Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 04/12/2020 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Văn hóa thời đại

Một dòng sông âm thanh xanh tình Việt Lào

27/02/2014 lúc 08:26






T





ừ ngày cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trở lại xâm lược bán đảo Đông Dương, có một nhiệm vụ quan trọng của cách mạng Việt Nam là nhiệm vụ quốc tế giúp đỡ bạn bè các nước láng giềng trong cùng bán đảo để chống kẻ thù chung. Thời đó, những bộ đội Việt Nam tình nguyện sang Lào chiến đấu đã được mô tả trong tráng ca hào sảng “Tây Tiến” của nhà thơ Quang Dũng. Đầu những ngày hoà bình sau kháng chiến trường kỳ với hiệp định đình chiến Genèver 20/07/1954, chúng ta lại được đọc những áng văn chương về hữu nghị đặc biệt này qua các tác phẩm của nhà văn Lê Khâm (sau đổi là Phan Tứ) như “Bên kia biên giới”, “Trước giờ nổ súng”… và nhà văn Văn Linh như “Tiểu đoàn Hai”… Đến thời kháng chiến chống Mỹ, tình cảm sâu nặng ấy còn được thể hiện qua các ca khúc của các nhạc sĩ Lào mà các nhạc sĩ Việt Nam dịch lời và một dòng sông âm thanh xanh tình Việt-Lào là những giai điệu mà các nhạc sĩ Việt Nam viết về đất nước Lào anh em.
Ngay từ trước khi chiến tranh với Mỹ xảy ra, trong thập kỷ hoà bình ngắn ngủi ở miền Bắc Việt Nam (1954-1964), hai bản dân ca Lào là “Hoa Chăm Pa” và “Lăm Tơi” qua giọng hát thánh thót của ca sĩ Tường Vy đã làm rung động biết bao con tim Việt Nam và Lào. Đến khi cuộc chiến bùng nổ, thì đã có một cuộc giao hoà đầy xúc động giữa các nhạc sĩ Lào và các nhạc sĩ Việt Nam. Những tác phẩm như “Dải đất tự do”, “Chống đế quốc Mỹ xâm lược”, “Mừng chiến thắng Nậm Na” của Si Sa Na Si San đã được các nhạc sĩ Phạm Tuyên, Hồ Bắc, Trọng Loan dịch ra tiếng Việt. Các tác phẩm của Khăm Mường, Xu Văn Thoong, Ma Li Chăn, U Tam Mạ, Hủm Phăm, Xổn Bun, Pa Xớt… đã được các nhạc sĩ: Lê Lôi, Xuân Tứ, Đỗ Nhuận, Vũ Thanh và các ca sĩ Trần Hiếu, Phương Thảo, Trần Tiến (lúc ấy là ca sĩ đoàn văn công Hà Nội) dịch ra tiếng Việt. Nhưng dòng chảy mạnh mẽ nhất thì vẫn là dòng giai điệu mà các nhạc sĩ Việt Nam cảm xúc về đất nước, con người và cuộc chiến đấu của nhân dân Lào. Theo lời kể của nhạc sĩ Lương Ngọc Trác, cách đây bốn mươi năm tròn, vào giữa 1967, ông đã đưa một Đội xung kích gồm mười hai diễn viên thuộc Đoàn văn công Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam từ Hà Nội lên Tây Bắc, vượt biên giới sang chiến trường Lào phục vụ bộ đội công binh Lào- Việt làm đường từ Bản Ban đi Cánh Đồng Chum. Dù máy bay địch oanh tạc dữ dội, đội vẫn biểu diễn được hai mươi cuộc và sau đó bổ sung thêm diễn viên từ Việt Nam sang để biểu diễn phục vụ Hội nghị Trung ương Pa Thét Lào vào tối 10/8/1967 tại Hang Loong. Đích thân chủ tịch Xu Pha Nu Vông và nhiều đồng chí lãnh đạo tới xem biển diễn. Giữa chừng, máy bay địch bắn phá ác liệt. Hai quả bom rơi trúng cửa hang nhưng do hang sâu nên mọi người đều an toàn. Sau cơn khói lửa, cuộc biểu diễn vẫn tiếp tục cho đến kết thúc. Khi anh em văn công về Nhà khách thì khu vực đã trúng bom, đồ đạc quân trang tan nát hết. Các bạn Lào phải tặng cho mỗi người một bộ quân phục. Trong tư trang của nhạc sĩ Lương Ngọc Trác có một quyển vở chép nhạc, trong đó có ghi một sáng tác mới về Lào của ông mang tên “Tình hữu nghị Việt Lào”, có cả phần dịch tiếng Lào của một cán bộ thích giai điệu này. Quyển vở đã bị thủng lỗ chỗ vì mảnh bom và trong đó có cả trang ghi bài hát chan chứa tình hữu nghị này. Sau chiến tranh, mùa thu 1981, ông Trác lại có dịp sang giúp đỡ cũng cố Đoàn văn công Quân đội Lào. Bài hát của ông đã được các bạn hát theo nhịp Lăm Vông:
Bao năm đã qua mối tình đôi ta
Càng thêm sâu xa hát vang nên bao lời ca
Lòng ta thương nhau như núi cao Trường Sơn
Nước sông Hồng Hà Cửu Long sóng dâng…
Ngày đó, để có tiết mục cho chương trình, còn có thêm các bài hát “Tiến lên quân đội giải phóng nhân dân Lào” của Doãn Nho, “Tình bạn Việt Lào như núi như sông” của Trọng Loan, “Chào đường 9 anh hùng” của Huy Thục… đều là anh em nhạc sĩ quân đội cả.
Còn với nhạc sĩ Đỗ Nhuận, câu chuyện có vẻ ly kỳ hơn. Với tinh thần chia sẻ: “Việt Nam có một bát cơm là Lào có nửa bát cơm” của Bác Hồ từng nói từ  1949, vào năm 1968. Sau Tổng tấn công Mậu Thân ít lâu, Đỗ Nhuận đã dẫn một đoàn nhạc sĩ và nghệ sĩ sang Lào. Đỗ Nhuận lấy tên là U Đon Xiha Lạt. Nếu Nguyễn Văn Tý có bài hát về phụ nữ Lào, Chu Minh có “Hành khúc thiếu nhi Lào”, “Ca ngợi Sầm Nưa”, Đức Minh vừa đệm guitare vừa sáng tác ra “Các dân tộc Đông Dương là anh em”, “Hoa huệ trắng”, “Việt Lào là anh em”…

Chất trữ tình trong cầu vồng Hiền Lương

14/12/2013 lúc 22:10






K





ý dễ viết mà khó hay bởi đó là thể loại với đặc trưng ghi chép người thật việc thật một cách trung thực khách quan, không hư cấu nên hoặc dễ sa vào khô khan hoặc dễ sa vào đơn điệu, nhàm và nhạt nếu người viết không chọn được những chi tiết gợi nên cái nét độc đáo của đối tượng viết. Có một tập truyện ký gần đây - tập Cầu Vồng Hiền Lương của nhà thơ Nguyễn Hữu Quý vừa giữ được hạt nhân bản chất vừa biết vượt ra ngoài cái khung hình thức hạn hẹp của đặc điểm thể loại ký nên đã tạo ra được một vẻ riêng mà biểu hiện dễ thấy là tác giả đã đưa vào trang viết của mình chất trữ tình cảm động, đằm lắng, gợi nghĩ
Kỳ thường có ''cái tôi'' để trình bày sự việc, để dẫn dắt hướng bạn đọc chiếm lĩnh cái thực chất của sự vật hiệng tượng. Nếu “cái tôi” về lý trí sẽ đưa bài viết đi về địa hạt văn xuôi, còn khi ''cái tôi'' ngả sang bộc lộ cảm xúc tâm trạng thì tác phẩm sẽ hướng về cái trữ tình. ''Cái tôi'' trong Cầu Vồng Hiền Lương  thuộc loại sau...

