Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 27/02/2024 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Văn hóa thời đại

Văn hóa giao thông và nhân cách người tham gia giao thông

16/01/2022 lúc 21:41

I.Văn hóa giao thông đô thị





G





iao thông đô thị là một qui luật tất yếu của quá trình đô thị hóa (urbanisation). Xu hướng này mạnh như bão táp, phát triến với tốc độ “phi mã”. Thế kỷ XXI là mốc đánh dấu kỷ nguyên trong đố phần lớn dân cư thế giới cư trú ở nông thôn bước sang kỷ nguyên mới với dân số hầu hầu hết ở các đô thị. Theo dự báo của khoa dân số học, trong mười bốn thành phố trên thế giới có số dân từ 10 đến 30 triệu người, thì châu Á đã có 9 thành phố. Những năm 40, 50 của thế kỷ XX cứ một trăm dân thì có một người sống ở đô thị. CUối những năm 80, tỷ lệ này tăng lên 10 lần. Hiện nay trong số một nửa dân số sống ở đô thị, thì 90% thuộc về các nước đang phát triển. Người ta dự báo rằng, đến 2025 dân số ở đô thị là 61%, còn ở nông thôn chỉ còn 39%. Hiện tượng “bùng nổ dân số” gây ra sự rối loạn giao thông là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến vi phạm giao thông.
...........
 

Cùng suy ngẫm với

16/01/2022 lúc 21:41






T





ôi có trong tay tập tiểu luận văn hóa - văn nghệ Suy ngẫm với thời gian của nhà nghiên cứu Nguyễn Hoàn. Tập sách được phân chia thành các chủ điểm cụ thể: 1. Tìm trong lịch sử, 2. Duyên văn, 3. Nghề báo, 4. Nhạc Trịnh – những góc nhìn và phần Phụ lục. Tất cả được tác giả ấp ủ và viết trong khoảng thời gian khá dài với nhiều trở trăn, suy ngẫm. Cảm nhận chung đầu tiên của tôi đối với tập sách là tác giả đã có cái nhìn nhất quán, khách quan và khoa học trong nhận định và suy nghĩ. Ở từng vấn đề, Nguyễn Hoàn thật sự tâm huyết, cố gắng chỉ ra những chứng cứ thỏa đáng và thuyết phục, làm cho những điều tưởng giản đơn lại lấp lánh lời giải đáp trước tầm đón nhận của của con người thời hiện đại, dù có những vấn đề đã lùi về xa cũ. Đó chính là giá trị tổng thể của tập tiểu luận mà tôi muốn làm người tiếp nhận đồng sáng tạo với Nguyễn Hoàn.
Chùm bài ở phần 1 Tìm trong lịch sử, theo tôi là đáng chú ý hơn cả, bởi Nguyễn Hoàn đã dày công tìm hiểu, đánh giá từ trong di sản và lịch sử để rút ra những kết luận sắc sảo, có phát hiện bổ sung về từng con người và sự kiện của quê hương Quảng Trị dưới ánh sáng của chân lý cuộc sống và sự sàng lọc khắc nghiệt của thời gian. Bài Thượng thư Lê Trinh - người tôn vua Duy Tân và cứu Phan Châu Trinh thoát khỏi án chém đã làm hiện lên một con người, một tấm lòng nghĩa hiệp cao cả của Thượng thư Bộ Lễ Lê Trinh khi ông tham gia giải những “bài toán lịch sử” éo le, lúc vận nước gian nan: “Hai đóng góp sáng giá của Thượng thư Lê Trinh trong thời kỳ này, đó là việc tôn vua Duy Tân lên ngôi, sau khi thực dân Pháp phế truất vua Thành Thái và việc không xử chém Phan Châu Trinh, mặc dầu Pháp gây sức ép, nhờ vậy mà nhà yêu nước và vị vua Duy Tân nổi tiếng này có điều kiện tiếp tục hoạt động, cống hiến cho phong trào Duy Tân, cứu nước” ( tr.9 ). Với các chứng cứ và biện luận sắc sảo, Nguyễn Hoàn đã làm cho vấn đề trở nên sáng tỏ, từng mối quan hệ giữa vua Duy Tân, giữa Phan Châu Trinh với Lê Trinh cũng được minh xác, chúng tỏ rằng “Lê Trinh dẫu làm quan trong thế kẹt: vận nước ngàn cân treo sợi tóc, không ít vị quan chỉ là bù nhìn hoặc cam tâm làm tay sai cho thực dân Pháp, ông vẫn tìm cách lo nước, thương đời theo cách riêng của mình, trường hợp đó đã chứng tỏ phẩm chất và tiết tháo nhà Nho đáng quý, đáng trân trọng của ông”. Ông đã “không xu thời, buông xuôi, để tỏ được “lòng son” của mình qua việc tôn phò vua yêu nước, xử bênh cho nhà duy tân cứu nước” (tr. 20).
Bài “Tự chỉ trích” - Tác phẩm lý luận nổi tiếng đúc kết kinh nghiệm xây dựng Mặt trận của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừđược Nguyễn Hoàn tái hiện cụ thể qua từng hoàn cảnh, từng chi tiết để thấy sự sâu sắc của Nguyễn Văn Cừ khi “phân tích, mổ xẻ các vấn đề, nhất là chỉ ra những tư tưởng lệch lạc của một số đồng chí lúc đó và những khuyết điểm trong công tác vận động quần chúng một cách xác đáng, từ đó tìm hướng sửa chữa, làm cho Đảng thống nhất và mạnh mẽ hơn, đạt được hiệu quả đó là do tác phẩm đã nắm lấy nguyên tắc tự chỉ trích bôn-sê-vích” ( tr. 23). Nguyễn Hoàn đi đến kết luận:  “Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, kể từ khi đồng chí Nguyễn Văn Cừ viết Tự chỉ trích nhưng vấn đề mà tác phẩm lý luận nổi tiếng này đúc kết vẫn vừa có ý nghĩa thời sự với chúng ta hôm nay, vừa có ý nghĩa “thấu thị” sáng suốt lâu bền trong công tác vận động quần chúng của Đảng, nhất là khi Đảng đã xác định: Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân” (tr. 28). Tính thời sự - thời đại của bài viết chính là ở sự liên hệ với yêu cầu của cuộc sống và chiến lược phát triển con người hôm nay.
Tôi đặc biệt chú ý hai bài viết của Nguyễn Hoàn về Tổng Bí thư Lê Duẩn. Bài Tổng Bí thư Lê Duẩn với chân lý “Lao động, tình thương và lẽ phải” đã nêu và phân tích được hệ giá trị Chân - Thiện - Mỹ theo quan niệm mới của Lê Duẩn: “Yêu lao động, giàu tình thương, trọng lẽ phải, đó là những phẩm chất cơ bản cần được bồi dưỡng và hoàn thiện để cho con người có thể từng bước làm chủ thiên nhiên, làm chủ bản thân, tiếp cận và chiếm lĩnh được cái đúng, cái tốt và cái đẹp của cuộc sống. Làm chủ tập thể chính là cái đúng, cái tốt và cái đẹp cao nhất mà con người đang vươn tới trong thời đại mới”  (tr.29). Tác giả lần lượt phân tích bản chất của chân lý lao động, tình thương và lẽ phải. Đầu tiên là phải đặt nó trong mối quan hệ với các chỉ số AQ, EQ, IQ. Đó là chỉ số thông minh (Intelligence Quotient), tức chỉ số trí tuệ duy lý; kế đến là chỉ số trí tuệ cảm xúc (Emotion Quotient), tức sự minh mẫn cảm xúc; và cuối cùng là chỉ số nghịch cảnh (Adversity Quotient), tức “nói đến năng lực phát huy trí tuệ của con người trong nghịch cảnh, năng lực tìm ra lối thoát trong nghịch cảnh, trong những tình huống khó khăn, bế tắc…”. Như vậy, mối quan hệ trên chính là sự tổng hòa biện chứng của các thước đo IQ, EQ và AQ mà con người cần phấn đấu để đạt được trên hành trình lao động, sáng tạo để xây dựng cuộc sống mới, làm chủ bản thân, làm chủ thiên nhiên. Kế đến, Nguyễn Hoàn đi sâu phân tích tư tưởng Lê Duẩn về vai trò đặc biệt quan trọng của lao động trong việc tạo ra con người và văn hóa: “Có  lao động mới có con người, và có con người là có văn hóa”. Bài viết phân tích nội hàm vấn đề lao động là nguồn lực quý báu của tích lũy xã hội chủ nghĩa, vấn đề tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng, tăng năng suất lao động, vấn đề cơ chế và lực lượng sản xuất, vấn đề khoa học kỹ thuật…Những vấn đề trên được Nguyễn Hoàn phân tích tỉ mỉ và thuyết phục trên cơ sở những ý kiến và chủ trương của chính Tổng Bí thư Lê Duẩn trong từng thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Nguyễn Hoàn cũng đề cập đến quan niệm tình thương rất mới mẻ qua thực tiễn cách mạng cũng như vấn đề phát huy sức mạnh tổng hợp và tinh thần làm chủ theo quan điểm của Tổng Bí thư Lê Duẩn trong từng giai đoạn cách mạng để giúp người đọc thấy vai trò, trí tuệ và sự uyên bác của Lê Duẩn trong từng yêu cầu của lý luận và thực tiễn mà một nhà lãnh đạo như ông đã làm được: “Đó là những bước tiến mới trong tư tưởng phát triển toàn diện và bền vững đất nước ta, tạo ra sức mạnh tổng hợp kinh tế - văn hóa - con người, sức mạnh của chân lý lao động, tình thương và lẽ phải mà Tổng Bí thư Lê Duẩn hằng nêu. Chân lý đó bắt rễ rất sâu từ trong mạch nguồn truyền thống và văn hóa của dân tộc, là chân lý độc lập, tự chủ và sáng tạo, chân lý đó chính là minh triết Lê Duẩn, minh triết Việt Nam” (tr. 58). Đó là những nhận định sâu sắc và đúng sát với tư tưởng Lê Duẩn mà Nguyễn Hoàn đã tổng kết một cách có cơ sở từ lý luận và thực tiễn.
Bài thứ hai mà Nguyễn Hoàn đề cập là bài Tư tưởng đổi mới của Tổng Bí thư Lê Duẩn. Những luận điểm mà bài viết quan tâm là Câu chuyện NEP của Lênin, Vấn đề cải tiến chế độ quản lý kinh tế, Về chuyện “khoán chui” của đồng chí Kim Ngọc đến Chỉ thị “khoán 100”, Các bước đột phá về đổi mới tư duy kinh tế từ năm 1979 đến năm 1985, Tính chuyện hợp tác kinh tế với Mỹ sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ…Có thể nói, bấy nhiêu vấn đề là bấy nhiêu nan giải, phức tạp nhưng Nguyễn Hoàn đã lần vào bản chất bên trong của chúng để tường giải và thông diễn đến người đọc những tư tưởng đổi mới sâu sắc và nhạy bén của Tổng Bí thư Lê Duẩn. Qua đó, tác giả muốn khẳng định chân lý vĩnh cửu và những đóng góp to lớn của nhà lãnh đạo xuất sắc Lê Duẩn vào tiến trình cách mạng Việt Nam. Chúng tôi đánh giá cao kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hoàn qua hai tiểu luận nói trên....
 
 
 

 

Nhà văn với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

16/01/2022 lúc 21:41






C





ần phải cảm ơn công nghiệp hóa về những thay đổi mang tính lịch sử diễn ra trên đất nước ta hơn 20 năm qua. Sự kỳ diệu về kinh tế tác động mạnh mẽ và làm thay đổi sâu sắc cơ cấu xã hội, hệ thống giá trị, tâm lý, thói quen, lối sống của cả cộng đồng đến từng cá nhân riêng lẻ. Chất lượng sống được nâng lên. Không gian sinh tồn được rộng mở. Năng lực cá nhân được giải phóng. Xu hướng tiếp cận với các  giá trị chung của nhân loại trở thành thước đo và phẩm chất của tư duy mới. Một cục diện văn hóa mới đang được mở ra với nhiệm vụ trung tâm là chăm lo, phát triển nhân tố con người. Đối thoại, liên kết và hợp tác đem đến nhiều cơ duyên trong việc giải quyết những nhiệm vụ kinh tế, xã hội rộng lớn và tổ chức đời sống.
Tuy vậy, trong bản chất của nó, công nghiệp hóa và hiện đại hóa là một cuộc tích tụ và tập trung gay gắt, một cuộc tự vượt gian khổ và kỳ vĩ như cá vượt vũ môn, nhằm đưa một đất nước nghèo nàn và lạc hậu trở thành giàu mạnh và phát triển. Quá trình này làm phát sinh bao nhiêu vấn đề xã hội chưa từng gặp. Phân cực giàu nghèo diễn ra gay gắt với bao cảnh đau lòng. Lối sống thực dụng, sùng bái đồng tiền, cuộc săn lùng các giá trị ảo, bệnh vô cảm, bệnh cũ người mới ta cùng với tham nhũng, cửa quyền, mất dân chủ, tàn phá môi trường đang làm xói mòn biết bao giá trị cao quý của dân tộc. Lương tâm đang kêu gọi các nhà văn. Và sự đáp lại của văn học trong thời gian vừa qua, công bằng mà nói là tâm huyết và đầy trách nhiệm. Các nhà văn chúng ta đã phát hiện vấn đề khá sớm và nắm bắt rất trúng một trong những chủ đề trung tâm của văn học ta hiện nay là vấn đề đạo đức xã hội. Đạo đức xã hội là vấn đề nóng nhất, một đề xuất quan trọng nhất của văn học ta trong những năm vừa qua. Nó được xem như một mũi nhọn, một khâu đột phá trong một tổng thể chiến lược: hoàn thiện xã hội, hoàn thiện thiên nhiên, hoàn thiện con người.
Là một cuộc cách mạng toàn diện và triệt để, công nghiệp hóa và hiện đại hóa luôn luôn biết tìm kiếm cho nó nguồn lực xã hội to lớn đủ sức đưa sự nghiệp đến thành công. Chưa bao giờ các nhà văn chúng ta có thể tích lũy được nhiều vốn sống, nhiều hiểu biết đến như thế. Chúng ta quan sát và suy nghĩ, nhập cuộc và lo âu. Cả một dân tộc đang tự đo tầm vóc của mình trước vận hội mới. Và mỗi một con người, chưa bao giờ phát hiện ra mình nhiều khả năng và sung sức đến như thế, đúng như Mác nói “trí tuệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp”. Của cải vật chất mỗi ngày một nhiều lên kích thích nhu cầu mỗi ngày một phát triển, và đến lượt nó, nhu cầu lại kích thích của cải vật chất tăng lên nhiều hơn nữa. Cả một đất nước đang hăm hở và nhộn nhịp chăm sóc tương lai của mình.
Cuộc sống đã thay đổi, thực hiện đã thay đổi, đương nhiên văn học không thể đứng im. Quan niệm đầy đủ về sự đổi mới văn học, hiện đại hóa văn học là đổi mới, hiện đại hóa về tầm nhìn, tư tưởng, vốn sống, tư duy nghệ thuật cho đến cả phương pháp sáng tác, phong cách, ngôn ngữ, nhịp điệu v.v… Đó là một vấn đề vô cùng nghiêm túc khó khăn. Nhưng đổi mới cách nào, hiện đại hóa cách nào, trước nhất và quan trọng nhất văn học phải gắn với đời sống. Không gắn với đời sống thì không có gì cả. Không gắn với đời sống thì mọi tìm kiếm nghệ thuật dù có nhọc lòng đến đâu cũng chỉ là câu chuyện dã tràng xe cát. Cuộc sống hiện nay là tất cả những gì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra và đem lại cho mỗi chúng ta hôm qua, hôm nay và những ngày sắp tới. Nói đổi mới văn học, hiện đại hóa văn học là sự nghiệp vô cùng nghiêm túc và khó khăn vì nó đòi hỏi đổi mới đồng bộ, thống nhất và toàn diện. Đó là cuộc đổi mới về tài năng, tâm hồn, trách nhiệm và nhân cách chứ không chỉ và không phải là sự đổi mới về một thao tác nào đó. Quan tâm đến thi pháp là hoàn toàn đúng đắn. Nhưng nhấn mạnh một chiều, thậm chí tuyệt đối hóa thi pháp, coi thi pháp là chìa khóa vạn năng lại là không thỏa đảng với bản chất của đổi mới văn học, có nguy cơ xa gần dẫn đến chủ nghĩa hình thức.
Có một lo lắng rất thiện chí là lo văn học ta tụt hậu với thế giới. Đó là một lo lắng rất đúng, một tâm huyết đáng trân trọng. Nhưng cần bổ sung thêm, còn có một mối lo nữa là lo văn học tụt hậu với đời sống, tụt hậu với dân tộc. Muốn khỏi tụt hậu với thế giới trước hết phải đứng chân rất vững trên nền tảng cuộc sống dân tộc, văn hóa dân tộc. Đó cũng là một nguyên tắc của hội nhập một cách chủ động và tích cực.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế là một cuộc gặp gỡ văn hóa Đông Tây. Con người, chủ thể của văn hóa phương Đông tiếp nhận, thích nghi và làm chủ công nghệ, kỹ thuật của phương Tây. Đó là một quá trình tiếp biến văn hóa, cộng sinh văn hóa đầy bỡ ngỡ, khó khăn và vô cùng tinh tế. Ở đó có được và mất, trả giá và lớn lên, có cả nụ cười và nước mắt. Nhưng kết cục sẽ là sự thoát hiểm, thoát hiểm nghèo nàn và lạc hậu. Từ sự nhìn nhận đó, chúng ta thấy công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một cuộc cách mạng, một cuộc đấu tranh. Đấu tranh để lớn lên, để lột xác. Đó là chuyện động trời với những thay đổi đến choáng ngợp. Trong xã hội nông nghiệp kinh nghiệm làm nên tất cả. Trong xã hội công nghiệp tri thức làm nên tất cả. Trong cuộc đấu tranh này, nhiều khi, ranh giới giữa đúng và sai, anh hùng và phạm pháp chỉ như một sợi tóc. Vì sao? Vì đó là những chuyện chưa từng có. Lịch sử đang được làm mới lại. Và văn chương cũng đang được làm mới lại. Có người nói đến một cuộc nhập cuộc mới, dấn thân mới của nhà văn. Đó là một cách nghĩ đúng đắn, không hề cường điệu.
Công nghiệp hóa và hiện đại hóa là một đề tài vô tận của văn học. Đó là thân phận của mỗi con người dưới tác động những thay đổi vũ bão, triệt để. Có những xung đột mới, bi kịch mới, thăng hoa mới diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống. Do đó, viết về công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo nếp suy nghĩ cũ là không đầy đủ...
 
 
 
 

Vận dụng phương pháp ước lệ của sân khấu truyền thống vào kịch hiện đại

16/01/2022 lúc 21:41






Đ





ầu năm học 1963.
Tôi vào năm thứ hai khoa đạo diễn Sân khấu trường Đại học Sân khấu Liên Xô cũ ở Mátxkva.
Năm đó bà giáo sư chỉ đạo nghệ thuật của tớp tôi – bà Maria – Ôxêpôrrua Kiêben đi thăm Nhật về.
Bà kể cho chúng tôi nghe về chuyến thăm của bà tại Nhật.
Bà hết lòng ca ngợi sân khấu truyền thống của Nhật: Nô – Kabuki. Nhưng khi nói đến sân khấu kịch nói bà hết sức thất vọng:
- Tôi xem vở “Một câu chuyện” ở Iếc Kút, tôi hoàn toàn thất vọng, vì họ đã thể hiện y hệt sân khấu Nga tại Mátxkva, từ trang trí phục trang cách diễn đều giống hệt người Nga diễn, chỉ có một cái khác là họ nói tiếng Nhật.
- Tôi nghĩ họ phải đem tư duy ước lệ sân khấu để tiếp nhận vấn đề của người Nga đặt ra để vận dụng sân khấu ước lệ của Nhật Bản để thể hiện “một câu chuyện ở Iếc kút” là trách nhiệm của sân khấu Nhật Bản. Nếu chỉ sao chép giống hệt như chúng tôi thì đó không còn là sáng tạo một vỡ diễn, mà chỉ là bản Phôtocóppi đơn giản. Ai có một trí nhớ tốt đều có thể làm được. Và bản phôtôcóppi ấy là vô dụng.
Vì vậy tôi nhắc các bạn Việt Nam đang có mặt ở lớp nầy là: - Các bạn học phương pháp thể nghiệm của Xtanhixlapxki nhưng phải vận dụng vào nền sân khấu ước lệ của Việt Nam và của phương Đông.
Vậy phương pháp ước lệ của phương Đông là gì.
Có lẽ trước hết phải nói đến luật “tam thống nhất” của kịch cổ điển phương Tây.
- Thống nhất không gian
- Thống nhất thời gian
- Thống nhất hành động
- Thống nhất không gian:
Kịch phải xẩy ra trong một không gian nhất định: Trong một phòng họp, trong một phòng ăn, trong một phòng ngủ… được kéo dài ít nhất là một màn (từ lúc mở mà đến lúc đóng màn ít nhất là 30 phút).
Cần nói thêm rằng cấu trúc nhà hát cổ điển như nhà hát lớn Hà Nội, nhà hát lớn Sài Gòn, nhà hát lớn Hải Phòng v.v … đều phải có tấm màn đỏ để đóng mở sau mỗi cảnh, để thay đổi cảnh trí, phục trang đạo cụ. Điều này khác hẳn với sân khấu ước lệ sân khấu truyền thống của chúng ta.
Trong sân khấu truyền thống của chúng ta không có trang trí tả thực cố định. Giang sơn một gánh trong hai cái hòm và một chiếc chiếu. Khi đặt gánh xuống lấy khăn đai, áo, mão, gươm, đao, giáo, mác ra thì cái hòm gỗ là vật trang trí duy nhất. Cái hòm sẽ là núi non trùng điệp, sẽ là hòn đá mài dao của các anh hùng, sẽ là chiếc giường ngã lưng trong đêm lạnh, sẽ là ngôi mộ người quá cố để người thân thắp hương bái vọng. Mọi thứ đều do diễn viên trình diễn cảm thụ và biểu hiện mà ra cả.
Cần nói thêm rằng sân khấu cổ điển Châu Âu (tôi nói cổ điển Châu Âu, vì ngày nay họ cũng đã thay đổi nhiều và tính ước lệ, không đóng chặt sàn gỗ trong từng cảnh cố định như ngày xưa.)
Còn sân khấu ước lệ truyền thống Việt Nam thì hoàn toàn trái lại.
Cũng chỉ trên sàn gỗ mấy chục mét vuông nhưng không gian lại vô cùng rộng lớn. Có thể kéo dài từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau trong vài chục mét chiều ngang sân khấu. Từ Hà Nội đi vài ba bước, quay một vòng quay là đến Huế, quay tiếp bước tiếp là Nha Trang, Sài Gòn. Vài động tác bơi tay hay thuyền thúng là qua sông qua biển. Có không gian hay không có không gian đều do diễn viên biểu diễn mà tạo nên.
Một mảnh chiếu trải trước sân đình trở thành một không gian rộng lớn, ở đó có thể trở thành một bãi chiến trường mà ngựa phi không biết mỏi, mà thiên binh vạn mã cùng các chiến binh giao chiến suốt ngày đêm, là máu chảy đầu rơi lai láng. (Thực ra chỉ 2 tướng và hai quân).
Tóm lại không gian sân khấu ước lệ truyền thống Việt Nam là không gian mở, không bỏ mặc trong trang trí tả thực, trong tám cánh gà cố định.
- Thống nhất thời gian
Hành động kịch chỉ được xảy ra trong 24 tiếng đồng hồ cho mỗi hồi. Trong một hồi có nhiều cảnh, nhưng tất cả các cảnh đều phải xẩy ra gọn trong ngày, với thời gian theo kim đồng hồ.
Điều này cũng hoàn toàn ngược lại với sân khấu truyền thống Việt Nam.
Trong sân khấu truyền thống Việt Nam thời gian có thể diễn ra mọi lúc: một giờ một ngày, một tháng có lúc hàng năm, trước sau không nhất thiết theo kim đồng hồ, quá khứ hiện tại, tương lai chen lẫn nhau, hư và thực có thể chen lẫn nhau. Người ta có thể biểu diễn cả quá khứ và hiện tại, ước mơ và hiện thực cùng một lúc.
- Thống nhất hành động:...
 

