bển như bây giờ. Nấu muối, phơi muối, một đời người dân có khi nào giàu lên được từ hạt muối bao giờ, như người mẹ già nua của Minh, đôi chân phỏng rốp, đôi tay sần chai, cứ quần quật suốt ngày trên sân phơi muối đến cuối ngày cũng chỉ đủ tiền đong gạo. Ngày mai, Minh lại lên đường vào TP. Hồ Chí Minh, nơi Minh quyết tâm bám trụ lập nghiệp. Mười một năm trôi qua, mỗi đưa một phương, tôi chỉ còn biết vài thông tin mù mờ từ người làng rằng Minh đã lấy vợ và thi thoảng lắm mới ghé về quê dăm bữa rồi lại ra đi. Mảnh đất nghèo khó dù là quê hương khó nguôi ngoai trong tâm cảm vẫn không thể nào níu giữ Minh khi trong Minh, cái khát vọng lập nghiệp, làm giàu ở đất khách còn bùng cháy. Tôi từng nghĩ thế về Minh và mới đây, trong lần ghé thăm gia đình Minh, tôi đã nạc nhiên khi nghe tin Minh mấy tháng nữa sẽ đưa vợ con trở về quê hương sinh sống...

Các anh đi ngày ấy...

16/01/2014 lúc 21:31






T





iết trời đã vào cuối xuân, nắng trải vàng au trên từng mái nhà, góc phố. Trên các ngã đường của thị trấn huyện lỵ Gio Linh, đâu đâu cũng thấy phấp phới cờ đỏ sao vàng. Màu vàng của nắng và màu đỏ của cờ như hòa quyện lại tạo nên một cảnh sắc yên ả, thanh bình. Gio Linh- mảnh đất từng bị bom cày, đạn xới, làng mạc xác xơ, tiêu điều trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt, giờ đã hồng da, thắm thịt sau hơn ba mươi năm lăm dựng xây với những cánh đồng lúa mượt mà, xanh biếc ở Trung Sơn, trung Hải, Gio Mỹ, Gio Quang...và những vườn cao su, hồ tiêu ngút ngàn, trù phú ở Gio An, Gio Bình, Gio Sơn, Hải Thái...

"Cuộc giải cứu BAT 21" và nắm đất của mẹ Gio Linh

16/01/2014 lúc 21:30






C





hiến đấu nhiều năm trên chiến trường Quảng Trị và có hơn hai năm phụ trách Tư lệnh Phòng không của Quân khu IV, tôi nay là Đại tá đã về hưu, tám mươi tuổi, sinh sống với con cháu tại Hà Nội. Kỷ niệm 35 năm ngày giải phóng Quảng Trị, tôi có hai mẫu chuyện kÓ về chiến trường xưa. Hẵn là không có gì li kỳ, song cực kỳ thú vị vì câu chuyện từ cuối thế kỷ XX, nay được sống lại ở đầu thế kỷ XXi. Tất cả họ và chúng tôi đều là những nhân chứng lịch sử, vừa gặp lại nhau mới đây trên mảnh đất Quảng Trị anh hùng....

« 5455565758 »

Tạp chí số cũ
Dự thảo
tư tưởng Hồ Chí Minh
Du Lịch Quảng Trị

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

05/08

25° - 27°

Mưa

06/08

24° - 26°

Mưa

07/08

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground