Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Tiếp cận Phật giáo vùng Quảng Trị từ những ngôi cổ tự

Phật giáo ở vùng Quảng Trị có mặt cùng với người Việt từ các đợt di dân. Nền Phật giáo dân gian truyền thống Ðại Việt mang tư tưởng dân gian hóa, xa dần với tư tưởng thiền học cao siêu được người Việt mang từ đất Bắc

Phật giáo ở vùng Quảng Trị có mặt cùng với người Việt từ các đợt di dân. Nền Phật giáo dân gian truyền thống Ðại Việt mang tư tưởng dân gian hóa, xa dần với tư tưởng thiền học cao siêu được người Việt mang từ đất Bắc vào cùng với sự tiếp nhận của các yếu tố Phật giáo của người Chăm bản địa sớm ươm mầm trên vùng đất mới đã tạo điều kiện cho sự truyền bá và tiếp nhận các dòng thiền Phật giáo như Lâm Tế, Tào Động từ Quảng Ðông Trung Quốc từ thế kỷ XVII. Tính chất của Phật giáo Quảng Trị bao gồm 3 yếu tố: Thiền tông, Tịnh độ tông và Mật tông, trong đó yếu tố Tịnh độ tông nổi bật nhất trong sự kết hợp chặt chẽ với Thiền tông. Phật giáo ở vùng Quảng Trị chủ yếu là Phật giáo Ðại Thừa thuộc dòng Lâm Tế, theo hệ phái Liễu Quán - Một dòng thiền Trung Quốc đã được Việt hoá, thể hiện rõ xu hướng nhập thế và cả những quan niệm thiền trong mọi hoàn cảnh, theo tinh thần sau thời kỳ Lục Tổ Huệ Năng. Ngoài ra, ở Ðông Hà và Cam Lộ còn có 2 tịnh xá Ngọc Hà và tịnh xá Ngọc Lộ theo truyền thống khất sĩ, tuy nhiên cũng không thuần khiết Tiểu Thừa, bởi trong cách tu và sinh hoạt giáo lý có những yếu tố của Nam Tông và Bắc Tông.

Về cơ bản, sự có mặt của Phật giáo ở vùng Quảng Trị gắn bó chặt chẽ với quá trình di dân về phương Nam của các triều đại phong kiến Việt Nam. Trong các trào lưu di dân lập làng ở vùng đất mới - Thuận Hoá từ thế kỷ XIV các yếu tố văn hoá Phật giáo Ðại Việt đã được xây dựng từ thời Lý - Trần có cơ hội được mở rộng về phương Nam. Tuy nhiên trong những bất ổn của hoàn cảnh xã hội, chiến tranh liên miên giữa hai quốc gia Chăm và Việt trong các thế kỷ đầu mở nghiệp, nên các yếu tố nền tảng xã hội chưa đủ điều kiện để Phật giáo sớm hình thành và khẳng định mình ở vùng đất này với tư cách là những hệ phái chính thống.

Nhưng một điều chúng ta có thể nhận thấy là việc thờ Phật chắc chắn đã có mặt trong các công trình thờ cúng dân gian theo lối tiền Phật, hậu thần (hoặc ngược lại) từ rất sớm. Chính cuộc sống đầy trắc ẩn trên vùng đất mới đặt ra nhu cầu về sự cần thiết phải có một chỗ dựa tinh thần cho những lưu dân đã tạo điều kiện cho Phật giáo nhanh chóng trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tâm linh của họ. Vì vậy, Phật giáo đã có những cơ hội thâm nhập và hoà hợp với tín ngưỡng, tôn giáo bản địa tạo nên những nét đặc trưng riêng của Phật giáo vùng đất Quảng Trị.

Trên nền tảng vững chắc của Phật giáo dân gian Ðại Việt đã có mặt từ thời kỳ đầu mở đất với sự tiếp nhận/đối đãi/tiếp biến các yếu tố tôn giáo, tín ngưỡng từ người tiền trú, Phật giáo dòng Lâm Tế có điều kiện truyền bá vào vùng đất châu Thuận/Quảng Trị. Phật giáo dòng Lâm Tế truyền nhập vào vùng đất này không hoàn toàn giống phái Thiền nguyên bản từ Trung Quốc mà nó đã được Việt hoá với vai trò của tổ sư Liễu Quán - một vị sư nổi tiếng người Việt Nam.