Nghe dạ khúc mùa thu

16/01/2022 lúc 21:41






Đ





ọc hết tập bản thảo thơ của Phan Đăng Quy tôi không có cảm giác như thường có của một người đang lần theo từng con chữ, khám phá ý nghĩa của những cảm xúc để rồi kết luận xem bài nào hay, bài nào tạm được, câu thơ nào xứng với bát gạo đồng tiền...Không. Cảm giác tôi lúc này, đêm của tiết Thu phân mưa rã rích, là đang nghe, nghe Quy thủ thỉ, nghe anh ngâm nga, có chỗ thì phảng phất chút men nồng đủ để giọng anh ngất ngưởng, chỗ lại u trầm thâm thuý, lúc thì thương nhớ quắt quay, lúc thì hào sảng đắc ý, lúc già sọm đi vì nỗi ưu tư, lại đôi lúc thấy anh trẻ lại hoặc là cố gượng cười để trẻ lại. Tập bản thảo thơ chưa đặt đề tựa, thứ tự từng bài không hề có chủ đích sắp đặt, toàn tập không biểu hiện một ý đồ tập trung chủ đề gì...Cả tập thơ là một sự ngẫu hứng, là những khúc ngâm tản mạn, khúc ngâm lúc tỉnh lúc say của một con người đã ở sườn dốc cuối thu.
Tôi lắng nghe và đồng cảm với Phan Đăng Quy vì mấy lẽ. Quy cùng trang lứa với tôi. Anh sinh năm Hợi ( 1947), tôi năm Tuất. Nơi sinh của Quy là làng Trương Xá- Cam Hiếu- Cam Lộ, một mảnh đất điển hình của sự đối đầu lịch sử ở Vĩ tuyến 17 này, cũng là vùng quê nặng trĩu kí ức chiến tranh đối với tôi và đã từng ám ảnh, thổn thức trên nhiều trang viết của tôi. Cuộc đời Phan Đăng Quy mới nghe cứ tưởng bình thường hoặc thông thường như nhiều số phận khác, nhưng ai đồng cảm lại nhận ra sự đặc biệt của một kiếp sống. Anh li quê phiêu bạt hàng mấy chục năm, nhưng không phải để kiếm tìm sự đổi thay căn bản, cũng không vì công tác hay do hoàn cảnh bắt buộc nào, đi khỏi đất Cam Lộ nhưng Phan Đăng Quy vẫn làm nông nghiệp, vẫn một kiếp sống thanh bạch thôn dã, anh bước chân đi không vì giấc mộng vàng nơi miền đất hứa, mà thân xuôi vạn lí  trong trạng thái như thể kẻ mộng du...
Những năm tháng ở Sài Gòn và mấy tỉnh miền Tây, Phan Đăng Quy đã trình làng 2 tập thơ. Khắc khoải xuất bản 2003, Những giọt đời xuất bản năm 2005 đều ở Hội Văn học Nghệ thuật Bến tre.
Nay thì, như cái lẽ đời rung rung lá rụng về cội, Quy trở về với con sông Hiếu để làm tròn chữ hiếu với tổ tông ông bà, anh cùng vợ đang ngày đêm phụng dưỡng mẹ già, hương khói trên bàn thờ tổ tiên.
Tôi phải trở về Cam Lộ quê hương`
Chăm sóc mộ phần hương khói tổ tiên
Bên dòng Hiếu Giang những mùa mưa đổ
Trôi chảy vào tôi nỗi nhớ phù sa.
                                            ( Trở về )
Tôi cho rằng, nếu như người làm thơ có rất nhiều con đường để tiếp cận đời sống và cũng nhiều cung bậc, nhiều phương pháp để biểu đạt cảm xúc của riêng họ, thì người cảm thụ thơ cũng có rất nhiều cách để thấu hiểu được nhà thơ. Đọc một tập mới của một nhà thơ đã thành danh mà ta thường hay nói là nhà thơ chuyên nghiệp, người đọc thường săm soi, đối chiếu để xem xem anh ta hôm nay có gì mới, có gì khác so với anh ta hôm nào, cả về tư tưởng lẫn phong cách nghệ thuật. Cái mới ấy có lúc đã đưa nhà thơ vượt lên một tầm vóc cao hơn nhưng cũng không hiếm trường hợp đã hạ anh ta xuống đẳng cấp chân đất. Còn với một tác giả vốn chân đất và đang nguyên rin chân đất kiểu như Phan Đăng Quy, tôi vẫn muốn lắng nghe hơn là đọc, bởi ở những tâm hồn thơ này, chữ nghĩa, ngôn từ không phải là thứ quá quan tâm, tôi muốn biết trong đêm, ở dưới mái nhà dân dã, nơi vùng quê yên ả bên con sông Hiếu xanh trong và lặng lẽ kia, kẻ có tâm hồn đa cảm và đã từng có một cuộc sống phiêu bồng lãng du hơn nửa kiếp người ấy, nay khi chiều tà bóng xế, ngồi tịnh tâm như thiền nơi cội nguồn sinh thành, lòng anh đang ngân lên những nốt thăng trầm thế nào?
Rất nhiều khúc cảm khái ngợi ca. Cảm khái trước anh linh các liệt sĩ thành cổ Quảng Trị bên bờ Thạch Hãn, anh như thẩm thấu được hương hồn họ đang bay bay như thể hương đàn trong câu ca xa xưa ở đất này " Không thơm cũng thể hương đàn / không trong cũng thể nước nguồn Hàn chảy ra"
Khí phách bay bay nguồn hương nhớ
Xương máu hoá dòng thơ tuyệt luân..
                                   ( Hương đàn)
Cảm khái về Bác Hồ, về thi hào Nguyễn Du, về tâm hồn và cốt cách cao cả của cụ bà thân mẫu của Bác:
...Thoi đưa trung hiếu vuông tròn
Võng đưa vinh nhục mỏi mòn mắt xanh
Tảo tần quên tuổi thanh xuân...
                                 ( Bên mộ Bà )
Cũng có nhiều khúc chiêm nghiệm chuyện đời, đạo đời theo triết lí  Khổng tử, Lão tử; cũng nhiều nỗi nhớ bâng quơ những miền quê xa xứ đâu đó trên đường đời lãng du...Cũng có đôi ba chỗ khúc ngâm buông thượt như một tiếng thở dài, thối chí.. Con người ta khi ở tuổi này, trong những đêm thanh vắng, cái sự nghĩ vẩn vơ, nghĩ bao đồng hoặc vài kỉ niệm chẳng đầu chẳng cuối cũng là lẽ thường. Những khúc ngâm thành thơ kiểu ấy là anh tự ngâm cho anh nghe, những lúc như vậy có lẽ Phan Đăng Quy không hề nghĩ đến độc giả....

Kiểu nhân vật dị biệt trong một số tác phẩm văn xuôi đương đại Việt Nam

16/01/2022 lúc 21:41






S





ự tha hóa dẫn đến một thế giới người nghịch dị cả về thể xác lẫn tinh thần, những người không làm chủ được bản thân, những người điên trở thành môtip quen thuộc. Bên cạnh những người bình thường là một thế giới nhân vật kì ảo: hồn ma, các đồ vật, cây cối… tồn tại đan xen bình đẳng. Không có gì là chuẩn mực trong các kiểu nhân vật này.
Nhân vật dị biệt, kì ảo không phải mới xuất hiện trong văn xuôi Việt Nam, nó đã có từ truyền thống của thể loại truyền kỳ, gần đây hơn là các nhân vật dị biệt trong tác phẩm Nam Cao, Vũ Trọng Phụng (Chí Phèo, Thị Nở, Xuân Tóc đỏ). Nhưng từ sau 1986, sự trở lại và nở rộ của kiểu nhân vật này mang một nhãn quan và ý thức khác của người viết. Nhân vật kỳ ảo cũng như các yếu tố kỳ ảo trong truyện truyền kỳ là thế giới mơ mộng, những ước vọng và cả trí tưởng tượng chất phác của người xưa. Nhân vật dị biệt của Nam Cao, Vũ Trọng Phụng hàm chứa cái nhìn nhân đạo cũng như phê phán của nhà văn. Sử dụng phổ biến thủ pháp nghịch dị, giễu nhại trào lộng, trong tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái… xuất hiện hàng loạt các nhân vật dị biệt, kì ảo. Đó là kết quả của quan niệm về hiện thực đa chiều, của một xã hội đảo lộn mọi giá trị, nơi con người phải gánh chịu những “chấn thương” tinh thần từ bên trong.
2.2.1. Nghiên cứu yếu tố hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam qua sự so sánh với văn xuôi Nga Đào Tuấn Ảnh cho rằng: “Trong các tác phẩm của họ (các nhà hậu hiện đại Nga và các nhà văn Việt Nam như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn Bình Phương... - người viết chú thích), không thấy bóng dáng của nhân vật điển hình (…) mang tầm khái quát cho mọi tính cách lớn lao trong đời, mà thay vào là đủ mọi thứ hạng trong nhân gian, đại đa số là đám người u tối, nghịch dị cả về thể xác lẫn tinh thần và khá nhiều người điên” (1). Xây dựng kiểu nhân vật nghịch dị, tác giả không bao hàm thái độ đánh giá về đạo đức, nhân cách hay xem nhân vật như “một con bệnh”. Họ chỉ xem đó như một loại tồn tại vừa trống rỗng vừa vô nghĩa. Điểm nhìn trần thuật trao cho các nhân vật này sẽ đưa đến những cái nhìn khác logic thông thường, những ý nghĩa, những hệ giá trị khác được xác lập đầy bất ngờ và thú vị.
Sự tha hóa của con người dẫn đến một thế giới người nghịch dị về tinh thần và thể xác. Các nhân vật dị biệt cũng có nhiều loại. Hoài (Thiên sứ) chỉ dị biệt về hình dáng, sau “lễ rửa tội năm tiếng đồng hồ” trong phòng tắm ngày chủ nhật là “không bao giờ trở thành đàn bà nữa”, mãi dừng lại ở tuổi mười bốn (“1m, 30kg, đuôi sam”) đến năm hai mươi chín tuổi. Trong Không có vua có cả một gia đình nghịch dị về tâm hồn. Lão Kiền, Cấn, Khảm, Đoài, Khiêm (kẻ có nhân tính nhất trong mấy anh em) là những kẻ méo mó về nhân cách bởi đồng tiền và dục vọng tầm thường nhất. Cũng như vậy, hầu hết các nhân vật trong Người đi vắng (Nguyễn Bình Phương) là những con bệnh về tinh thần. Nỗi ám ảnh tích tụ từ tiền kiếp, qua đất Linh Nham, chảy vào họ. Hoang tưởng bệnh hoạn, điên loạn, tự kỷ ám thị trở thành số mệnh. Con người mục nát, thối rữa về tinh thần từ lâu nhưng không phơi bày lồ lộ như sự thối rữa, nhầy nhụa thân xác của Hoàn nên không phải ai cũng ý thức được tình trạng của mình. Các nhân vật nghịch dị của Hồ Anh Thái là kết quả của phép phóng đại đầy hài hước một vài nét tính cách lập dị, quái đản. Trong Mười lẻ một đêm trí tưởng tượng phóng túng đậm chất Nghìn lẻ một đêm tạo nên họa sĩ Chuối Hột “bốn mươi tám cái xuân xanh là bốn mươi tám mùa cởi mở”, khỏa thân tập yoga khi “cửa mở thông thống” hướng ra sân chung: "gã chống đầu xuống đất hai chân dốc thẳng lên trời, thân người bóng nhẫy trắng lôm lốp như thân chuối. Tất nhiên là chuối hột trổ hoa ở quãng lưng chừng trời". Đó là sở thích quái đản, còn công việc họa sĩ của gã cũng lố bịch không kém: nói tiếng Anh theo kiểu “I like play you”, làm nghệ thuật bằng cách “quăng quật mọi thứ linh tinh ra thành sắp đặt, vẽ mặt bôi hề nhảy nhót hú hét leo cột mỡ thành ra biểu diễn”. Nhân vật Bà mẹ được phóng đại ở cái dâm và tham, “ngửi thấy mùi đàn ông và mùi đất đều chén được". Qua năm lần đò, bắt đầu các cuộc phiêu lưu tình ái bằng câu cửa miệng: “Về làm gì, ở lại đây ngủ cho vui”, bám riết, lùng sục kẻ được yêu nếu hắn ta tìm cách bỏ chạy và mỗi lần bước xuống đò là được thêm một cái nhà. Câu chuyện còn có hai ông giáo sư kiến thức “mãi mãi dừng lại ở trình độ cử nhân bổ túc công nông”. Giáo Sư Một tên Xí nổi danh là nhà văn hóa lớn, về hưu vẫn đi xe con của viện, “ngồi vào xe là tiểu tiện ra ghế êm”, trong hội nghị quốc tế không được mời tham luận vẫn lò dò dép lê lên phát biểu quá thời lượng, tranh giờ của cả một phó thủ tướng Châu Âu, “vục đầu vào ăn” trong bữa tiệc đứng, sở thích đặc biệt là “đái bậy” vào chân nhóm tượng đài công nông khiến dân phường phải “viết thư phàn nàn lên báo thủ đô” và tổ chức bắt quả tang lập biên bản. Giáo Sư Hai tên Khỏa - tiến sĩ viện trưởng, vốn là một kĩ sư hóa chất “sang quản lí khoa học xã hội”, “chập dây thần kinh cười”, hễ cười là không tắt được. Giáo sư sử học “nghiên cứu viết sách giảng dạy lịch sử nước Mĩ và lịch sử Ai Cập là những nơi ông chưa bao giờ đặt chân tới. Thứ ngôn ngữ tệ hại của những vùng đất ấy ông cũng không sử dụng được”, tranh thủ ăn cắp vặt trong các bữa tiệc… (Phòng khách). Kiểu nhân vật nghịch dị do vênh lệch giữa “vai xã hội” và “vai tính cách” này rất phổ biến trong tác phẩm Hồ Anh Thái...
 

"Cảnh Trà - Nhà thơ suốt đời sống miền biên viễn"

16/01/2022 lúc 21:41






K





hoá V Trường bồi dưỡng của Hội nhà văn tổ chức ở Quảng Bá, Hà Nội từ mùa hè năm 1972, có gần 40 nhà văn trẻ từ nhiều tỉnh, thành phố về theo học. Đã được hơn một tháng, hôm ấy chúng tôi được nghe nhà văn Nguyên Hồng giảng trên lớp thì có một học viên nữa xin vào lớp. Anh người thấp đậm, quần áo lấm bụi đường vai đeo chiếc túi dết. Đó là nhà thơ trẻ Cảnh Trà, công tác ở đặc khu Vĩnh Linh. Phụ trách khóa bồi dưỡng là nhà văn Nguyên Hồng và nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh. Lớp học tạm dừng vài phút, hai ông tiếp nhận Cảnh Trà, và cũng có hỏi anh giấy giới thiệu của địa phương cùng lý do đến học muộn. Cảnh Trà thưa, anh phải đi bộ từ Vĩnh Linh ra, lại đúng thời kỳ không lực Mỹ tăng cường đánh phá dữ dội hơn trước nhiều lần, đến mức máy bay B52 ném bom rải thảm ra cả vùng Hàm Rồng, Thanh Hóa, nhiều chặng phải vòng lên miền tây, đi theo đường chiến lược 1B, nên thời gian đi đường kéo dài thêm quá nhiều. Thay cho việc trình giấy tờ, Cảnh Trà trật túi dết khỏi vai, vạch áo cho lộ bờ vai đỏ tướp máu do quai túi nghiến nhiều ngày. Và không chỉ nhà văn Nguyên Hồng, nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh mà tất cả chúng tôi ở lớp bồi dưỡng viết văn trẻ hôm đó, đã ghi nhận bờ vai bị quai túi nghiến nhiều ngày là lý do chính đáng cho việc anh tới lớp muộn… Đã hơn ba mươi lăm năm qua, đến nay, suy ngẫm để viết về đời và thơ Cảnh Trà, chúng tôi bỗng nhớ lại cái buổi đầu tiên gặp anh ở Quảng Bá mùa hè năm 1972 ấy. Một Cảnh Trà chân chất và nhiều khổ nhọc.
Cảnh Trà sinh năm 1937 tại quê hương Nam Hoành, Nam Đàn, Nghệ An. Năm 16 tuổi anh vào bộ đội chống Pháp, chiến đấu mấy năm liền trên chiến trường Bình Trị Thiên. Thời gian ở bộ đội, Cảnh Trà đã hay làm ca dao, hò vè, thứ ca dao, hò vè đầm đậm và chất phác của miền Trung. Sau đó, anh làm thơ cổ động bộ đội, nhân dân những nơi đơn vị đóng quân. Trong thơ ca Việt Nam hiện đại, có một chặng ngắn xuất hiện những bài thơ trên báo tường của các đơn vị bộ đội những năm cuối cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp và những năm đầu hòa bình lập lại. Một số sách báo có ghi nhận phong trào này, gọi là Thơ đại đội. Từ phong trào đó, Cảnh Trà được chọn về làm công tác văn hóa thông tin của đặc khu Vĩnh Linh, năm 1960. Nửa nước phía Bắc tạm thời có cuộc sống hòa bình vài năm, nhưng duy nhất ở miền Bắc, Vĩnh Linh bên bờ dòng sông Bến Hải giới tuyến, là điểm nóng bỏng nhất trên nước Việt Nam ta. Để sống được nơi đây, ngoài lòng dũng cảm, người ta phải thật sự tin yêu cuộc đời, lòng tin yêu đó thể hiện rất cụ thể qua tình thương yêu, đùm bọc nhau, thương yêu làng quê, xóm mạc ruộng vườn… Với Cảnh Trà, lòng tin yêu cuộc đời còn được anh thể hiện qua những bài thơ. Anh là một trong những nhà thơ xuất hiện giai đoạn đầu thời chống Mỹ cứu nước. Thời ấy, không ai nói đến Vĩnh Linh mà không nói đến đạn bom kẻ thù dội xuống, đủ các loại bom. Bình quân mỗi đầu người phải chịu ba, bốn trăm quả bom! Thơ Cảnh Trà, vừa tỏ rõ ý chí con người Vĩnh Linh, vừa là sự kìm nén kín đáo trong lòng nỗi gian khổ vô bờ bến:
Trên đất này
Chờ bom dứt là điều mơ mộng
Tất cả đều là trong báo động
Tất cả như là trong báo yên…
Kẻ thù đã bằng mọi cách, muốn xóa trắng Vĩnh Linh đi. Vĩnh Linh phải bám trụ, để sống và đánh lại. Con người phải sống, và còn phải cho đất giới tuyến này có sự sống. Chẳng hạn đồng ruộng phải sống được, phải đơm bông kết hạt. Ruộng lúa chín rục bên một chiếc cầu tre, mà bom vẫn không hề ngớt. Cảnh huống cuộc sống này thành thơ Cảnh Trà: Đêm đêm lòng người đau nhức/ Thương hạt lúa mình giặc giết bên cầu tre… tình thương ấy khiến năm anh, chị dân quân đêm khuya đi gặt lúa dưới ánh sao. Đêm ấy, bom đạn giặc giết cả năm anh, chị. Nhưng đêm sau năm dân quân khác lại: Tay vằng tay hái/ Băng ánh sao khuya/ Xuống chân ruộng bên cầu tre gặt dở… Đó là hình ảnh chân thực, cụ thể về con người trong cuộc giành giật vô cùng quyết liệt, để được sống; và nó chất chứa sự hy sinh vô tận của người Việt Nam ta cho chủ quyền của một phần đất nước nhiều máu lửa và đau thương. Không đâu như Vĩnh Linh vẻ đẹp của đất trời, con người được tiếp nhận một cách hiếm hoi, như phải gạn lọc từ rất nhiều cực nhọc mới có được. Khi ban đêm, trên một lối mòn: Trăng đã lên đèn trong từng bụi cỏ. Và khi thấy một bầy chim sẻ trên quê hương quá nhiều khói lửa:...
 
 
 

"Cao Hạnh - Gửi thương nhớ vào giấc mơ"

16/01/2022 lúc 21:41












Tôi bước vào văn chương một cách tự nhiên như định mệnh’’ Nhà văn Cao Hạnh đã từng tâm sự như thế. Trong suốt thời gian dài cầm bút Cao Hạnh viết rất nhiều thể loại khác nhau và sớm có được những tác phẩm thành công đặt dấu ấn riêng trên mỗi chặng đường sáng tác, hòa chung vào dòng chảy văn học nước nhà thời kì đổi mới.
Với Cao Hạnh cuộc sống và sự chiêm nghiệm những khoảnh khắc con người đang trải qua nỗi đau, hạnh phúc, nụ cười đã trở thành mạch nguồn cho quá trình sáng tạo. Đồng thời, thiên nhiên cảnh sắc đất trời cũng là động lực thôi thúc nhà thơ đi và viết. Những yếu tố ấy như vị xúc tác hòa trộn cho thơ  Cao Hạnh bay bổng tuôn trào. Đặc biệt khi đọc những bài thơ trong tập “Giấc mơ màu cỏ’’  bắt gặp lời lẽ giản dị, chân thành tạo nên sợi chỉ xuyên suốt các sáng tác của nhà thơ. Nó góp phần đưa tác giả và người đọc xích lại gần nhau hơn. Họ cảm nhận những gì tác giả viết đang hiện hữu bên cạnh họ mỗi ngày. Bởi vì nhà thơ viết ra với chính những xúc cảm của mình mà không quá huyễn hoặc hay lý tưởng. Tất cả đều gần gũi thiết tha. Giấc mơ màu cỏ là những cung bậc tình cảm khác nhau. Nó in dấu tuổi thơ, kỉ niệm, tình yêu, quê hương, những triết lý về cuộc sống cùng đan quyện lắng lại trong tim thi nhân đến khi cảm xúc ùa về sẽ thăng hoa rung bật thành thơ. Dẫu rằng, những gì tác giả viết ra có thể chỉ tồn tại trong mơ nhưng giấc mơ ấy đầy thơ và nhạc tươi mát hiền hòa như màu xanh hoa cỏ. Vì Cao Hạnh sống và mong muốn cống hiến hết mình cho văn chương, dù cho:
Cuộc đời lắm nỗi đa mang
Ta như chiếc lá nửa vàng nửa xanh
Nửa vàng thì cứ vàng dần
Chút xanh còn lại vẫn xanh hết mình
                                                  ( Ngẫm )
Bên trong nhà thơ luôn  đau đáu một nỗi niềm cho nghiệp viết:
Thơ hay tự nó sống .Thơ dở tự nó chết
Riêng nhà thơ dở sống dở chết
                      (Khai từ cho tập thơ)
Khi một tác phẩm văn chương ra đời sẽ tự tách ra khỏi chủ thể sáng tạo. Người phán quyết cuối cùng cho sự tồn tại một tác phẩm chính ở người đọc chứ không ở tác giả của nó. Đồng thời, cùng với sự sàng lọc giá trị tác phẩm qua thời gian. Vì vậy người viết phải có tâm, không nguôi trăn trở trước hiện thực muôn màu. Và càng cần hơn trong xã hội ngày nay vốn  có quá nhiều biến động, đổi thay. Nó thôi thúc người nghệ sĩ phải suy nghiệm, phải Tự vấn chính mình để từ đó có thái độ sống đúng mực trước cuộc đời. Xứng đáng là nguời cầm bút của thời đại:
Tôi là ai?
Mỗi lần tự vấn
Nỗi dày vò xoáy riết tâm tư
....................
Tôi  là ai?
Một nửa tôi bay ở phía chân trời
Một nửa tôi neo vào trong cát bụi
Hai nửa cuộc đời nhập lại
Để thành tôi trong một kiếp CON - NGƯỜI .
                                         (Tự vấn )
Trước sự phân vân ấy nhà thơ lãng du tìm kiếm trên mọi nẻo đường mình đến và đặt chân qua. Nhưng chỉ thấy:
Trên trời cánh chim đơn lẻ
Biết bầy hạ cánh về đâu
Con cá say đời đớp mảnh trăng ngâu
Ngọn sóng mang giấc mơ ném vào bờ cạn
                                                              ( Đi )...
 
 
 
 
 
 

Hiện thực chiến tranh và số phận người lính trong truyện ngắn của Văn Xương

16/01/2022 lúc 21:41






T





rở về từ chiến trường biên giới phía Bắc, Văn Xương làm cán bộ dân sự, vì thế anh rất có lợi thế là được đi nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều ngành, nhiều tầng lớp nên anh hiểu sâu sắc đời sống, tâm tư người lao động, đặc biệt là những người lính trở về sau chiến tranh. Bên cạnh đó, kí ức, di họa của chiến tranh luôn ám ảnh không nguôi, lèn chặt trong anh. Sống trên mảnh đất một thời máu lửa, khốc liệt nhất của đất nước, và những gì anh được kinh trải đã thôi thúc anh cầm bút. Cũng như nhiều nhà văn khác, trước tiên anh dè dặt thử bút bằng những truyện ngắn như Một thời kỷ niệm, Hoa gạo đỏ bên sông, Huyền thoại một con đường, Nơi gặp gỡ của số phận.. sau này anh tập hợp lại thành tập truyện ngắn Hoa gạo đỏ bên sông (NXB Hội Nhà văn, 2006). Những truyện ngắn này gây sự chú ý đến độc giả, được bạn đọc quan tâm, bởi sự giàu có về vốn sống, sự trải nghiệm, những hiểu biết cặn kẽ, am tường về con người, vùng đất, chiến trường và người lính nơi mảnh đất anh sinh thành bằng giọng điệu nhẹ nhàng, chân chất và mộc mạc. Anh đã có lần tâm sự: Tập truyện ngắn Hoa gạo đỏ bên sông ra đời từ sự đòi hỏi của đời sống chiến tranh, và những hiện thực dồn nén choán chật tâm hồn buộc phải tìm cách viết ra những trang văn nóng hổi về cuộc chiến, về người lính.
 Hoà tấu cùng nguồn mạch ấy, Văn Xương tiếp tục ra mắt bạn đọc tập truyện ngắn Hồn trầm. Qua đó, chứng tỏ được trường lực thẩm mĩ của mình. Với vốn sống dồi dào, bút lực mạnh mẽ đã thể hiện được phẩm chất, “nội lực” của người viết truyện ngắn, biết tự làm chủ vốn liếng của mình và khai thác, chọn lọc, đầu tư một cách đúng mức trong việc thể hiện hiện thực chiến tranh và người lính. Văn Xương từng thể hiện quan niệm của mình thông qua lời kể chuyện của nhân vật trung tâm trong Hoài vọng: “Đi tìm một ý tưởng mới lạ, sáng tạo để tránh những lối mòn cũ; dám vượt qua những vùng nhạy cảm, cố hữu để nhìn nhận một cách tường tận, toàn diện, chân thực về chiến tranh?!”.
            Như thế trên hành trình sáng tạo của Văn xương, đề tài chiến tranh và người lính được anh dành sự quan tâm đặc biệt. Thực ra, đề tài chiến tranh được các nhà truyện ngắn đương đại quan tâm. Chiến tranh luôn gắn liền với số phận đau thương của dân tộc, là nơi gửi gắm tâm sự của những người cầm súng đã từng chứng kiến bao sự hi sinh của đồng đội, đồng bào, và cũng là nguồn cho thế hệ sau tiếp tục khai vỡ. Chiến tranh như một nỗi ám ảnh, một vết thương rỉ máu, khó lành, và thế giới hiện đại vẫn đang từng giờ, từng ngày nóng bỏng cuộc chiến giữa các sắc tộc. Với tài năng, bản lĩnh và cá tính sáng tạo Văn Xương đã tự xây dựng cho mình một phong cách nghệ thuật với những nét độc đáo riêng trong việc phản ánh hiện thực chiến tranh và số phận người lính.
Là một nhà văn trong cuộc, một nhân chứng bước ra từ cuộc chiến, Văn Xương nhìn chiến tranh không chỉ bằng những tấm huy chương, những bản anh hùng ca... Chiến tranh hiện lên với tất cả sự tàn khốc, sự bi thảm, sự ghê rợn, hãi hùng... nữa. Nó không chỉ bi tráng, bi hùng, mà còn là bi thảm... Qua truyện ngắn, Văn Xương đã tái hiện những gì khốc liệt nhất, đau thương, tối tăm nhất của chiến tranh đều được phơi bày một cách trầm trụi, thẳng thắn và nhiều gai góc.
Với đời người, tuổi trẻ mãi là quá khứ, hoài niệm đẹp. Trong hoàn cảnh có chiến tranh, thật tự nhiên và không suy tính, những chàng trai, cô gái thanh xuân ở những làng quê như Long (Hoài vọng) Minh (Chuyện già bản Tà Thiêng), Vinh (Cây Lộc Vừng), Tùng (Lung linh sóng nước), Dũng(Đối mặt với thời gian)... tình nguyện lên đường nhập ngũ. Nhưng chiến tranh có sự nghiệt ngã riêng của nó. Những người lính trực tiếp đối diện với nó trở thành nạn nhân đầu tiên. Nó cuốn theo hàng vạn sinh linh. Chiến tranh hiện hình qua cái chết những người lính trẻ đầy thương tâm: “Nhiều người bị ném lên khung trung, xé tướp ra từng mảnh, bám đầy cỏ rác, bụi bặm, vùi dập vào những đống đất, đá, gạch vụn; nhiều người bị nướng cháy nham nhở dưới chiến hào, công sự hay quằn qoại chết vì trúng những mảnh bom, pháo”, “Một số người tử trận, thi thể đầm đìa máu. Tiếng kêu la quằn lại, đau đớn của người bị thương”. Nhiều khi cả trung đoàn, tiểu đội chỉ sót lại một vài người: “Tiểu đội Minh bị rơi vào ổ phục kích của địch. Sáu người hi sinh. Minh và năm người còn lại sa vào tay địch. Chúng đánh đập hết sức giả man”...
 