Hồ Chí Minh - Tấm gương đạo đức mãi mãi sáng ngời

17/04/2014 lúc 15:19






C





hủ tịch Hồ Chí Minh - Vị lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới đã đi xa, nhưng Người để lại cho chúng ta di sản tinh thần to lớn, những tư tưởng vô giá, những giá trị nhân văn cao cả, trong đó đặc biệt là tư tưởng đạo đức cách mạng, tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời. Đó là đạo đức của một bậc đại trí, đại nhân, đại dũng mà toàn Đảng, toµn quân và toàn dân ta nguyện phấn đấu suốt đời học tập và noi theo.
Thứ nhất, chúng ta học tập và noi theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là trọn đời phấn đấu, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người và nhân loại.
Ở mỗi một con người bình thường ai cũng phải xác định cho mình về một lý tưởng và lẽ sống: Sống cho ai, sống để làm gì? Với Hồ Chí Minh, khi Người sinh ra và lớn lên thì nước đã mất, phong trào cách mạng đầu thế kỷ XX đã hoàn toàn thất bại, một không khí bi quan bao trùm toàn xã hội đương thời. Mỗi con người đứng trước bối cảnh ấy sẽ có những lựa chọn khác nhau. Song, được uống "nguồn sữa" yêu nước từ khi mới lọt lòng, từ một  gia đình có truyền thống cách mạng, thương dân sâu sắc, từ quê hương Nghệ An sản sinh biết bao thế hệ anh hùng của dân tộc, thì Nguyễn Tất Thành không có sự lựa chọn nào khác. Người hiến dâng đời mình cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc. Người nói: “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi”, câu nói ấy chính đã được hình thành từ tuổi ấu thơ đầy chí khí của Người. Trong hoàn cảnh chung của đất nước, hoàn cảnh riêng của gia đình đã thúc đẩy Người đi theo lý tưởng vì nước, vì dân, không có bất kỳ sự băn khoăn, do dự nào, vì đó là lẽ sống, là lý tưởng chính trị đồng thời là lý tưởng đạo đức của Người.
Hồ Chí Minh có chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, nhưng Người không đi theo đạo đức "tu thân" của Nho giáo mà đi theo đạo đức "dấn thân" của người cách mạng. Ham muốn tột bậc của Người là “Làm sao cho nước ta hoàn toàn được độc lập, dân ta hoàn toàn được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Chính ham muốn tột bậc ấy đã tạo cho Người một sức mạnh, một ý chí, một nghị lực phi thường để “Giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”, cho đến khi từ biệt thế giới này thì điều mà Người luyến tiếc nhất để lại trong Di chúc là “không còn được phục vụ nhân dân lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”.
Mỗi thời đại, mỗi giai đoạn, biểu hiện lý tưởng cách mạng có những nội dung mới. Hiện nay, sau khi đất nước đã giành được độc lập tự do, chúng ta phải phấn đấu thực hiện hoài bảo, ham muốn tột bậc của Bác Hồ “sẽ xây dựng lại ®Êt n­íc ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, làm sao ai cũng có cơm ăn, ai cũng có áo mặc, ai cũng được học hành. Nói như ông Putin - Tổng thống Liên bang Nga: “Tôi làm Tổng thống nhưng tôi vô cùng xấu hổ khi thấy dân tộc mình, đất nước mình còn nghèo nàn, lạc hậu”. Nghe lời nói đó, chắc chắn mọi cán bộ, đảng viên dù ở cương vị nào cũng phải trăn trở, áy náy, phải thấy được trách nhiệm của mình để phấn đấu xây dựng dân tộc Nga hùng cường...

Thơ của người Vân Kiều

08/07/2014 lúc 15:30






D





ân tộc Vân Kiều sống trên mái Trường Sơn, tập trung ở hai huyện Hướng Hóa, Đakrông (Quảng Trị), một ít ở huyện A Lưới (Thừa Thiên Huế) và một số ở Lào (Tây Trường Sơn). Người Vân Kiều có tiếng nói mà chưa có chữ viết, nên nói Thơ của người Vân Kiều là tôi muốn nói đến lời những câu hát dân ca của dân tộc này. Nhà văn Mai Văn Tấn () sinh thời là sĩ quan bộ đội biên phòng, hàng chục năm ăn ở cùng đồng bào Vân Kiều ở huyện Hướng Hóa, nên ông rất am tường văn hóa của họ. Ông đã sưu tầm và biên soạn hai tập truyện cổ Vân Kiều rất hấp dẫn. Đặc biệt, đầu năm 1980, ở Huế, nhà văn tặng tôi tập “Dân ca Vân Kiều, tôi vẫn say mê và thích thú. Là người làm thơ, tôi nhận được trong kho tàng dân ca người Vân Kiều những bài học bổ ích vô giá về thơ, về cách sử dụng ngôn ngữ hình tượng, về thủ thuật cao cường trong liên tưởng, so sánh, ẩn dụ. Theo tôi, những câu dân ca này chính là thơ của người Vân Kiều. Một thú thơ điêu luyện được hát lên...
 

Triển lãm hội họa "Cội nguồn" của họa sĩ Trương Bé tại Quảng Trị

16/01/2014 lúc 22:42






H





ai mươi bức tranh trừu tượng của hoạ sĩ Trương Bé có mặt tại Quảng Trị trong triển lãm cá nhân của ông tạo nên bởi những hoà sắc xúc cảm được nảy sinh do sự liên tưởng và nổi day dứt. Sự kết hợp giữa đường nét với mảng màu theo sự phân chia tỷ lệ, được tính toán chặt chẽ như nhằm tái hiện thế giới nội tâm, ước vọng nói lên ý thức hệ, bộc lộ sự nhạy cảm tinh tế thống nhất của tác giả.
Trong bức tranh “Tích hợp Đông-Tây” (Sơn mài, 180 x 360cm) sáng tác năm 2006, 2007, ông dùng những chấm sáng, tối, kết hợp sự biến hoá của đường nét, của mảng màu nhằm dự báo sự sinh hoá kết tinh từ vũ trụ, vạn vật, con người. Đó là sự sinh sôi, hứa hẹn những điều có thể là tốt lành nhưng cũng có thể là bất an của thế giới đầy bí ẩn. “Hổn độn hài hoà” (Sơn mài, 135 x 273cm), “Nhịp điệu giây bí ẩn” (Sơn mài, 180 x 360cm) là một mắc xích vĩnh cửu giữa hoạ sĩ và cội nguồn của mình và khuynh hướng ấy làm thành siêu hình về trời đất, có tác dụng tạo nên ấn tượng cụ thể hợp với lòng người. Thế giới của hoạ sĩ Trương Bé là thế giới của mơ mộng, của huyền thoại, của tâm thức được tín hiệu hoá, thần bí hoá. Người nghệ sĩ phải làm nên một nhịp sống trên tác phẩm, bởi nó là sức sống đây đó của thần trí chúng ta qua nhịp điệu của vạn vật…
Các tác phẩm trừu tượng sơn dầu của ông màu sắc chủ đạo là xám, trắng, đen, đỏ biểu hiện mối quan hệ biện chứng, nhất là sự vận động của sắc đỏ cảm giác như vô tận, bắt người ta phải chú ý hình dung sợi dây kim chỉ nam đó đi về đâu. Người ta có thể thấy gió lướt trên tranh, hơi thở của đời sống, cảm thấy sự tìm kiếm nhịp điệu và bản thể của thiên nhiên...

Đông Hà khát vọng xanh

06/02/2014 lúc 23:18






T





hiên nhiên giữ một vai trò thực sự quan trọng đối với con người vì thế mà khi xây dựng một đô thị  việc đầu tiên con ngưới nghĩ đến là cải tạo, xây dựng thiên nhiên  thành một hệ thống văn hoá để tham dự một cách hài hoà vào tổng thể cuộc sống của con người cả bên trong lẫn bên ngoài. Đối với  thị xã Đông Hà cũng vậy,bên cạnh việc phát triển để tạo ra  sự  lộng lẫy của phố xá thì việc tạo ra sự trong sạch của môi trường thiên nhiên, tạo ra sự mát mẻ từ cây xanh là vô cùng cần thiết. Cây xanh, bộ lọc không khí kỳ diệu nhất mà thiên nhiên trao tặng cho con người.
Đông Hà chính thức là tỉnh lị của Quảng Trị từ khi tái lập tỉnh 1989. Đây là một vùng đất đồi nhỏ hẹp với diện tích tự nhiên 7296 km2, gồm 9 phường và 8 vạn dân. Thiên nhiên không ưu ái gì cho vùng đất này, nhưng bù lại là vùng đất có địa thế thuận lợi. Đông Hà có đường bộ và đường sắt xuyên Việt, kề cận hành lang kinh tế Đông Tây...

Đọc "Mai sau dù có bao giờ" của Nguyễn Hoàn

16/01/2014 lúc 22:40






Đ





ọc bản thảo sau đây của Nguyễn Hoàn, tôi chợt thảng thốt như đọc một bộ hồ sơ điều tra về toàn bộ mảnh đất Quảng Trị. Cái nghề “thư ký toà soạn” của một tờ bỏo tỉnh hẳn đó giỳp Hoàn lướt qua mọi vấn đề của mảnh đất này, thêm một điều là tiếp cận với đôi mắt “mục sở thị”, xoi mói đến tận nội tạng của sự việc và khiến cho người đọc nhỡn ra vấn đề như thể nhỡn thấy sự sinh thành của chớnh mỡnh, chắc khụng khỏi run rẩy cỏi cảm giỏc “đẻ đau mang nặng”.
Các nhà báo khi đưa tin chiến tranh về Quảng Trị, đó núi rằng ở đây bom đạn của quân đội Mỹ bao phủ như “lột vỏ trái đất”. Đúng thế, và mở đầu thời kỳ “hậu chiến”, cách đây khá lâu, con người cũng bắt đầu làm ra cuộc sống của mỡnh bằng cỏch “lộn ruột trỏi đất”...

Một vài cảm nhận về các cây bút trẻ

16/01/2014 lúc 22:39






N





ói theo cách “cục bộ” nào đó, những cây bút trẻ đang là biểu tượng của nền văn học. Bởi lẽ, họ chính là tương lai của nền văn học. Hơn thế họ đang trở thành điểm ngắm nhiều chú mục hơn các thế hệ đàn anh, tuổi trẻ bao giờ cũng chịu khó hơn, cấp tiến hơn, và dễ nhận những lời chê bai hơn  để còn đi xa.
Người xưa đã dạy: “Ngọc bất trác bất thành”. Dù có quí như ngọc nếu không được mài giũa sao có thể thành báu vật? Không một con người nào nếu thiếu phản tỉnh ý thức, có thể trở thành tác giả viết văn. Bởi văn học là một nghề hết sức đặc biệt, thậm chí còn được đặt lên hàng cao quí, ở Việt Nam, giới văn nghệ sĩ thường nói nửa đùa nửa thật để tôn vinh văn học rằng: “Hội liên hiệp văn học và nghệ thuật” như vậy chứng tỏ, riêng văn học thôi đã được đặt ngang vai với mọi ngành nghệ thuật...

Văn chương mạng

17/04/2014 lúc 15:21






Đ





ược khởi động trước đó gần mười năm, sang thế kỉ XXI, có thể nói việc bùng nổ Thông tin liên mạng góp phần làm thay đổi thế giới. Chỉ riêng lĩnh vực văn học, Internet đã thay đổi cách viết công bố đọc nghĩ cảm của cả người sáng tác lẫn kẻ thưởng thức văn chương. Đến nỗi, người nào không biết internet, dễ lạc hậu và lạc thời!
Một khẳng định không phải không lí do của nó.
1. Thế nào là văn chương mạng?
Đó là văn chương có mặt trên mạng Internet. Nói như vậy thì dễ dãi quá. Có thể chia văn chương kiểu này làm ba bộ phận:
- Các sáng tác chủ yếu xuất hiện trên giấy, sau đó được đưa lên mạng; hoặc đưa lên cùng lúc. Đây là cách của rất nhiều báo trong nước hôm nay. Đại bộ phận nhà văn Việt Nam thế hệ cũ hành xử theo cách này.
- Người viết ưu tiên dành đăng các sáng tác trên mạng. Vì nhiều lí do, họ cũng có in trên giấy hoặc gởi in cả hai nơi; nhưng có mặt trên mạng. Họ cảm thấy thoải mái hơn, hoặc cùng lắm họ coi hai hình thức này giá trị ngang nhau. Nên sau khi đăng sáng tác lên mạng, họ vẫn thích in ra giấy.
Dù gì thì gì, cả hai bộ phận tác giả này vẫn mang tâm thế giấy.
- Bộ phận cuối cùng là các tác giả chỉ muốn xuất hiện trên mạng. Họ sống đời sống văn chương của mạng, viết trên mạng, vận dụng ưu thế kĩ thuật của Internet, xử lí thông tin trên mạng, tương tác trên mạng, tồn tại trên mạng, buồn vui trên mạng, hi vọng hay thất vọng cũng trên mạng, họ là công dân mạng toàn phần. Và có thể nói đây là thứ văn chương mạng đúng nghĩa, khác hẳn các sáng tác được đăng trên mạng. Văn chương mạng khi in ra giấy sẽ mất đi hơi thở đời sống mạng và, giảm giá trị đích thực của nó không ít!
2. Ưu thế thông tin của Internet
Tốc độ, đó là điều dễ thấy hơn cả. Báo giấy, người đọc phải chờ đến ngày hôm sau hoặc có nhanh bao nhiêu cũng buổi sau; nhưng báo mạng thì không. Người nhận thông tin biết ngay tin vừa xảy ra, tác phẩm vừa sáng tác, ý kiến bình luận và cả các sai sót cũng được đính chính ngay sau đó, hoặc sửa thẳng vào bản in! Nhanh, gọn, tiện dụng rất phù hợp với thế giới đầy tốc độ hôm nay.
Sự tiện lợi còn thể hiện qua việc lưu trữ thông tin. Thích hay cần, người đọc tải tác phẩm xuống để lập mục riêng. Tra tìm cũng rất nhanh: từ nội dung cho đến tác giả, ngày tháng hay cả câu đoạn. Và nếu muốn viết bài nghiên cứu, phê bình, việc trích dẫn bảo đảm sự chuẩn xác tuyệt đối qua thao tác cắt- dán. Đó là những điều ngoài tầm với của báo giấy!...

Thi sĩ Tường Đông, một thi nhân đã bị lãng quên

06/02/2014 lúc 22:58






T





rước hết xin nói ngay để khỏi phiền lòng bạn đọc. Kẻ viết bài này không phải là một nhà nghiên cứu văn học nghệ thuật chi cả, lại càng non kém trong một lãnh vực khó hơn đó là thi ca. Từ đầu đã khẳng định là không lấy mớ kiến thức tạp nham của mình để làm sáng tỏ hơn về một thi nhân đã bị quên lãng qúa lâu... như cuộc đời, thân phận và những mối quan hệ bạn bè của ông, sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Đơn giản tôi chỉ là một người yêu văn thơ và may mắn đang lưu giữ một số bài thơ của ông, mà mỗi khi đọc lại không khỏi rung động và thầm nghĩ mình đang cầm một báu vật trên tay. Người đời lắm lúc cố công đi tìm kiếm để lưu giữ những đồng xu tiền cổ- tất nhiên là không phủ nhận những giá trị vật chất hoặc lịch sử của nó- Thế thì một thi sĩ đã được Hoài Chân- Hoài Thanh từng nhắc tới trong Thi Nhân Việt Nam tất nhiên là không giám trách sự quên lãng của đời người. Vì tuy Hoài Chân- Hoài Thanh có nhắc tới ông nhưng lại không trích dẫn một bài thơ nào của ông cả. Mà đời ông ghi lại “Mà đời tôi là đời của chim ngàn/ Nên sực nghĩ thân mình mà ngán tủi” Trong khi đó tôi lại có may mắn đang có trong tay khoảng chục bài thơ của ông. Nếu cứ giữ như một kỷ vật trong tủ sách của mình để thời gian gần bôi xóa thì thật là một tội lớn. Lại nghĩ trong muôn vàn sự quên lãng của đời người, sao nỡ quên đi một nhà thơ. Cái điều mà với linh cảm của một thi sĩ ông đã viết...

Ký ức chiến tranh, ám ảnh không ngủ yên

12/12/2013 lúc 22:00






C





uộc chiến tranh chống xâm lăng đã kết thúc hơn 30 năm, nhưng chúng ta vẫn chưa thoát khỏi cuộc chiến tranh ấy. Hậu quả chiến tranh không chỉ tác động dự hội đến kinh tế, xã hội mà còn in dấu lết sâu đậm trong để sống tinh thần mỗi con người. Có một dòng chảy văn chương âm thầm mãnh liệt thời hậu chùm chứa đựng những âu lo, dằn vặt, ám ảnh thời trận mạc không dứt. HOA GẠO ĐỎ BÊN SÔNG của Văn Bốn cũng không ngoài dòng chảy này, đó là những ký ức không ngủ yên day dứt trong trái tim nhân hậu của người lính.
Nỗi ám ảnh khôn nguôi.
Cái dữ dội, khốc liệt, cái buồn của chiến tranh viết bao nhiêu cũng không hết, bởi hiện thực thì phong phú, đa dạng, rộng lớn vô cùng; nhà văn dù có tài hư cấu bao nhiêu, dù có can dự trực tiếp với tư cách người lính trận thì cũng chỉ một góc nhỏ nhoi, không bao quát hết. Viết chân thực, sinh động, ám ảnh không phải ai cũng làm được, và qua đó để gửi gắm một thông điệp gì đến người đọc lại càng khó hơn...

Đạo đức thân dân, tiêu chí hàng đầu của đại biểu dân cử

17/04/2014 lúc 15:21






T





rong các tiêu chuẩn để trở thành Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, ngoài việc trung thành với Tổ quốc và chế độ xã hội chủ nghĩa, ngoài tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực và điều kiện để thực hiện nhiệm vụ đại biểu thì tinh thần tận tụy phục vụ nhân dân, đạo đức thân dân có thể được xem là tiêu chí hàng đầu của đại biểu dân cử.
Tinh thần tận tụy phục vụ nhân dân là phẩm chất cao, đạo đức cốt lõi. Căn bản nhất của đội ngũ cán bộ nói chung và đại biểu dân cử nói riêng, nó là lẽ tự nhiên trong quan hệ xã hội. Đại biểu dân cử, cán bộ nhà nước đều do các tầng lớp nhân dân cử ra. Cán bộ là “đầy tớ”, là “công bộc” của dân, là con dân có bổn phận thường nhật là phục vụ nhân dân, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của dân giao, chịu sự kiểm soát của dân và sẽ bị tước quyền nếu đi ngược lại lợi ích của dân.
Tinh thần tận tụy phục vụ nhân dân và mục tiêu đạo đức cách mạng mà tấm gương sáng ngời nhất là Hồ Chí Minh. Để có được tinh thần ấy phải có giác ngộ sâu sắc về mục đích sống, mục đích hành động. Tình thương yêu quý trọng nhân dân luôn chiếm lĩnh trong trái tim, khối óc, hành động, việc làm của mỗi người. Tinh thần tận tụy phục vụ nhân dân chỉ có được khi đại biểu dân cử có đạo đức thân dân…

Có một thời họ đã sống và yêu như thế

16/01/2014 lúc 21:37






Đ





ã có người sau khi đọc Nhật ký của Nguyễn Văn Thạc (“Mãi mãi tuổi hai mươi”) và “Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm” đã nói: “Họ có điều kiện ghi lại và may mắn giữ được nhật ký, chứ thời ấy, hàng triệu thanh niên ra mặt trận đều sống như thế”. Điều đó chỉ đúng một phần. Vì đã có những cuốn nhật ký chiến tranh khác được xuất bản trước và sau hai cuốn sách vừa kể, nhưng không gây được tiếng vang, không trở thành “sự kiện” như với Nguyễn Văn Thạc và Đặng Thuỳ Trâm. Không phải hai chiến sĩ “mãi mãi tuổi hai mươi” này đã lập được chiến công hơn người. Vậy thì vì sao Nguyễn Văn Thạc, một chiến sĩ chưa đầy một tuổi quân, chưa bắn hạ được chiếc trực thăng, chưa phá được chiếc xe tăng Mỹ nào và hình như chưa diệt được kẻ địch nào, lại có thể khiến hàng triệu độc giả xúc động chỉ với những trang nhật ký qua mấy tháng hành quân?
Hẳn sẽ có nhiều cách giải thích. Riêng tôi, sau khi đọc “Hạnh phúc là gì?” chợt hiểu ra những trang nhật ký của Thạc có sức lay động người đọc vì trong cuộc đời ngắn ngủi của mình anh đã biết làm giàu tâm hồn mình, tích tụ năng lượng, phẩm chất từ nhiều cuộc đời khác - trong đó có rất nhiều nhân vật trong những tác phẩm văn học nổi tiếng và tất nhiên, người bạn đời đầu tiên - duy nhất của anh là Phạm Như Anh đã đóng một vai trò quan trọng...