Từ thời chúa Nguyễn, mặc dù phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh loạn ly, chia cắt kéo dài, nhưng Phật giáo nhờ sự ưu ái của nhà nước, sự tin yêu của nhân dân nên đã phát triển mạnh mẽ, tạo điều kiện cho các dòng Thiền Ðàng Ngoài thâm nhập vào vùng đất Quảng Trị. Chúng ta có thể khẳng định đến thế kỷ XVIII, Phật giáo đã hội tụ ở mảnh đất Quảng Trị với 2 dòng phái chính. Ðó là Phật giáo dân gian Ðại Việt với các yếu tố bản địa từ đất Bắc mang vào theo con đường di dân được ươm mầm và dung dưỡng từ thế kỷ XV và Phật giáo Trung Hoa với các dòng thiền như Lâm Tế, Tào Động. Cũng trong thời kỳ này, các chúa Nguyễn đã sử dụng Phật giáo như một phương sách cố kết nhân tâm, hoà điệu tinh thần, đoàn kết cộng đồng góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện của xứ Ðàng Trong lúc bấy giờ. Vì thế, ở hầu khắp các làng xã vùng Quảng Trị, người dân đã tích cực đóng góp nhân, vật lực để xây dựng những cơ sở thờ tự và sinh hoạt Phật giáo theo dạng thức chùa làng: tiền thờ Phật, hậu thờ thần. Khi dòng thiền Lâm Tế được truyền vào vùng Quảng Trị, các ngôi chùa theo thiền phái này cũng được xây dựng, tuy còn sơ sài trong kiến trúc và cách bài trí.

Dưới thời Tây Sơn, Quang Trung xuống chiếu yêu cầu chùa làng đóng góp công sức tiền của xây dựng chùa lớn ở phủ, huyện, sau đó thực hiện chính sách cải cách Phật giáo. Những cải cách Phật giáo dưới thời Tây Sơn đã tạo điều kiện cho chùa chiền có phần phát triển ở Quảng Trị. Sau này, dưới thời Nguyễn, chùa chiền ở Quảng Trị vẫn thường xuyên được khôi phục và tu sửa. Nhiều ngôi chùa được hình thành trên cơ sở tái tạo lại từ những nơi thờ cúng, sinh hoạt tín ngưỡng của người dân làng xã để vừa làm nơi thờ Phật vừa thờ cúng thần linh, tổ tiên, dòng tộc. Ðây là nơi dân làng lui tới vào những ngày rằm, mồng một để cầu an, cầu siêu.

Qua hai cuộc chiến tranh binh lửa chống Pháp và chống Mỹ của thế kỷ XX, mảnh đất Quảng Trị là chiến trường khốc liệt nên chùa chiền bị tàn phá nặng nề, các sư tăng, thiện nam, tín nữ và công chúng Phật tử rơi vào cảnh loạn li. Mặc dù vậy, giới tăng ni, đồng bào Phật tử Quảng Trị vẫn hằng tâm hướng về cõi Phật, sát cánh cùng các tầng lớp nhân dân cả nước trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc.

Từ ngày đất nước hòa bình đến nay, các chùa và Phật đường đã được sửa sang lại khang trang, nhiều chùa chiền được xây dựng mới; các tăng ni, tín đồ, thiện nam, tín nữ và đồng bào phật tử đang cùng nhân dân cả tỉnh và cả nước ra sức xây dựng quê hương, sống tốt đời, đẹp đạo.

Chùa là một loại kiến trúc của Phật giáo. Trong các làng xã cổ truyền của người Việt, ngôi chùa vừa là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, tâm linh nhưng cũng là trung tâm văn hoá của các thành viên trong làng. Một mặt, ngôi chùa là chốn thờ Phật và chư vị Bồ Tát, nơi các thiện nam, tín nữ tới đó để tìm sự cân bằng cho cuộc sống trong lĩnh vực tư tưởng, tâm hồn nhằm hướng đến cái thiện, tránh cái ác... nhưng cũng là nơi thờ cúng tiên hiền, hậu thánh, tiền, hậu khai khẩn, khai canh, chư vị thuỷ tổ các họ tộc, các vong linh không có người phụng thờ... của cả làng, cả vùng.

Trải theo tiến trình lịch sử của vùng đất Quảng Trị, tuy không có những hệ thống chùa chiền được thiết lập có quy mô để trở thành trung tâm Phật giáo so với vùng Huế hay nhiều nơi khác, nhưng những ngôi cổ tự của vùng Quảng Trị đã để lại những dấu ấn mang nhiều dáng vẻ riêng có, đặc thù của vùng châu Thuận/Quảng Trị.