 
 

Quảng Trị và tôi

16/01/2022 lúc 21:41






N





ăm nay, tròn 35 năm ngày thống nhất đất nước. Song với những người lính sinh viên và giáo viên đại học nhập ngũ ngày 06/9/1971, thì niềm vui giải phóng đã đến từ tháng Tư năm 1972 ở Quảng Trị. Họ người thì là lính chiến đấu ở sư đoàn 325. Người thì ở những đơn vị hậu cần, thông tin, công binh phục vụ chiến dịch. Vui nhất là họ đã tụ quần với nhau những ngày đầu giải phóng Quảng Trị. Lúc ấy, tôi bắt đầu tập làm thơ. Bây giờ giở lại cuốn sổ tay ngày đó, mới nhớ rằng mình đã từng làm một bài thơ ngày Quảng Trị giải phóng. Bài thơ tên là: “Ngọn lửa mùa hè”. Bài thơ của một người mới tập làm thơ thật nhiều “lỗi kỹ thuật” nó thực sự chỉ là một trang nhật ký bằng thơ giữa không gian nồng khét khói súng.
NGỌN LỬA MÙA HÈ
 
Anh đi giữa trưa hè thị xã
Nắng biển mặn mà rộn rã vây quanh
Màu áo xanh hòa lẫn sắc lá xanh
Đường phố ngập tràn màu xanh bóng nắng
 
Quê hương ơi! Bao tháng ngày cay đắng
26 năm đã tìm được một ngày
Anh lại trở về từ một buổi chia tay
Chẳng nói nên lời, lệ cười trên mí mắt
 
Mới hôm nao phố phường còn xám ngắt
Đời ngậm ngùi, nhức nhói vết giày đinh
Đạp lên những chi khu, căn cứ địch
Anh mang nắng về gọi đất mẹ hồi sinh
Nắng trưa hè ngời thép súng lung linh
Nắng tỏa từ ngực anh ban trưa thêm sắc lửa
Nắng tìm về tận ngõ sâu, phố đổ
Giữa bộn bề anh có thấy tương lai
 
Lửa bén bùng đỏ thắm sắc cờ bay
Từ Cổ Thành lửa chia về mọi ngả
Mang hồn lửa cầu vồng từ ngọn súng tay ai
Lửa học trò phượng nghiêng nghiêng cửa sổ
 
Lửa tình yêu nhóm nhen từ lửa hoa
Cùng lửa cờ múa reo cùng lửa nắng
Bừng cháy giữa miền đất đại chiến thắng
Ngọn lửa mùa hè ấp ủ tự bao năm
 
Và trưa nay đang cùng anh hành quân…
Bài thơ đầy lạc quan. Nhưng sự thực của “Mùa hè đỏ lửa” diễn ra sau đó khốc liệt đến nỗi không thể tưởng tượng nổi. Quảng Trị thành nơi tranh chấp đẫm máu giữa hai bên liên quan tới Hội Nghị Paris đang đi tới quyết định ngừng bắn, lập lại hòa bình tại Việt Nam. Và cuối cùng thì sông Thạch Hãn trở thành giới tuyến tạm thời từ năm 1972 đến năm 1975.
Sau ngày thống nhất đất nước, đầu năm 1977, đơn vị tôi được cử ra Quảng Trị để xây dựng đường dây quân sự nối thông từ Quảng Bình đến Phú Bài (Huế). Những ngày mưa ẩm ướt của mùa xuân 1977, tôi mới có dịp chứng kiến lại những tàn phá, đổ nát của “mùa hè đỏ lửa” 1972 mà khi ấy, hầu như vẫn còn nguyên hiện trạng giữa một cuộc sống mới bắt đầu nhú mầm hồi sinh. Những chiều lang thang bên bờ sông Thạch Hãn thật buồn. Luôn luôn có cảm giác bước chân mình đang chạm vào anh linh những người đã hy sinh ở Cổ Thành nhiều đến mức không sao đếm xiết. Vậy là bài thơ “Nhớ nắng” đã từng được in trên tạp chí “Văn nghệ Bình - Trị - Thiên”...
 
 
 

Ký ức nằm vùng

16/01/2022 lúc 21:41






Ô





ng năm nay vào tuổi tám mươi. Tên ông là Lê Văn Hoan. Mười sáu tuổi vào dân quân, rồi bộ đội. Đảng viên khi chưa đủ tuổi 18. Hoạt động ở vùng tạm bị chiếm (quê ông, tỉnh Quảng Trị, bị Pháp chiếm đóng từ đầu năm 1947). Tháng 7 năm 1954, thi hành Hiệp định Genève, bộ đội, cán bộ ta ở phía Nam vĩ tuyến 17 tập kết ra Bắc. Ông được phân công ở lại, “sinh sống làm ăn như mọi người dân bình thường”. Và ông đã ở lại, đã công tác suốt ba mươi năm, từ 1954 cho đến khi nước nhà thống nhất. Ba mươi năm bám trụ dải đất hẹp miền Trung, trừ mấy lần được cấp trên đưa ra miền Bắc học tập, chữa bệnh ngắn hạn.
Quá nhiều người ở làng quê ông biết mặt, thuộc họ tên, gia đình tung tích Việt cộng Lê Văn Hoan, tên thật là Lê Đình Mỵ. Ông bị đối phương săn lùng dữ dội, ngay từ đợt tố cộng đợt 1. Tỉnh Quảng Trị, phần từ phía Nam sông Bến Hải trở vào đến sông Mỹ Chánh, năm 1954 có 8400 đảng viên ở lại sinh sống với gia đình. Sau hai năm, đến cuối 1956 còn lại 506 người, kể cả đồng bằng và vùng núi. 7900 đồng chí đã hy sinh hoặc bị bị bắt bớ, đày ải vào các nhà tù. Năm 1958, Lê Văn Hoan được điều về huyện Hải Lăng làm Phó Bí thư, thì cơ quan huyện ủy lúc này chỉ còn lại bí thư và mỗi một huyện ủy viên.
Cộng thêm bom đạn chiến tranh ở mặt đất và từ trên không, kể cả bom ném từ máy bay B52 của Mỹ. Tháng 8 năm 1965, tỉnh Quảng Trị họp đại hội tại Ba Lòng, chiến khu cũ thời chống Pháp. Ngày 13-8-1965, Mỹ cho máy bay B52 ném bom rải thảm. Bom rơi xuống sông, “cá chết trắng cả khúc sông, trôi theo dòng về xuôi” (tr. 190, Hồi ký Đất quê hương, Nxb Thuận Hóa 2009). Ông được bầu vào tỉnh ủy, trở về địa bàn của mình, làm Bí thư thị xã.
Lê Văn Hoan viết: “Sống và chết, chết và sống đã trở thành quen thuộc với chúng tôi. Chúng tôi xem thường cái chết và đã quên nó đi, bất cần nghĩ đến. Sống thì công tác, hoạt động, và chết cũng vậy thôi, đồng đội chết nhiều rồi, đồng chí đồng bào đã chết quá nhiều rồi. Bây giờ đến lượt anh, có sao đâu. Tất nhiên, mỗi lần có đồng đội hy sinh, cũng làm cho bản thân tôi chùng lại, nỗi buồn như đám mây đen qua bầu trời. Nhưng rồi công việc và cuộc sống lại cuốn hút đi…”.
Trong hoàn cảnh khắc nghiệt ấy, may mắn sao ông vẫn lành lặn cho đến ngày hòa bình. Ông bảo tại số mình gặp may nhiều lần “trúng số độc đắc”, thoát chết gang tấc trong khi đồng đội hy sinh cùng lúc. Tuy nhiên, cái bí quyết giúp ông tồn tại là bám chắc vào dân. Ông khẳng định: Sống trong và hoạt động trong lòng địch, phải bám vào dân, càng ở sát nơi trọng yếu của địch, chúng càng ít ngờ, ta càng có nhiều cơ may không bị lộ, thoát chết để làm việc. Đó là bài học sống còn của Lê Văn Hoan.
Cuốn Hồi ký này không nhằm kể lể công lao, những đóng góp đương nhiên không đến nỗi quá nhỏ bé của một cán bộ suốt đời lăn lộn với phong trào. Nó chủ yếu tôn vinh và tạ ơn sâu của đồng bào, liệt sĩ ân nhân đã cưu mang đùm bọc cán bộ, “cảm ơn bạn hữu, đồng đội đã gánh chịu hy sinh mất mát cho tôi được sống đến ngày hôm nay” – ông viết từ những dòng đầu. Và quả là ông không hề quên một ai trong tổng số 69 gia đình cơ sở đã nuôi sống và tận tình giúp đỡ ông trong 30 năm. Họ mở rộng vòng tay cưu mang cán bộ trong khi cầm chắc rồi mình sẽ mang tai họa, gánh chịu tra tấn, tù đày, tan cửa nát nhà, thậm chí cái chết nếu chẳng may bị lộ.
Tác giả rành rọt kể nhiều kỷ niệm. Ông nhớ kỹ, bởi ông không quên ơn ai. Sau ngày thắng lợi, ông nhiều lần tìm về chốn cũ thăm người còn, thắp nén hương tưởng người quá cố. “Đó là gia đình bà Trần Thùy, gọi là Dật ở thôn Đại Nại, ngay từ năm 1954, hiệp định ký chưa ráo mực, kẻ thù đã trở mặt phá hoại. Tôi bị săn lùng. Gia đình bác Dật đã mở rộng tấm lòng đón tôi, dành cho tôi những gì quý báu nhất từ lậm (lẫm) lúa, cái sạp đựng đồ đạc… Bác đã phá cái lậm, làm thành hai ngăn, cho tôi có nơi ở an toàn. Đâu chỉ đơn thuần trốn tránh, mà đi về thất thường, cơm ăn nước uống và trăm sự phiền hà…” (tr. 139)...
 