Lê Duẩn với truyền thống Văn hiến dân tộc

17/04/2014 lúc 15:21

LTS. Đồng chí Lê Duẩn sinh ngày 7.4.1907 tại làng Hậu Kiên, xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị; mất ngày 10.7. 1986 tại Hà Nội. Sớm giác ngộ cách mạng, Lê Duẩn là lớp người đầu tiên hưởng ứng lời kêu gọi của đồng chí Nguyễn Ái Quốc đi theo con đường chủ nghĩa Mác- Lênin. Thân thế, sự nghiệp của đồng chí đã được khái quát trong diễn văn do Tổng Bí thư Trường Chinh đọc tại lễ truy điệu với những lời tôn vinh, ca ngợi:" Đồng chí Lê Duẩn, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều năm là Tổng Bí thư của Đảng, đã cùng với TƯ Đảng lãnh đạo hoàn thành cách mạng dân tộc...

Từ cuộc triễn lãm đồ họa Quảng Trị

03/08/2014 lúc 14:39






C





ó thể chia đồ họa ra hai ngành là đồ họa ấn loát và đồ họa độc lập. Nhưng theo lối phân ngành trước đây thì đồ họa bao gồm 4 chuyên ngành nhỏ, đó là: đồ họa giá vẽ (hoặc độc lập), đồ họa sách báo bao gồm trình bày bìa, trang trí, minh họa, tranh truyện, biếm họa, tranh vui cười…tiếp đến đồ họa cổ động với các các loạt áp phích chính trị, xã hội, văn hóa nghệ thuật, quảng cáo thương mại…và cuối cùng là đồ họa ứng dụng như các loại nhãn hiệu, bao bì, tem thư, biểu trưng, bằng khen…

Văn bút ấm thân hay dấn thân

03/08/2014 lúc 14:38

 






T





hế là đã ngót 30 năm kỷ niệm, ngày mở toang cửa ải khốc liệt nhất trên vùng đất cát rát bỏng bom rơi đạn nổ, mở đường tiến vào Nam, để ca trọn khúc khải hoàn quanh ngọn cờ thống nhất. Chiến trường đã khép lại thách thức máu lửa, để mở ra những thách thức mồ hôi hai sương một nắng đầy gay gắt của hòa bình. Cuộc “tổng duyệt binh” 30 năm giải phóng Quảng Trị, theo cách nhìn biểu tượng, đó cũng là cuộc tổng duyệt chặng đường 30 năm sau giải phóng cùng dân tộc. Mỗi ngành, mỗi nghề, mỗi người dân, mỗi tri thức và mỗi cây bút chúng ta có dịp nhìn lại chặng đường đã trải qua, một thời kỳ phục sinh đầy ý nghĩa sau vết thương chiến tranh dai dẳng – thê lương – và khốc liệt...

Chàng họa sĩ phủ định chính mình

03/08/2014 lúc 14:13






C





ó ai đó đã nói: người nông dân chỉ thực sự là mình trên đồng ruộng, người nghệ sĩ chỉ khẳng định mình trên cánh đồng tư tưởng và những cảm xúc đam mê. Trên cánh đồng lớn của hội họa,Võ Xuân Huy là gương mặt trẻ đã sớm gặt hái được một số thành công. Với anh, mỗi lần vẽ là một lần được trở về quê hương, nhưng mỗi lần vẽ cũng là một lần phủ định; bởi bao giờ anh cũng cảm thấy chưa nói được những điều muốn nói…

Phan Quang với quê hương miền Trung

03/08/2014 lúc 14:12

 






N





ăm nay anh đã ở vào đúng tuổi bảy mươi và đến với nghề báo trọn năm mươi năm trời. Báo chí là chuyện thời sự hàng ngày. Người viết hơn ai hết có ý thức về thời gian. Từng ngày lại từng ngày, trong tháng năm chiến tranh, trong ngày hòa bình đang sôi động và lặng lẽ trôi đi trên dòng thời cuộc. Và cũng từng ngày niềm vui, rồi nỗi buồn trong cuộc sống riêng tư đang trở thành những kỷ niệm gần gũi và xa xôi dần. Và nửa thế kỷ đã đi qua trong cuộc đời một nhà báo Phan Quang với những thành tựu và đóng góp quan trọng. Con số 50 là con số đẹp, nhất là khi chỉ mang ý nghĩa kỷ niệm rồi lại nối tiếp, lại lên đường...

« 4344454647 »

Dự thảo
Du Lịch Quảng Trị

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

05/12

25° - 27°

Mưa

06/12

24° - 26°

Mưa

07/12

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground
tư tưởng Hồ Chí Minh
Dấu xưa
Tiêu đề