Hệ thống các chùa chiền thuộc dòng Phật giáo Đại Việt dân gian có mặt ở hầu khắp các làng xã. Đa phần làng nào có đình thì đều có chùa. Những ngôi chùa làng là những công trình thờ tự và sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng do người dân các làng xã xây dựng và thường có thời gian khởi tạo rất sớm từ thế kỷ XV - XVI, XVII. Yếu tố Phật giáo hòa quyện khá nhuần nhuyễn với các tín ngưỡng dân gian như thờ Mẫu, Ngọc Hoàng thượng đế, Quan Thánh đế quân, Thái Thượng lão quân... và được bảo lưu đậm nét hơn so với nhiều nơi khác. Trong số này, có những ngôi chùa được thiết lập trên những khu vực vốn là đền tháp Champa theo quan niệm vừa thờ Phật vừa thờ các chư thần của người tiền trú, vừa thờ phụng chư thần của người Việt mà dù về sau có mang nhiều tên tự rất hay thì gốc gác đều là chùa làng mà yếu tố Phật giáo dân gian đã hòa điệu một cách uyển chuyển với tín ngưỡng Champa.

Chùa Trung Ðơn nằm bên sông Cổ Hà, ở làng Trung Đơn, xã Hải Thành, huyện Hải Lăng, có tên gọi là Thiên Bảo Tự, do vua Minh Mạng phong trong một dịp ngự giá theo sông Vĩnh Ðịnh ra Quảng Trị. Chùa nằm trong khu vực nguyên là phế tích của một khu đền tháp Chăm: tháp Trung Đơn. Phối trí thờ tự hiện tại khá đơn giản không khác gì một niệm Phật đường, nhưng sự tồn lưu của một pho tượng Phật bằng gỗ thuộc bộ tam thế mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVII - XVIII cho thấy đây là một ngôi cổ tự có quy mô lớn. Trong chùa trước đây thờ nhiều tượng đá Chăm nhưng nay đã mất dần.

Chùa Hoan Sơn tọa lạc ven một đồi cát thuộc làng Câu Hoan, xã Hải Thiện, huyện Hải Lăng, trong một khu vực nguyên có sự tồn tại của một ngôi tháp Chăm. Dấu vết còn lại ngoài một cồn đất chi chít gạch Chăm vỡ còn có ba mảng đá sa thạch nguyên là các thành phần thuộc về một đài thờ và đá bó vỉa chân tháp. Gian chái trước và gian giữa thờ Phật, thánh; gian chái sau thờ thần (có tranh thờ tổ sư Đạt Ma). Phối trí ở gian thờ chính là bộ tam thế ở lớp trên cùng, tiếp theo là bộ tượng Ngọc Hoàng và Nam Tào, Bắc Đẩu. Hai bên tả hữu là tượng Kim Đồng, Ngọc Nữ và Quán Thánh đế quân, Hộ pháp. Các tượng thuộc bộ tam thế, Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, đồng cô, đồng cậu đều bằng gỗ. Tượng Quán Thánh đế quân và tượng Hộ Pháp bằng đất sét và bả thực vật. Các pho tượng đều có niên đại khá cổ thuộc thế kỷ XVII - XVIII.

Chùa Thôn Đông, còn có tên là Đông Trì/Đông Lâm tọa lạc trên một vùng rú cát phía bắc làng Câu Hoan, xã Hải Thiện, huyện Hải Lăng, trong một khu vực có sự tồn tại một khu đền tháp Chăm vốn là thánh địa cả một vùng nam châu Ô. Đây là một ngôi chùa làng được xây dựng khá sớm từ khi người Việt đặt chân đến vùng đất mới (cuối thế kỷ XV). Quy mô kiến trúc và phối trí thờ tự ngày nay không có gì đặc biệt ngoài một niệm Phật đường làm nơi sinh hoạt tôn giáo cho các Phật tử, nhưng từ những dấu tích hiện còn cho thấy ngôi chùa vốn được khởi lập song hành với các cơ sở tín ngưỡng khác, trong một khu vực tập trung gồm: đình làng, miếu Ngũ hành, miếu Thái giám, và nhất là miếu thờ Bà Giàng - tín ngưỡng thờ cúng của người Việt trên nền các dấu tích đền tháp Chăm. Kiến trúc chùa trải dài theo chiều dọc, quay mặt về hướng đông. Cạnh ngôi chùa ở góc đông bắc là một ngôi miếu cổ có tên là miếu Bà Giàng được xây dựng bằng gạch, vôi mang phong cách của miếu thờ người Việt các thế kỷ XV - XVI. Bên ngoài ngôi miếu có một Yoni đã bị vỡ làm đôi. Bên trong ngôi miếu thờ một Linga, một bệ đá và một phiến đá có hình mặt người nhô ra trên bề mặt vốn là một pho tượng dạng bán phù điêu (có lẽ là thần Brahma) đã được tu chỉnh lại cho tương thích với hành trình Việt hóa các vị thần Chăm.