 
 

Hợp tuyển thơ văn nặng tình đất nước, thắm lời non sông

16/01/2022 lúc 21:41






T





rong mối tương quan giữa cái chung và cái cá biệt, thơ văn của các thành viên Câu lạc bộ Đường 9 là yếu tố nghệ thuật chủ yếu làm nên sự thi vị của một tổ chức chính trị-xã hội tập hợp những cán bộ trung, cao cấp của Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang khi đã nghỉ hưu. Gắn thơ văn với lương tri và những con người có mối quan hệ trực tiếp với sự phát triển của lịch sử, quê hương, đất nước, những trang viết của hợp tuyển “Đường 9 xanh” tập XI là một ấn phẩm kỷ niệm hai mươi năm lập lại tỉnh Quảng Trị đồng thời kỷ niệm hai mươi năm thành lập Câu lạc bộ Đường 9. Một lần nữa, sự ra đời của “Đường 9 xanh” làm ngạc nhiên người đọc bởi nhiệt hứng sáng tác của các bậc lão thành cách mạng, những anh hùng, cán bộ tiền khởi nghĩa tuổi cao chí khí càng cao với tâm hồn trong trắng đã ban lộc/ lòng dạ trung thành đất thưởng xuân/ tuổi thọ càng cao càng mến Đảng/ hồn thơ mãi thắm mãi yêu dân (Đỗ Đình Phong).
"Nghệ  thuật mang lại niềm vui lớn cho con người và nâng cao tâm hồn họ", những tứ thơ, ý văn trong “Đường 9 xanh” tập XI chứng minh điều đó. Bởi lẽ, xuất hiện với tư cách là chủ thể  sáng tạo, các tác giả của mỗi bài thơ, ghi chép, hồi ký... trong Đường 9 xanh tập XI là những con người từng dũng cảm chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc mà tính theo tháng, năm thì nay tuổi đã cao, sức đã già nên lao động nghệ thuật càng lắm công phu. Nhưng ý thức về cái đẹp của sự cống hiến, lý tưởng và ý nghĩa xã hội của thế hệ người cao tuổi sống vui, sống khỏe, sống có ích đã gây hứng khởi và tạo ra cảm xúc chủ quan của người làm thơ: Chín chục mùa xuân của tuổi đời/ sáu mươi tuổi Đảng trọn niềm vui/ tuổi đời tuổi Đảng cùng hòa nhịp/ vui sướng lòng già sống thảnh thơi (Phạm Thế Doãn).
Bao hàm các nội dung có tính nhân văn, được lý tưởng cách mạng soi sáng và mô tả hiện thực trong mối quan hệ với con người là đặc điểm chung của 116 bài thơ, bút ký, ghi chép, hồi ký, xướng họa trong “Đường 9 xanh” tập XI. Được sáng tác bởi những con người có niềm tin cao cả về đạo đức cách mạng, về xã hội và sẵn sàng đấu tranh vì cái đẹp, những tác phẩm này có nội dung nhân văn chủ nghĩa rõ ràng. Nội dung nhân văn ấy sáng tỏ trong hình ảnh những người lính từ tham gia kháng chiến trường kỳ đuổi thực dân Pháp, đánh đế quốc Mỹ vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hòa bình, thống nhất của đất nước đến chung sức lao động xây dựng và phát triển quê hương. Đó là những anh bộ đội cụ Hồ phối hợp chiến đấu đánh giặc Pháp ở thị xã Quảng Trị ra và chợ Cầu vào trong Trận đánh táo bạo của Phạm Thế Doãn, là chiến sĩ giải phóng quân nhạy cảm và tinh tế khi cảm nhận cái đẹp mơ màng trong tĩnh mạc của làng quê Cam Lộ trong bút ký Mảnh đất Cam Lộ và những trang viết của tôi của nhà văn Xuân Đức. Những người lính ấy đã góp phần làm nên cuộc sống bất diệt ở chiến khu Ba Lòng, làm nên chiến thắng Không đánh mà tan ở Hướng Lập và chiến công vẻ vang trên Thành cổ Quảng Trị anh hùng. Để rồi, khi đất nước thái bình, mảnh làng Cam Lộ mãi mãi lấp lánh trong tâm thức tôi như những mảnh trăng, cứ vằng vặc suốt cuộc đời và trong từng trang viết; chiến khu xưa trở thành nỗi nhớ không phai nhạt nắng mưa và chiều Thành cổ nén hương rưng rưng đỏ là cảm hứng sáng tác của những cựu chiến binh từng là đồng đội của lứa tuổi hai mươi bạn hóa thân/ cho đời đẹp mãi những mùa xuân. Một cách giản dị và tự hào, người lính và lý tưởng cách mạng là một chủ đề lớn của “Đường 9 xanh” tập XI. Cuộn vào chủ đề lý tưởng có những người lính đã ngả xuống trên tuyến đường xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước yên nghỉ đời đời ở nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, những người lính làm nên dòng sông hoa đỏ trong tám mươi mốt ngày đêm giữ vững Thành cổ Quảng Trị...
Gắn liền hình ảnh người lính trong kháng chiến trường kỳ  cũng như khi đã trở thành cựu chiến binh là ý thức học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Trong hợp tuyển Đường 9 xanh tập XI, ý thức suốt đời làm theo lời Bác bao trùm lên mọi tác giả. Nếu tác giả Lê Văn Phú khắc ghi lời dạy của Bác về cội nguồn của dân tộc và bền chí học tập gương rèn luyện, tu dưỡng của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì tác giả Trần Căn có niềm vui đặc biệt sâu sắc khi hiểu con đường Bác chọn là tự do, độc lập- rạng ngời soi. Bên cạnh tác giả Hoàng Phùng nghiền ngẫm từng lời Bác dạy sắt son/ việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm/ việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh là tác giả Nguyễn Đằng nhớ mãi lần gặp Bác và tác giả Phạm Công Bằng khắc sâu lòng biết ơn non nước ơn Người chữ quang vinh. Cùng tinh thần đó, tác giả Nguyễn Thanh học Bác vì dân, vì nước, đời Người trọn và đưa tay hái lá rau nhớ bữa cơm Bác Hồ đạm bạc/ bỏ chân vào dép sực nhớ Bác giản dị liêm chính kiệm cần/ nhớ gói cơm Người mang theo trên đường đi công tác học đức yêu nước thương dân...
 
 
 

Một số vấn đề bản quyền tác phẩm mỹ thuật

16/01/2022 lúc 21:41












 bài viết này chúng tôi không có tham vọng đề cập đến nhiều khía cạnh chuyên môn sâu mà chỉ đặt ra một số vấn đề cần lưu tâm. Đó là một số khái niệm ở lĩnh vực bản quyền tác giả mỹ thuật chưa chuẩn; tình trạng xâm hại là phổ biến nhưng chưa có giải pháp ngăn chặn hữu hiệu; tác phẩm mỹ thuật Việt Nam đã thích ứng với chơ chế thị trường chưa, có thì thích ứng ở mức độ nào; vấn đề quản lý tập thể bản quyền tác giả và cuối cùng là giải pháp cho những vấn đề chúng ta đang quan tâm.
Quy định pháp luật về quyền tác giả - một số khái niệm chưa chuẩn
Các quy định pháp luật về quyền tác giả đã đóng vai trò tích cực thúc đẩy các hoạt động sáng tạo nghệ thuật, khuyến khích, động viên ngành mỹ thuật nghiên cứu, sáng tạo ra các giá trị nghệ thuật đích thực. Nhiều cuộc triển lãm, các trại sáng tác mỹ thuật của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Trung ương, Hội Mỹ thuật Việt Nam, Hội văn nghệ địa phương đã được tổ chức, tạo điều kiện cho hoạ sĩ phát huy nặng lực sáng tạo ra nhiều tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng, tính nhân bản, nhân văn sâu sắc. Các chính sách đầu tư chiều sâu cho hoạt động mỹ thuật, tài trợ, đặt hàng của nhà nước đã góp phần tạo ra cơ chế đồng bộ thúc đẩy hoạt động sáng tạo. Các giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng Nhà nước đã được trao tặng cho những cá nhân có nhiều sáng tạo trong lĩnh vực mỹ thuật là sự tôn vinh của Đảng và Nhà nước, thúc đẩy phong trào nghiên cứu, sáng tác, tạo ra các giá trị mới về nghệ thuật.
Các quy định pháp luật về quyền tác giả đã bảo vệ lợi ích hợp pháp của người sáng tạo, nhà sử dụng, kinh doanh tác phẩm và công chúng hưởng thụ tác phẩm mỹ thuật. Nhìn chung, các quyền cơ bản của tác giả đã được tôn trọng, từ quyền đặt tên cho tác phẩm và đứng tên trên tác phẩm do mình sáng tạo, quyền công bố, phổ biến tác phẩm; cho hoặc không cho người khác sử dụng tác phẩm, bảo vệ sự toàn vẹn tác phẩm, đến quyền được hưởng nhuận bút, thù lao, và lợi ích vật chất khác do việc sử dụng tác phẩm mỹ thuật để xuất bản, trưng bày, triển lãm. Những tác giả, chủ sở hữu tác phẩm có nhu cầu đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền tác giả được cơ quan nhà nước có thẩm quyền tạo điều kiện thuận lợi. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện công việc bảo hộ quyền tác giả đã được định hình, nhưng chưa được hoàn thiện, cụ thể hoá phù hợp với lĩnh vực mỹ thuật. Một số khái niệm chưa chuẩn và không hợp lý, gây ái ngại cho các hoạ sĩ khi muốn đăng ký bản quyền tác giả, ví dụ:
Tại khoản 3, điều 3, công ước Berne quy định: “Tác phẩm đã công bố là những tác phẩm đã được phát hành với sự đồng ý của tác giả, không phân biệt phương pháp cấu tạo các bản sao, miễn là sự ra đời của các bản đó đáp ứng nhu cầu hợp lý của công chúng, tuỳ theo bản chất của tác phẩm. Trình diễn một tác phẩm sân khấu, trình chiếu tác phẩm điện ảnh, đọc trước công chúng một tác phẩm văn học, phát thanh hay truyền hình một tác phẩm văn học nghệ thuật, triển lãm một tác phẩm nghệ thuật hay xây dựng một tác phẩm kiến trúc không được coi là công bố”.
Văn bản pháp luật về quyền tác giả ở Việt Nam cũng dựa trên cơ sở này. Vì vậy, trong tờ khai đăng ký quyền tác giả có mục tác phẩm công bố hoặc chưa công bố đối với tác phẩm mỹ thuật, không phải thông qua việc triển lãm, mà phải hiểu là tác phẩm mỹ thuật được chụp qua ảnh, in trên tạp chí, sách, báo, vựng tập… sự ra đời của các bản đó đáp ứng nhu cầu của công chúng, mới được gọi là tác phẩm mỹ thuật đã công bố.
Việc hệ thống văn bản pháp quy chưa đáp ứng được yêu cầu bảo hộ quyền tác giả không phải là vấn đề mới mẻ, và đã được không chỉ các chủ sở hữu mà cả các cơ quan quản lý cũng nêu ra nhiều lần. Sự thiếu rõ ràng về khái niệm (như tác phẩm; tác giả - chủ sở hữu; công bố, phổ biến…), về hệ thống quyền tinh thần và quyền tài sản (quyền cho phép hoặc không cho phép sử dụng tác phẩm, độc quyền sử dụng tác phẩm) là những yếu tố gây ảnh hưởng đến hiệu quả bảo hộ quyền tác giả.
Quyền tác giả mỹ thuật đang bị xâm hại...
 
 
 

Thơ Xuân Lợi - Tiếng quê vọng giữa thị thành

16/01/2022 lúc 21:41






N





gười ta bảo làng tôi, làng Hà Thượng có nước đất văn quả là không ngoa!
Tôi với Xuân Lợi là bạn đồng hương, thế nhưng chỉ biết Xuân  Lợi là con người của những con số. Anh hoạt động trong ngành kinh tế kỷ thuật sớm chiều lè kè chiếc máy tính trên tay với những bài trừ cộng nhân chia chứ có biết đâu anh còn là một người thơ. Gần đây thôi, tên anh xuất hiện khá nhiều trên các tạp chí không phải là tin tức bài viết mà lại là thơ ! Những bài thơ bóng mượt với  ngôn từ chân chất mang hồn vía của làng quê xóm mạc đã làm tôi hồ nghi.
            Trời ạ! Xuân Lợi lấy đâu ra thời gian và con chữ để chuốt trau đến độ long lanh như thế! Đó là dòng thơ hợp lưu trên nền thơ dân tộc được làm mới bằng chiều sâu nên hồn cốt của thơ rất quen mà rất lạ!
            Viết cho quê hưong, không dẫm lên lối mòn như một số cây bút khác anh khai thác hiện thực đọng lại bền lâu trong tâm cảm:
Hà thượng làng ơi con đã về đây
Tìm lại dấu xưa chuổi ngày thơ bé
            Hơi ấm nồng trong vòm tơi áo mẹ
            Sắn ủ rau tàu bay gối nhủn sờn vai ...
                                                                 (Tìm về)
Xuân Lợi đã len cảm xúc của mình vào ngõ ngách tâm hồn mới tìm ra hơi ấm tuổi thơ để nương bóng.
            Thiên nhiên trong thơ anh luôn hoà quyện với người nên cái tình và cảnh trong thơ khó nhận ra rạch ròi khiến câu thơ mang nhiều dư vọng:
Da em mùa lá thay màu cũ
 Ngậm ngùi anh lỡ chuyến đò xuôi
                                                    (Thu đổi biếc)
Viết cho quán Giang Châu, anh phác vẽ đôi nét như tranh thuỷ mặc vẫn đưa người đọc đến với không gian diệu ảo phảng phất mùi thiền cô tịch mà thơ mộng.
Ụ đá sần sùi róc rách chơi vơi
Con cá vàng nhởn nhơ bơi lượn
             Khung trời nhỏ sắc màu lấp loáng
Tụ về đây sông suối mây trời
                                                  (Quán Giang Châu )
            Anh đau đáu nỗi lòng khi tình cảm sắt se dành cho người mẹ tảo tần sương nắng
Trên đồng quê váng phèn màu cua gạch. Cái nghèo ám ảnh tuổi thơ để tình mẹ càng nồng sâu ray rứt lòng anh!
Mái lá tranh nghèo
Khói chiều váng vất...
Búng cơm mẹ mớm
 Ngọt ngào ca dao đằm thắm
Che chở hồn tôi gừng cay muối mặn
Cốc nước cầm hơi nhớ tổ chim về...
                                                  (Khúc hát đưa nôi)
Viết cho con trong khuya đêm vắng lặng, anh gởi vào đó ước mơ và niềm tin cho ngày mai tiếp bước anh đi . Câu thơ là tiếng lòng chan chứa tình thương vời vợi nhắn nhủ lời khuyên nhẹ nhàng mà sâu lắng :..
 
 
 

Từ Nguyên Tĩnh và tính vấn đề của truyền thuyết sông Thu Bồn

16/01/2022 lúc 21:41






Ô





ng nhà văn cựu chiến binh Từ Nguyên Tĩnh (tên thật là Lê Văn Tĩnh) thuộc thế hệ đàn anh, có đến mười năm tham gia chiến trận rồi mới trở về học ngành văn cùng một khóa với chúng tôi ở Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1978-1982). Đằng sau cái vẻ ồn ào, sôi nổi, thậm chí tếu táo chuyện trời chuyện biển là cả một sức sáng tạo mãnh liệt, không ngừng nghỉ. Từ ngày ra trường đến nay ông đã in tới hơn chục tập tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ đoản thiên, trường ca, và có đến vài ba giải thưởng của Hội Nhà văn, Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam nữa. Bây giờ thì ông đã nghỉ hưu rồi.
Còn nhớ, gặp lại sau khi ra trường mấy năm, có lần ông “khoe” với chúng tôi rằng mới tham dự trại sáng tác mãi trong Đà Nẵng (được gặp cả các nhà văn Nguyễn Trọng Oánh, Phan Tứ, Nguyên Ngọc….) và dự định sẽ viết một cuốn sách tâm huyết về tiểu đoàn đặc công Lam Sơn - Thanh Hóa trên địa bàn Quảng - Đà. Một phần tư thế kỷ qua đi, mãi gần đây tôi mới nhận được tiểu thuyết Truyền thuyết sông Thu Bồn, thành quả nghệ thuật từ lời hẹn năm nảo năm nào. Tiểu thuyết mà có cả lời trần tình Cùng bạn đọc ba trang, thanh minh thanh nga về quá trình sáng tác. Tôi đọc qua một lượt, thấy nhà văn xứ Thanh thực sự đã thấm được cái hồn cốt con người, cuộc sống, niềm vui nỗi buồn cả một thế hệ đã đi qua chiến tranh và một thời hậu chiến. Thiên tiểu thuyết giàu tính điện ảnh, phác vẽ một thời gian khổ, đầy biến động của đất nước và biết bao số phận con người. Hầu hết các nhân vật ở đây đều chứa chất những nghịch lý, những bi kịch lớn và nhỏ, những trận bão lòng của số phận cá nhân trong cơn lốc xoáy của vận mệnh lịch sử, dân tộc. Tôi muốn viết một bài đọc sách mà cứ khất lần tháng này qua tháng khác. Điều này có lý do bởi mới đọc qua, tôi không mấy hứng thú với những trang ghi chép của nhân vật Thậm về các trận đánh, nó khiến thiên tiểu thuyết lộ diện lối viết tư liệu, dễ sa đà vào định hướng mô tả sự kiện (mà rất có thể nhà văn đã đưa nguyên các bản tin chiến sự còn lưu trữ được). Thế là tôi đã nhắn một dòng tin ngắn gọn tới nhà văn: “Dường như có một khoảng cách giữa dự định và tính hình tượng của nhân vật trong tác phẩm. Có phần lộ đề không?). Thêm nữa, tôi thấy văn bản còn vương khá nhiều lỗi diễn đạt, cả ở phía người viết lẫn khâu biên tập, nhất là sự nhập nhòa ở những lời thoại và lời kể, tả. Rồi tôi nhận được ý kiến nhà văn: “Truyền thuyết sông Thu Bồn, mình tạo ra một số tầng. Cái phần ghi chép là cái cớ cho người ta kéo cái hiện thực đã lùi xa trong quá khứ. Cuộc chiến đấu là một bè để tải các số phận trong câu chuyện của người Quảng làm nên truyền thuyết. Vùng đất Quảng trung dũng thật nhiều điều đặc biệt, nếu khai thác truyền thuyết như nơi khác sẽ không được. Mỹ Sơn, Hội An cũng lướt qua như là sự hiển nhiên trong tiềm thức của các thế hệ người Quảng. Cái chính là họ làm nên truyền thuyết mới trong cuộc chiến tranh yêu nước này. Và họ chưa nguôi chuyện này lại gặp chuyên kia. Chưa xong Pháp lại đụng Mỹ, và dĩ nhiên gặp người Việt xa xứ và con em của kẻ thù. Cái truyền thuyết ấy là gì, trong quá trình nhận chân ra lịch sử? Nguyễn Hữu Sơn, mình viết tiếp cái phần từ tiểu thuyết Cõi người trước đây, nhưng lại mở ra cho số phận của người ngã xuống một dấu hỏi? Có làm tiểu thuyết tư liệu đâu Sơn - 23/5/09”…
Tôi đọc đi đọc lại Truyền thuyết sông Thu Bồn, vẫn gặp lại những ấn tượng ban đầu về khả năng nhà văn đã “tiểu thuyết hóa” được các sự kiện lịch sử, đặc biệt trên phương diện xây dựng nhân vật trong sự ba động của thời cuộc. Về kết cấu, Truyền thuyết sông Thu Bồn mở ra với sự kiện vợ chồng Thậm – Thư nhận được tin con gái Thư An du học bên Mỹ sẽ lấy chồng người Mỹ. Kết thúc thiên tiểu thuyết là việc chàng rể người Mỹ tìm lại xác cha mình trong cuộc chiến trước đây. Người cha đăng lính kia từng bắn trọng thương Thậm (ông thông gia hôm nay) và chính hắn đã bị một đồng đội của ông Thậm kịp thời tiêu diệt (bây giờ cũng có mặt trong ngày vui của đôi trẻ và cùng đi tìm xác người lính Mỹ năm xưa). Tấn bi kịch kết thúc có hậu, một kiểu “khép lại quá khứ” hay là “bước qua lời nguyền” ở tầm quốc gia, dân tộc.
Với 26 chương chính văn và một chương Vĩ thanh, đan xen giữa khung cảnh một thời bom đạn thực chất lại là tấn bi kịch gia đình nối dài tới ba bốn thế hệ, suốt hơn nửa thế kỷ, khởi đầu từ kết thúc chống Pháp (1954), trải qua cuộc trường kỳ chống Mỹ gian khổ đến 1975 và một thời hậu chiến kéo dài tới khoảng cuối thế kỷ XX. Ở đây có sự đối đầu quyết liệt giữa ta và địch, có sự phân hóa ngay trong đội ngũ những người cách mạng (trung kiên như ông Hoan, Tấn, Thậm, Thư và kẻ chiêu hồi như Kham, Nhiễu), có sự phân hóa ngay trong mỗi con người trước hoàn cảnh, tình thế và thời cuộc mỗi ngày mỗi khác (má Nhàn lấy ông Hoan sinh Thư cùng theo cách mạng nhưng sau lại lấy dượng Châu sinh Ly Ly ở phía bên kia; ông Kham là thủ trưởng cũ nhưng lại gặp Thậm khi phải ra trình diện, sau đợt cải tạo đã cùng vợ con đi Mỹ theo diện HO; cô Thư cách mạng nòi nhưng em gái cùng mẹ lại xuôi về lối sống Mỹ và người con gái duy nhất du học bên Mỹ cũng lấy chồng người Mỹ…). Bao nhiêu nhân vật là bấy nhiêu hoàn cảnh, số phận. Có thể nói chính việc xây dựng được hệ thống nhân vật phức tạp với đủ mọi tình huống đã giúp cho ấn tượng về những trang ghi chép tư liệu các trận đánh không quá nặng nề, đủ làm nền cho một thời trận mạc, đồng thời tô đậm thêm tâm thế hoài cảm, phán xét, chiêm nghiệm lại những tháng năm quá khứ.
Từ điểm nhìn của ngày hôm nay, vấn đề số phận cá nhân và cộng đồng đã thực sự trở thành một chủ điểm quan trọng, đạt tới “tính vấn đề” trong Truyền thuyết sông Thu Bồn. Bước sang thời hậu chiến, có khi chính sự đoàn tụ lại vô tình mở rộng, khơi sâu những vết thương lòng: “Ngày giải phóng, gia đình Thư là một bi kịch” (tr.60). Đó là những tấn bi kịch nhỏ trong ngày chiến thắng vĩ đại của cả một dân tộc, cảm thấu cái giá của sự hy sinh với bao lớp người. Bà ngoại Thư nói: “Nhưng mà cái nước mình nó khổ” (tr.21). Ông Hoan từ nơi tù ngục trở về nói với người vợ cũ: “Hoàn cảnh nước mình nó thế. Anh thật có lỗi không đón được mẹ con em, để em khổ mọi bề” (tr.74), rồi phân trần với người chồng sau của vợ: “Không!... Tôi chưa bao giờ phụ bạc với bà ấy cả… Tình cảnh của nước mình… Ông hiểu chớ?” (tr.279), và ông chiêm nghiệm: “Lúc chiến tranh thì mọi người cùng chung kiếp nạn. Bây giờ hòa bình rồi, bi kịch rơi vào từng người” (tr.286). Bản thân ông cũng thấy rõ sự lạc bước và những giới hạn của mình. Sau bao năm ở tù, tinh thần có thừa mà thiếu kiến thức, ý chí có thừa mà lúng túng như gà mắc tóc: “Nghĩ một lúc thấy điều này là phải, điều kia đuối lý. Nghĩ lại hầu như cái gì cũng là đúng… Góp ruộng, ai vào, ai không cho vào. Lấy lao động là chính, để cải tạo con người, thì con người nào không phải lao động” (tr.86), rồi khi khác trăn trở suy tư: “Có phải là vận mạng của dân tộc mà bất hạnh thì kéo theo bao người khác cùng khổ nhục và đắng cay không? Ba không được học nhiều, nhưng nghĩ thì đâu chỉ người học nhiều là có cái phước được nghĩ ngợi mà người ít học không được cái ân huệ ấy” (tr.291)....
 
 

 

Đọc thơ Bác vận dụng truyện Kiều

16/01/2022 lúc 21:41

 