Chùa Bão Đông ở làng Hà Trung, xã Gio Châu, huyện Gio Linh hay chùa Bụt Mọc ở làng Liêm Công, xã Vĩnh Thành, huyện Vĩnh Linh, chùa Phật Lồi ở làng Nhan Biều, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong... đều như thế.

Có những ngôi chùa được hình thành trên sự chuyển đổi công năng từ một cơ sở kho tàng của nhà nước thành nơi thờ Phật, thần và lưu danh nhân vật lịch sử hoặc được chuyển đổi từ chùa làng sang những nơi tu đạo của những nhân vật có danh tiếng của nhà nước; lại có những ngôi chùa vốn từ những miếu thờ thuộc tín ngưỡng dân gian hay được lập nên để làm nơi thờ phụng những nhân thần có lai lịch gắn bó với lịch sử, văn hóa của làng, của cả vùng, cả khu vực.

Chùa Quan Khố ở làng Câu Nhi, xã Hải Tân, huyện Hải Lăng vốn là một trong những cơ sở kho tàng của nhà Lê. Trong những năm dưới thời vua Lê Tương Dực (1509 - 1516), tiến sĩ Bùi Dục Tài - người làng Câu Nhi đã xin triều đình cho tu bổ một trong các quan khố trong làng để làm chùa và được gọi tên là chùa Quan Khố. Trong chùa ngoài thờ Phật Thích Ca, Ðịa Tạng và Quan Thế Âm Bồ Tát cùng các vị nhân thần thuộc bổn tổ quý tộc, quý phái, bổn thổ khai khẩn, khai canh, thủy tổ 12 họ tộc; hậu liêu còn thờ Tả Ðông chinh Thành hoàng, Hữu Dực thánh Thành hoàng và Hoàng Bôi (Phó Tướng đạo Thuận Hóa dưới triều Mạc từng lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống lại quân Nam triều suốt 13 năm trời (1531 - 1544) ở đầu nguồn sông Ô Lâu) cùng các vong linh Phật tử ký thác cho chùa. Bên trong khuôn viên của chùa còn có miếu thờ vinh danh tiến sĩ khai khoa xứ Đàng Trong Bùi Dục Tài và cả miếu thờ Hoàng Bôi.

Ngôi chùa Bình Trung vốn là chùa làng với tên Bão Đông được khởi dựng trên phế tích của ngôi đền Chăm Indrakantesvara bởi sự cúng dường của hoàng hậu Tribhuvanadevi vào năm 838 saka (năm 918), dưới thời trị vì của đức vua Indravacman, nhưng từ khi vị Tham chánh Trần Đình Ân cho tạo dựng lại để làm nơi tu đạo khi từ quan quy hương (1703) thì ngôi chùa mang tên là Bình Trung tự. Ngày nay, dấu tích này chỉ còn lưu lại là ngôi miếu “Tứ Triều Thạc phụ”, bên trong dựng một tấm bia bằng đá sa thạch, đứng trên một bệ đá hình rùa có tên là “Tứ công thần bia” ghi lại bài tư và bài thơ do chúa Nguyễn Phúc Chu đề tặng Trần Đình Ân khi ông từ quan về làng, được con rể Nguyễn Khoa Chiêm cho dựng vào năm Chính Hòa thứ tư (1704).

Chùa Diên Thọ ở làng Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng vốn có gốc từ một ngôi chùa làng. Những tư liệu thành văn viết về lịch sử tạo dựng ngôi chùa được lưu lại không có gì hơn ngoài dòng lạc khoản bằng chữ Hán ghi trên bức hoành phi “Diên Thọ Tự” gắn ở tiền đường do Nội lệnh sử ty huấn đạo Nguyễn Ngọc Quỳnh pháp danh Liễu Giác, thê Nguyễn Thị Huyền pháp danh Liễu Diệu phụng cúng vào năm Kỷ Mão cho thấy ngôi chùa được tái tạo quy mô vào thời kỳ chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1739 - 1765). Phối thờ ở chính điện gồm bộ Tam Thế, Thích Ca tọa thiền, Thích Ca sơ sinh, Quán thế âm, Địa Tạng, Di Lặc Tiêu Diện và Hộ Pháp còn có khám thờ vọng các vị thủy tổ của 12 dòng họ, khám thờ vọng các vị thủy tổ của ba dòng họ vô tự. Đặc biệt, trong chùa tuy không thờ Quán Thánh đế quân nhưng lại lưu thờ năm đạo sắc của Quán Thánh Đế quân, từng được phong là Thành hoàng làng Diên Sanh (1 đạo sắc Tự Đức thứ 7 (1854), 1 đạo sắc Tự Đức thứ 33 (1880), 1 đạo sắc Đồng Khánh thứ 2 (1887), 1 đạo sắc Duy Tân thứ 3 (1909) và 1 đạo sắc Khải Định thứ 9 (1924)). Ngoài ra, trong khuôn viên chùa còn lưu giữ một khối đá sa thạch Chăm chạm khắc hai mặt, vốn là một thành phần của đài thờ.

Chùa Long Phúc ở phường An Định, xã Gio An, huyện Gio Linh do Minh Mạng cho đổi làm chùa và ban biển ngạch từ năm 1824 nguyên là ngôi miếu do ba phường An Định, An Hướng và Phường Xuân dựng nên để thờ chúa Tiên Nguyễn Hoàng vì cảm mến ân đức của chúa đã cho mở sinh kế cho đám tù binh nhà Mạc bị bắt trong trận chiến năm 1572 giữa quân chúa Nguyễn Hoàng và quân nhà Mạc do Mạc Lập Bạo chỉ huy. Trước chiến tranh, trong chùa vừa thờ Phật vừa thờ thần. Theo lệ cũ, dân các làng quanh chùa Long Phước hàng năm vẫn tổ chức tế lễ Thánh Vương (chúa Nguyễn Hoàng) ở tại chùa vào ngày 28/8 âm lịch. Ðặc biệt là lễ được tổ chức vào ban đêm.

Chùa Cổ Trai ở làng Cổ Trai, xã Vĩnh Giang, huyện Vĩnh Linh vốn là ngôi miếu thờ Hiếu Khang hoàng hậu (Bà Trần Thị Hoàn, mẹ đẻ vua Gia Long) do người dân lập nên để thờ bà ngay tại bản quán; đến năm Minh Mệnh thứ 5 (1825) thì đổi làm chùa.

Ngôi chùa có thể được coi là Quốc tự/Quan tự được chúa Nguyễn cho dựng sớm nhất trên vùng đất Quảng Trị là chùa Thiên Tôn với tên biển ngạch là Thiên Tôn Quan tự ở làng Đâu Kênh, xã Triệu Long, huyện Triệu Phong. Ngôi cổ tự này vốn do Thái Tông Hiếu Triết Hoàng đế (tức Hiền vương Nguyễn Phúc Tần, 1648 - 1687) cất dựng. Thời Nguyễn, vua Minh Mạng đã nhiều lần cho tu bổ (1822, 1839). Đây có thể coi là một ngôi chùa có điểm đặc biệt vì trong chùa không thờ Phật mà chỉ thờ Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu và thủy tổ của 5 họ tiền khai khẩn của làng. Điều đặc biệt là ngoài các dịp sóc, vọng, lễ cúng chùa chính hàng năm được tổ chức vào ngày mùng 9 tháng giêng. Yếu tố quan tự và chùa làng hoặc đã qua một quá trình chuyển đổi dích dắc mà lịch sử đã khuất lấp khó nhận diện hoặc có thể là tính chất Phật giáo của nhà nước thời chúa Nguyễn vẫn không là gì đó khác biệt hơn tín ngưỡng Đạo/Phật giáo dân gian.

Đặc biệt, chùa Linh Quang ở làng Tiền Kiên, xã Triệu Giang, huyện Triệu Phong có thể là một quá trình chuyển đổi khá ngoạn mục từ một miếu thờ/trấn yểm thần sông Thạch Hãn sang một đạo quán phối thờ Phật và trở thành một ngôi chùa mà bản thân nó là trung tâm của Đạo giáo từ những năm 60 của thế kỷ XX. Sự tồn tại của một ngôi chùa có quy mô nhỏ bé, tuềnh toàng với bức hoành phi bằng gỗ đề 3 chữ Hán “Linh Quang Tự” ghi dòng lạc khoản: “Thiệu Trị tứ niên tuế tại giáp thìn mạng thu nguyệt cát nhật phụng tạo” và tấm bia đá nằm dưới gốc một cây si phía trước chùa khắc nội dung về sự cúng dường công đức của một người làng có tên là Trần Thị Thân để trùng tu tôn tạo lại ngôi chùa chỉ cho biết ngôi chùa đã có một lần tu tạo dưới thời vua Thiệu Trị năm thứ 4 (1844) và một lần vào năm Ất Mùi (1895). Nhưng vị trí tọa lạc lại nằm đúng ở khúc uốn cong của sông Thạch Hãn, trong khu vực có tên là Ghềnh Phủ - nơi từng tồn tại một thương cảng sông/thương điếm vào thời kỳ mà chúa Nguyễn đã dựng đặt dinh phủ của mình trong vòng 68 năm (1558 - 1626) ở Ái Tử - Trà Bát của huyện Vũ Xương cùng với việc phối thờ bên trong gồm 3 ban thờ chính thờ 3 pho tượng Thái Thượng Lão quân, Quán Thánh đế quân và Thánh Mẫu hiện tại đã cho thấy nhiều uẩn khúc về nguồn gốc của ngôi chùa này. Thông tin ban đầu hiện biết cho thấy: Khởi thủy, ban đầu tại khu vực này có ngôi miếu thờ Thành Hoàng và Ngũ vị Tiên Nương của làng Tiền Kiên. Về sau, người dân làng Tiền Kiên tu tạo lại thành một ngôi chùa làng (tiền thờ Phật, hậu thờ thần) và trở thành nơi sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của dân làng. Thời Thiệu Trị, chùa được trùng tu với quy mô khang trang hơn và phối thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế, Thái Thượng Lão Quân và Thích Ca Mâu Ni, Quán Thế Âm Bồ Tát, Quán Thánh Đế Quân. Đến năm Ất Mùi (1895), sau khi chùa được trùng tu, tôn tạo lại thì phối thờ thay đổi đa dạng hơn. Ngoài phối trí thờ tự như giai đoạn trước thì gian giữa còn phối thờ thêm Tam Thanh (Ngọc Thanh Thượng Đế Nguyên Thuỷ Thiên Tôn, Thượng Thanh Đại Đế Linh Bửu Thiên Tôn, Thái Thanh Đại Đế Đạo Đức Thiên Tôn) ở lớp trên cùng. Yếu tố Đạo giáo thâm nhập sâu vào chùa. Từ năm 1956, sau lần chùa bị hư hại nặng, vì không có điều kiện xây dựng lại nên làng đã chuyển cho Hội Đạo giáo Quảng Trị tu sửa và sử dụng. Từ khi chuyển cho Hội Đạo giáo Quảng Trị quản lý, chùa Linh Quang trở thành trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng của Đạo giáo của tỉnh Quảng Trị. Về sau, Hội Đạo giáo Quảng Trị không còn, chùa lại trở về do làng Tiền Kiên phụng thờ. Từ những năm cuối thế kỷ XX, trong chùa còn thờ các thần chủ: Đại Thiên tuần thú vương dụ công vị tiền; Thái Giám Bạch Mã gia tặng thượng đẳng thần; Kim đức tiên bà tôn thần; Mộc đức tiên bà tôn thần; Thủy đức tiên bà tôn thần; Hỏa đức tiên bà tôn thần và Đương cảnh Thành Hoàng đại vương tôn thần vị tiền.

Những ngôi chùa vốn có gốc gác là chùa làng nhưng được nhà nước sắc tứ hoặc tự nhận là đã được sắc tứ ở vùng Quảng Trị phải kể đến là: Sắc tứ Giác Minh tự ở làng Ái Tử, xã Triệu Ái, huyện Triệu Phong; Sắc tứ Hồng Ân tự ở làng Bích Khê xã Triệu Long, huyện Triệu Phong; Sắc tứ Đạo Quang tự ở làng Đạo Đầu, xã Triệu Tài, huyện Triệu Phong.

Những ngôi chùa làng trong hành trình phát triển từ khi hình thành đến nay vẫn không thay đổi tính chất thì không thể kể hết; nhưng cũng không ít những ngôi chùa làng đã có sự chuyển đổi từ phối trí thờ tự đến cách thức tổ chức quản lý. Từ hậu bán thế kỷ XX, hàng loạt ngôi chùa làng phối thờ thêm vị sư tổ Đạt Ma ở phần hậu liêu mà trước đó không có hoặc thảng rất ít. Nhiều ngôi chùa làng chuyển từ nơi thờ tự, sinh hoạt của làng, do làng coi sóc sang các niệm Phật đường do khuông hội hoặc gia đình Phật tử quản lý và tổ chức hoạt động hoặc được quản lý của Giáo hội Phật giáo tỉnh.

Những ngôi chùa theo hệ phái chính tông của Thiền Lâm Tế có thể kể đến trước tiên là Tổ đình Sắc Tứ Tịnh Quang ở thị trấn Ái Tử, huyện Triệu Phong. Ngôi cổ tự này vốn được khởi dựng bởi vị tổ sư người Trung Hoa vào những năm thuộc niên hiệu Vĩnh Hựu đời Lê (1735 - 1739) với tên tự là Tịnh Nghiệp. Đầu đời Gia Long được sắc tứ và mang tên là Tịnh Quang. Đây được coi là đất tổ của Phật giáo Quảng Trị. Vị tổ sư khai sơn chùa Tịnh Quang có pháp danh Tánh Tu, hiệu Chí Khả tinh thông thuật phong thuỷ, sau khi đắc pháp với tổ Liễu Quán ở chùa Thiền Tôn (Huế) thuộc dòng Lâm Tế, sư ra Quảng Trị lập ngôi am ở phường Phú Xuân (Hải Xuân - Hải Lăng ngày nay) để tập hợp môn đệ tu hành. Ðệ tử được 12 người trong số đó hòa thượng Tuyết Phong (làng Ðạo Ðầu) và hòa thượng Bửu Ngạn (làng Thành Lê) là cao đệ. Về sau, sư dời đến xứ Bàu Voi, sơn phận xã Ái Tử dựng lập chùa, đặt tên là Tịnh Nghiệp, tu đắc đạo rồi viên tịch, đệ tử nối tiếp trụ trì. Khoảng năm Gia Long (1802-1819) chùa mở hội đàn việt, các thí chủ gần xa đến dự hội đông hàng ngàn người, dân chúng đều nói chùa này là chốn đệ nhất danh lam. Vua Gia Long nghe tâu, sắc ban cho chùa tên là Tịnh Quang.

Sắc tứ Linh Quang Tự là ngôi cổ tự ở làng Trung Kiên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong. Chùa do Hòa thượng Đạo Minh Phổ Tịnh (? - 1816) khỏi dựng vào đầu đời Gia Long. Hòa thượng Đạo Minh Phổ Tịnh ở thế thứ 38 dòng Lâm Tế, nhưng là đời thứ 4 của phái Thiền Liễu Quán - Nam Hà, húy là Đạo Minh, hiệu là Phổ Tịnh, thụy là Viên Nhất. Sinh tại phường Trung Kiên, huyện Đăng Xương. Xuất gia tại chùa Thuyền Tôn với Đại sư Đại Huệ Chiếu Nhiên. Đầu đời Gia Long, ngài trở về Trung Kiên, lập chùa Trung Kiên. Từ năm Gia Long thứ 7 (1808), Ngài được Hiếu Khang Hoàng Thái hậu triệu về Kinh đô làm Trú trì chùa Hàm Long Thiên Thọ, tức là tên mới của chùa Báo Quốc, do vua Gia Long đặt. Dấu vết xưa cũ của ngôi chùa đã bị tàn phá trong chiến tranh, đến năm 2004 mới trùng tu lại. Đất Trung Kiên là nơi sinh ra nhiều đại danh tăng cho Phật giáo Quảng Trị nói riêng và Phật giáo Việt Nam nói chung. Tiêu biểu là Tổ Nhất Định (1784 - 1847): Thế danh Nguyễn Văn Nội, pháp danh là Tánh Thiên, pháp tự là Nhất Định, thuộc đời thứ 5 Thiền phái Liễu Quán. Ngài từng đảm nhiệm việc dạy đạo cho các vương tôn công tử, được vua và các quan đại thần triều Nguyễn mến mộ tài năng và đức hạnh. Đại sư Tâm Tịnh (1868 - 1928) - khai sơn Tây thiên tổ đình, thế danh Hồ Hữu Vĩnh, pháp danh là Thanh Ninh, pháp tự Tâm Tịnh thuộc dòng thiền Lâm Tế đời 41. Hoà Thượng Thích Khả Tấn (1918 - 2011), thế danh Trần Lý Hòe, pháp danh Tâm Hiếu, pháp tự Khả Tấn, thuộc dòng Lâm tế đời thứ 43. Ngài cũng chính là người đứng ra lo việc tái thiết trùng tu chốn chùa Sắc Tứ Linh Quang vào năm 2003. Đại lão Hòa thượng Thích Phước Huệ (1875 - 1962), thế danh Nguyễn Văn Cự, pháp danh Ngộ Tánh, tự Hưng Long, hiệu Phước Huệ, từng trụ trì chùa Kim Quang (Huế); người có công vận động trùng tu chùa Sắc Tứ Tịnh Quang (1940)... Chính vì vậy, Trung Kiên là một làng được coi là nổi tiếng về danh tăng của Quảng Trị sánh ngang với làng Dạ Lê của Thừa Thiên. “Quảng Trị: Trung Kiên - Thừa Thiên: Dạ Lê” là thế!

Ngoài hai ngôi cổ tự chính tông của Thiền Lâm Tế là Sắc Tứ Tịnh Quang và Sắc Tứ Linh Quang, vùng Quảng Trị hiện có nhiều ngôi chùa thuộc dòng phái này nhưng được tạo dựng khá muộn trong cuối thế kỷ XIX và thế kỷ XX. Trong đó đáng chú ý là chùa Long An (làng Xuân An, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong); chùa Châu Quang (phường 1, thành phố Đông Hà); chùa Tỉnh Hội (phường 2, thị xã Quảng Trị)...

Những ngôi cổ tự trên vùng đất châu Thuận/Quảng Trị dù là thuộc dòng Phật giáo Đại Việt dân gian hay là dòng chính tông của thiền Lâm Tế thì đều là những di sản Phật giáo mà con người Quảng Trị đã dày công gây dựng, tô bồi, vun đắp trong tiến trình lịch sử hàng trăm năm nay. Những giá trị có được về lịch sử xây dựng, về kiến trúc nghệ thuật, về quan niệm thờ cúng... là sự phản ánh chân thực lịch sử Phật giáo vùng châu Thuận/Quảng Trị. Thời gian dâu bể, lịch sử thăng trầm và biến thiên thời cuộc đã làm thay đổi, biến dạng và mất mát rất nhiều chùa chiền trên vùng đất Quảng Trị nhưng hình ảnh về những ngôi cổ tự luôn/sẽ là những không gian thiêng - nơi “che chở hồn dân tộc, nếp sống muôn đời của tổ tiên” và sống mãi theo tinh thần mộ đạo và lòng hướng thiện của người dân đất này.

Y.T

 

 

 

 

 

Mới nhất

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng chỉ đạo việc tìm kiếm người mất tích do sạt lở ở Quảng Trị

18/10/2020 lúc 18:19

(TCCVO) Sáng nay 18/10/2020, Đoàn công tác của Trung ương do Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đi kiểm tra thực tế và làm việc với lãnh đạo tỉnh Quảng Trị về công tác tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn và ứng phó với tình hình mưa lũ của địa phương. Phó Thủ tướng yêu cầu phải tập trung để tìm kiếm, cứu nạn những người mất tích càng sớm càng tốt, thực hiện với phương châm “4 tại chỗ”. Đây là nhiệm vụ hàng đầu của các lực lượng tìm kiếm cứu nạn.

Cất cánh từ chuyển đổi số

17/10/2020 lúc 10:01

Vài năm trước, nếu nhiều người còn cho rằng kinh tế số khi được thốt ra được xem là lời nói vui mang tính sang chảnh thì chính đại dịch COVID-19 lại thúc đẩy sự thay đổi mạnh mẽ ở nhiều quốc gia trên thế giới nếu muốn tồn tại. Theo đánh giá của các chuyên gia, trong giai đoạn phục hồi sau đại dịch COVID-19, chuyển đổi số sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ tìm kiếm một mô hình hoạt động kinh doanh linh hoạt hơn, vừa tiết giảm chi phí, vừa tối ưu nguồn lực để vượt qua khó khăn.

Kỳ vọng mới, khát vọng mới vì Quảng Trị thịnh vượng

16/10/2020 lúc 12:00

(TCCVO) Chiều ngày 16/10/2020, Đại hội Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020 – 2025 bế mạc. Qua 3 ngày làm việc, những nội dung quan trọng của Đại hội đã được diễn ra khách quan, dân chủ. 100% đại biểu đã biểu quyết nhất trí thông qua Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ XVII.

Danh sách Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2020 - 2025

16/10/2020 lúc 10:21

Chiều ngày 15/10/2020, phiên họp thứ nhất Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Trị nhiệm kỳ 2020 - 2025 đã bầu 11 đồng chí vào Ban Kiểm tra Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2020 - 2025. Đồng chí Hồ Thị Thu Hằng, UVBTVTU được bầu làm Chủ nhiệm UBKT.

Đồng chí Lê Quang Tùng tiếp tục giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị nhiệm kỳ 2020 - 2025

16/10/2020 lúc 08:57

Chiều ngày 15/10/2020, phiên họp thứ nhất Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Trị nhiệm kỳ 2020 - 2025 đã bầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy và các chức danh chủ chốt. Đồng chí Lê Quang Tùng tiếp tục giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị nhiệm kỳ 2020 - 2025. TCCVO trân trọng đăng danh sách Ban Thường vụ Tỉnh ủy và tiểu sử đồng chí Bí thư Tỉnh ủy.

Du Lịch Quảng Trị

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

21/10

25° - 27°

Mưa

22/10

24° - 26°

Mưa

23/10

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground
Dự thảo
tư tưởng Hồ Chí Minh
Dấu xưa
Du Lịch Quảng Trị
Tiêu đề