C





hủ tịch Hồ Chí Minh, sinh vào năm Canh Dần (1890), trong một gia đình khoa bảng ven bờ sông Lam thơ mộng, vùng “địa linh nhân kiệt” ở làng Hoàng Trù, (Kim Liên), huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Từ quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh, đi theo đường sông hoặc đường bộ đến quê hương đại thi hào Nguyễn Du, tác giả Truyện Kiều nổi tiếng ở xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh có quảng đường dài độ 27 km. Nơi miền quê xứ Nghệ có câu hát phường vải, phường nón, phường cấy, phường gặt, câu hò điệu ví đò đưa khoan nhặt cùng mái chèo rẽ nước ngược dòng Lam, hầu như người dân lao động ai cũng thuộc một vài câu Kiều của cụ Nguyễn Du để vận dụng trong sinh hoạt văn hóa, văn nghệ thường nhật. Trên mảnh đất xứ Nghệ, nhiều người thuộc lòng Truyện Kiều và sử dụng câu Kiều của Nguyễn Du “chế biến” lại thành thể loại văn học mới như lẩy Kiều, phỏng Kiều, tập Kiều, nhại Kiều, vịnh Kiều: “Bước xuống sông Lam bắt con cá lội/ Trèo lên Hồng Lĩnh hái một trái sim/ Có thương em, anh mới đến đây tìm/ Bây giờ giáp mặt như Kim gặp Kiều.”
Những sinh hoạt văn hóa, văn nghệ trên quê hương xứ Nghệ anh hùng, tạo ra sự yêu mến và thuộc lòng Truyện Kiều của người lao động. Thời bấy giờ, nhiều người dân không biết chữ, nhưng Truyện Kiều đọc thuộc lòng và vận dụng chuyển thể hình thức lẩy Kiều, nhại Kiều trong sinh hoạt ca hát phường nón, phường vải...Từ nhỏ, khi cùng gia đình vào Huế - nơi cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc làm quan - Bác Hồ kính yêu của chúng ta không những yêu mến Truyện Kiều  mà còn là bậc thầy vận dụng thơ Kiều trong giao tiếp hàng ngày. Bác là một trong những người có nhiều đóng góp, phát triển Truyện Kiều sang thể loại văn học vịnh Kiều, lẩy Kiều, nhại Kiều. Bằng hình thức trên, Bác đã tạo ra sự phong phú, sinh động và hấp dẫn, trong khi nói chuyện thời sự, chính trị khô khan người nghe không bị khô cứng.
Đứng trước cảnh nước mất, muôn dân nô lệ lầm than, nhiều phong trào Cần Vương, yêu nước của sĩ phu đứng lên đánh Pháp đều bị chúng dìm trong bể máu. Từ tình yêu Tổ quốc sâu nặng, Bác quyết ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân đánh đuổi quân xâm lược. Biết rằng ra đi là nhớ quê hương, Tổ quốc rất nhiều, nhưng Bác sớm xác định tư tưởng vẫn quyết ra đi. Năm xưa trên bến Nhà Rồng, chàng thanh niên Nguyễn Sinh Cung đã lẩy một câu Kiều tỏ rõ quyết tâm sắt đá:
“Quyết lòng dứt áo ra đi
Gió mây bằng đã đến kỳ dặm khơi”
Bôn ba khắp năm châu bốn biển, suốt thời gian 30 năm đằng đẵng xa Tổ quốc, người thân trong gia đình để tìm đường cứu nước, cứu dân phá xiềng xích nô lệ, Người vẫn nhớ, thuộc và sử dụng vốn ca dao, tục ngữ dân gian, Truyện Kiều trong giao tiếp, sinh hoạt với mọi người. Trong cuốn sách: “Vừa đi đường vừa kể chuyện” của tác giả T. Lan kể rằng: “Khi đi công tác Bác đã đọc cho nghe và dạy cán bộ đi theo học từng đoạn và giải thích ý nghĩa từng câu, từng chữ trong Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm…”
Năm 1914, khi còn bôn ba ở nước ngoài, chưa hiểu biết nhiều về cách mạng, về Đảng và Quốc tế Cộng sản, với tâm hồn đầy nhiệt huyết yêu nước, trong một bức thư gửi tới nhà chí sĩ Phan Chu Trinh, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành phỏng tác câu Kiều ca ngợi cụ Phan:
“Chọc trời, quấy nước tiếng đùng đùng
Phải có kiên cường mới gọi hùng”
Tuy câu thơ của Bác viết theo thể Đường luật, nhưng khi đọc lên mọi người đều nhận ra đó là câu Kiều, được vận dụng khéo léo, vẫn đủ ý nghĩa mà cụ Nguyễn Du dùng miêu tả khí tiết hiên ngang của Từ Hải đứng trước sự đè nén áp bức của triều đình mục nát: “Chọc trời quấy nước mặc dầu/ Dọc ngang nào biết trên đầu có ai”.
Theo nhà sưu tầm, nghiên cứu Truyện Kiều Nguyễn Khắc Bảo, cuốn truyện kể về đồng chí Tổng bí thư Trần Phú, người huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh, là Tổng bí thư đầu tiên của Đảng ta. Nhà văn Sơn Tùng có viết một câu chuyện rất xúc động:  Năm 1930, khi đồng chí Trần Phú ở Liên-Xô về, gặp Bác tại lãnh thổ Trung Quốc. Một hôm vào ban đêm, Bác tỉnh giấc hỏi đồng chí Trần Phú:“…Đồng chí Lý (bí danh của Trần Phú) còn ngủ hay thức giấc rồi”. “Tôi vừa chợt dậy đồng chí ạ!”Trần Phú đáp lời Bác. Bằng một giọng bồi hồi, Bác kể với Trần Phú nghe giấc mộng về quê nhà, mà Người vừa mơ thấy…Bác ngồi yên lặng trên chiếc giường đơn, đôi mắt tinh anh nhìn vào màn đêm huyền bí, sâu thẳm. Ngồi một lúc khá lâu, Bác khe khẽ đọc mấy câu Kiều như để nhắc nhở bản thân:
“ Tình sâu mong trả nghĩa dày
Hoa kia đã chắp cánh này cho chưa
Mối tình đòi đoạn vò tơ
Giấc hương quan luống lần mơ cánh dài
Song sa vò võ phương trời
Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng”
Ngâm mấy câu Kiều để diễn tả nỗi niềm nhớ thương Tổ quốc của những người cộng sản xa xứ. Bác vận dụng rất đúng chỗ, mượn nỗi niềm của nàng Kiều nhớ cố hương để nói lòng mình da diết thương nhớ đồng bào trong nước đang sống cảnh lầm than cực khổ.
Hàng ngày, khi nói chuyện và viết văn, Bác Hồ thường dùng thể loại văn phỏng Kiều, tập Kiều, lẩy Kiều với mục đích giảm sự khô cứng của vấn đề tuyên truyền, làm văn bản buổi nói chuyện thêm sinh động, thu hút người đọc, người nghe hứng thú theo dõi, dễ nắm bắt vấn đề được cử tọa chuyển tải. Năm 1942, Bác từ Trung Quốc về nước, ở tại hang Pắc-Pó chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam đã viết “Bài ca sợi chỉ”, dùng thủ pháp tập Kiều để khích lệ quần chúng đặt niềm tin vào sức mạnh chân chính: “Mạnh gì sợi chỉ cỏn con/ Khuôn thiêng biết có vuông tròn cho chăng”. Từ đó Người kêu gọi các tầng lớp tham gia vào công cuộc cứu nước:
“Yêu nhau xin nhớ lời nhau/ Việt minh hội ấy mau mau phải vào”..
 

Quê hương những cố đô

16/01/2022 lúc 21:41






M





ỗi xứ sở đều có một vẻ đẹp riêng. Mỗi quê hương đều có những nét văn hóa độc đáo mang bản sắc riêng để mỗi con người sinh ra và lớn lên ở đó tự hào và kiêu hãnh. Nhà báo Lý Hạo - Trưởng phòng đối ngoại  Hiệp hội báo chí toàn Trung Quốc, đã rất tự hào khi giới thiệu với chúng tôi về quê hương anh: "Hà Nam là quê hương của những cố đô". Chúng tôi đã đến Hà Nam để rồi mang theo về một nỗi nhớ, một ấn tượng không thể phai mờ về một vùng đất giàu truyền thống văn hóa, nhiều danh lam thắng cảnh, một điểm đến rất hấp dẫn đối với khách du lịch.
         Tỉnh Hà Nam, Trung Quốc nằm trong khu vực Hoa Trung thuộc hạ lưu sông Hoàng Hà. Hà Nam là tỉnh đông dân nhất Trung Quốc: 97 triệu người, cũng là tỉnh có sản lượng lương thực đứng đầu Trung Quốc. Đặc biệt Hà Nam là một trong những cái nôi chính của nền văn minh Hoa Hạ, hình ảnh thu nhỏ của lịch sử văn hóa Trung Quốc. Cả Trung Quốc có bảy cố đô thì Hà Nam đã có đến năm cố đô. Các thành phố của Hà Nam như Trịnh Châu, Lạc Dương, Khai Phong, An Dương, Nam Dương, Thương Khâu và Huyện Tuấn đều là những thành phố lịch sử văn hóa nổi tiếng của Trung Quốc. Cảnh quan thiên nhiên thì có núi Thái Hàng, núi Phục Ngưu, núi Tùng và quần thể núi Đồng Bách và sông Hoàng Hà. Hà Nam đã hình thành hơn 10 tuyến du lịch: Du lịch thành đô, du lịch thắng cảnh sông Hoàng Hà, du lịch Công Phú Thiếu Lâm, du lịch cội nguồn, du lịch Tam Quốc... Điểm du lịch nào cũng rất hấp dẫn. Thành phố nào của Hà Nam đều có lịch sử văn hóa riêng biệt và độc đáo.
            Thành phố Lạc Dương nằm phía Tây tỉnh Hà Nam là một trong bảy cố đô lớn của Trung Quốc. Trong lịch sử đã có 13 triều đại xây dựng kinh đô tại đây với thời gian dài hơn 1.500 năm. Lạc Dương nằm ở khu vực trung lưu sông Hoàng Hà - là vùng đất phì nhiêu nhất của tỉnh Hà Nam, với gần 5000 năm lịch sử. Ở đây có các danh lam thắng cảnh như: Hang động đá Long Môn, núi Bạch Vân, động Kê Quán.
         Thành phố An Dương nằm ở phía Bắc tỉnh Hà Nam. Đây là thành phố lịch sử văn hóa nổi tiếng với hơn 3000 năm lịch sử và cũng là cái nôi của nền văn minh Hoa Hạ. An Dương là một trong bảy cố đô lớn của Trung Quốc được mệnh danh là "Trung Hoa đệ nhất cố đô". An Dương có các tuyến đường sắt nối liền với Bắc Kinh Quảng Châu, có tuyến đường cao tốc Bắc Kinh- Chu Hải, giao thông rất thuận lợi.
         Thành phố Khai Phong nằm bên bờ Nam sông Hoàng Hà phía đông tỉnh Hà Nam. Với 2000 năm lịch sử; Khai Phong là thành phố lịch sử văn hóa nổi tiếng với "Phủ Lệ giả thiên hạ, tự cổ đế Vương Đô".  Từ xưa đây là cố đô của những đế vương. Người Việt Nam và các nước trên thế giới đều đã biết đến Khai Phong qua phim ảnh Trung Quốc với một nhân vật đã trở thành truyền thuyết "Bao Thanh Thiên". Thành phố Khai Phong có nhiều di tích lịch sử nổi tiếng có từ thời nhà Tống như Long Đình, Tháp Sắt, chùa Tướng Quốc, Phồn Tháp, Diên Khánh Quan, Sơn hiệp cam hội quán, Ngũ Vương đài và nhiều danh lam thắng cảnh khác.
         Thành phố Nam Dương nằm ở phía Tây nam tỉnh Hà Nam là một thành phố lịch sử văn hóa nổi tiếng của Trung Quốc. Nam Dương là một trong những cái nôi của nền văn hóa Trung Hoa. Thời Chiến Quốc, nơi đây từng là trung tâm huyện thép nổi tiếng. Thời Đông Hán, nơi này có tên là Nam Đô Đế Hương. Nam Dương có các thắng cảnh nổi tiếng như chùa Y Thánh, chùa Vũ Hầu, Hán Hoa Quản, di chỉ Vương Thành, chùa Huyền Diệu, Cửa Tri Phủ.v.v.
         Thành phố Tín Dương nằm ở phía Nam tỉnh Hà Nam với hơn 8000 năm lịch sử. Thời kỳ Hạ Thương, nơi đây đã thành lập các nước chư hầu và từng được mệnh danh là "Thiên Thừa Chi Quốc". Tín Dương sơn thủy hữu tình, phong cảnh rất đẹp. Khu thắng cảnh núi Kê Công là một trong bốn khu nghỉ mát lớn của Trung Quốc. Hồ Nam Loan là Viên ngọc của Hà Nam.
          Còn thành phố Thượng Khâu nằm ở phía Đông tỉnh Hà Nam được coi là cửa ngõ của tỉnh. Đây là cái nôi văn hóa của dân tộc Thượng. Thượng  Khâu có một nền văn hóa độc đáo và nhiều cảnh quan nhân tạo rất đẹp...
 
 
 

Trần Bình - Thao thiết một hồn quê

16/01/2022 lúc 21:41






H





ẳn nhiều người còn nhớ câu hát trong một ca khúc nổi tiếng thời chống Mỹ trên đất Quảng Trị “Tiếng trống trận từ Gio An vọng tới..” Gio An, một mảnh làng nhỏ âm thầm của miền tây Gio Linh-Quảng Trị, nơi có hệ thống giếng cổ là di tích văn hoá rất đặc sắc ghi dấu một thời phồn thịnh của người Chăm ở đất này. Trong lòng đồi đất đỏ ba-zan, những mạch nước ngầm trong ngần và trường cửu cứ lặng lẽ chảy ra, người dân địa phương gọi là nước mội. Nhiều thế kỷ trước, người Chăm đã biết xếp đá khoanh lại thành giếng quanh mội để lấy nước sinh hoạt và cấy lúa. Các nhà khảo cổ học gọi đó là những công trình thuỷ lợi “dẫn thuỷ nhập điền”. Ở những mội nước đó có một loại rau cũng rất đặc biệt, nó chỉ sống được với khe nước trong veo chảy ra, chỉ cần vẩy chút bùn lên là rau sẽ chết. Đúng là rau sạch tuyệt đối. Rau ấy có tên là rau Liệt, hay còn gọi là xà-lách-xông. Trần Bình, tác giả tập thơ nhỏ này sinh ra, lớn lên và hiện vẫn đang sống lặng lẽ trong lòng mảnh làng ấy.
Sở dĩ tôi nói lan man về giếng nước mội và giống cây rau Liệt trước khi bàn đến tập thơ bạn có trong tay, bởi nếu ai đó quen biết Trần Bình rồi. Đọc thơ anh hẳn sẽ có cùng nhận xét với tôi, anh là hiện thân của cọng rau thuần khiết đó, tâm hồn anh được nuôi dưỡng bằng chính dòng nước trong veo và cũng rất thuần khiết của đất Gio An. Con người sống trên đời và sống trong thơ, ai cũng có nỗi buồn, niềm vui, ai cũng không thể thoát ra khỏi vòng thế tục, cũng nhớ nhung, dằn vật, trở trăn, thậm chí cả giận hờn uất ức...Nhưng tất cả các cung bậc cảm xúc đó đối vơí Trần Bình đều rất tinh khiết và chân chất...
 
 
 

« 4647484950 »

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

28/02

25° - 27°

Mưa

29/02

24° - 26°

Mưa

01/03

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground