Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 25/09/2021 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Văn hóa thời đại

A.phađêep- Tư chất "điên cuồng" của người dũng cảm

17/01/2014 lúc 23:04






T





háng hai năm 1956, tại Matxcơva, đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ XX khai mạc. Những tư tưởng của đại hội như những luồng gió mới, cho phép hy vọng nhìn về tương lai. A.phađêep được bầu làm đại biểu đại hội. Nhưng khi đại hội làm việc, thì nhà văn bị ốm kéo dài. Hầu như suốt cả mùa đông ông phải nằm ở bệnh viện. Tuy vậy, ông vẫn chăm chú theo dõi đại hội. Bấy giờ, tâm trạng ông như bị phân đôi: Vừa sung sướng, vừa đau buồn. Sung sướng vì thấy được sự lớn mạnh của Đảng, nhưng không ngờ rằng, con đường mà ông và hàng nghìn người cộng sản, hàng triệu nhân dân đã đi lại gập ghềnh chông gai đến vậy! Những ngày đêm ấy ông ngủ không yên. Ông bị lay động bởi những dòng thơ chát đắng của N.Chikhônôp: “Điều giả dối  đã cùng ăn và uống với chúng ta”.
Người ta chuyển cho Phađêep bức thư của nữ thi sỹ A.Akhơmatôva với yêu cầu “Xem xét lại gấp hồ sơ của con trai bà giúp bà chóng phục hồi lại danh dự. Bà cầu viện tới Phađêep với tư cách là một nhà văn và là con người trung hậu. Ngay từ năm 1953, Phađêep đã có nhận xét tốt về bản thảo của A.Akhơmatôva để đưa đến in tại nhà xuất bản “Nhà văn Xô Viết”. Sau nghị quyết của Trung ương Đảng ngày 4/8/1946, cũng như nhiều nhà văn đương thời khác, Phađêep nói đến tầm quan trọng của văn kiện này nhằm chống “sự suy đồi” và “tình trạng vụ lợi”...

Nguyễn Tuân, một giá trị trường tồn

17/04/2014 lúc 15:18






S





au nữa thế kỹ hoạt động, Hội nhà văn Việt Nam giờ đã thành một gia đình văn học lớn, nay là tam đại đồng đường, không còn xa sẽ là tứ đại đồng đường.
Các cây bút trẻ hai mươi tuổi đang mang tới những trang viết đầy sức thanh xuân, ngổn ngang khát vọng, ngổn ngang những yêu thương trăn trở và bút lực mới mạnh mẽ làm sao, mạnh mẽ tới độ khiến người đọc đôi khi chóng mặt. Trong lúc ấy những người già rủ nhau lần lượt ra đi, đi đến mức làm vãn cả một đoàn thể. Chúng ta vừa mới làm tang cho nhà văn Kim Lân, hôm nay lại gặp nhau để tưởng niệm nhà văn Nguyễn Tuân nhân ngày giỗ lần thứ hai mươi của ông. Nhanh thế, thời gian đi bằng cách nào không rõ, chỉ thấy mới đây mà đã hai mươi năm, hai mươi năm ông bỏ bạn bè con cháu mà đi, để ngôi nhà này thành trống vắng, để chúng tôi đám học trò của ông côi cút, Hội nhà văn mất ông là mất một vị trưởng lão kì tài, không ai có thể thay thế được...

Hơn 30 năm sau gặp tác giả bài thơ "Đêm Quảng Trị"

13/05/2014 lúc 09:35






N






ét người, tầm thước, vầng trán rộng, da hồng hào, tính tình cởi mở vui nhộn, giọng nói còn mang đậm xứ Hà Tĩnh, quê “choa”... đó là nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh, bút danh ở chiến trường là Vũ Ngàn Chi tác gải bài thơ “Đêm Quảng Trị”.
Vào những năm 1967-1968, chiến trường Quảng Trị thuộc mặt trận B5 thật vô cùng khốc liệt. Bạt ngàn rừng già của dải Trường Sơn chạy về phía nam là vậy mà không ít cánh rừng chỉ trơ lại “ngàn tay than cháy, vạch màu trời xanh” (Tố Hữu) vì B52 rải thảm, pháo chụp, pháo bầy và những trận mưa của chất độc hóa học Mỹ nhằm hủy diệt môi trường sống của rừng, Việt cộng hết nơi ẩn nấp để cho chúng dễ bề tiêu diệt.
Là chiến trường tiếp giáp với miền Bắc Xã hội chủ nghĩa, hậu phương lớn chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn ở miền Nam anh hùng. Một cân gạo, phong lương khô, viên đạn... tới tay bộ đội là tính bằng...máu. Máu đổ từ trên luống cày, lúc thu hoạch, máu của những thanh niên xung phong hỏa tuyến và máu cán bộ, chiến sỹ chuyển ra chiến trường. Còn sách báo, phim ảnh và những món ăn tinh thần khác không thể thiếu mà không phải lúc nào cũng đáp ứng dù tỉ lệ rất thấp. Mỗi cuốn sách, tờ báo và các ấn phẩm văn hóa đến tay chiến sỹ phía trước là sinh tử. Chính vì vậy mà anh em trân trọng chuyền tay nhau đọc không để sót một chữ. Đó là chưa nói có những nội dung hay, hấp dẫn nhiều anh em thuộc làu làu. Nói không quá lời rằng có những bài bút ký, xã luận, bình luận, tùy bút dài cả mấy ngàn từ mà có anh vẫn thuộc hết, để tự nguyện làm...
 

Cảm nhận về thơ

13/05/2014 lúc 09:33






T






hơ là một bộ môn văn học - nghệ thuật hoàn hảo nhất bao gồm những khía cạnh thẩm mỹ: Nhạc, họa, điêu khắc và những khía cạnh khác như thời tính, sử tính…
Hiện hữu trên một bình diện ưu việt, ngôn ngữ thơ ẩn tàng một chiều cao, sâu, rộng, tác động thăm thẳm vào hồn người những tình cảm dạt dào, dẫn dắt trí tưởng tượng của ta bay cao và kích thích hành động vươn tới của con người ở một mức độ tinh vi nào đó…
Thơ, nói theo một nghĩa nào đó, chưa hẳn là đời sống của tác giả nhưng bắt nguồn từ cuộc sống, mà cuộc sống lại chuyển động trong một vận hành toàn bộ vũ trụ thiên nhiên cũng như vũ trụ con người. Do đó, dù muốn ruồng bỏ hoặc khinh rẻ đời sống đi nữa thì thời tính và sử tính vẫn hiện hữu trong thơ, trong những đường bay của thơ một cách khá trọn vẹn…
Trái với nghệ thuật tạo hình, trí tưởng tượng sáng tạo nên thơ khi hoạt động không thấy hẳn sự vật dưới hình dạng vẫn có ở bên ngoài. Dù sự vật đó đã được nghệ thuật khoác thêm một lớp áo - mà chỉ cho ta thấy nhận thức bằng một trực giác và một nội cảm thuần túy. Nó phản ánh... nhưng không phải vẽ lại rập khuôn, mà chủ quan của nhà thơ là yếu tố hệ trọng hơn cả trong hoạt động sáng tác của mình, dù ở những tác phẩm thể hiện mức phản ánh có tính chất cụ thể nhất...
 

Đọc trăng sáng

17/01/2014 lúc 22:46






Q





uảng Trị, mảnh đất đã trở thành bảo tàng lịch sử sinh động về cuộc đối đầu giữa ta và bọn Mỹ- nguỵ một thời không chỉ cho ta thấy những mảnh đất, những con người anh hùng, mà còn mang lại biết bao cảm xúc qua những trang văn của nhiều cây bút, nhất là những cây bút vốn sinh ra, lớn lên, sống chết với quê hương xứ sở. Trong bài viết ngắn này, tôi muốn nói đến một cây bút như thế: Nguyễn Ngọc Chiến và tập truyện thứ ba của anh, tập Trăng sáng.
Nét nổi bật bao trùm tập truyện là tác giả, nhờ sống, chiến đấu ở vùng đất lửa, nhờ rất nhiều lần chứng kiến cảnh mất mát, hy sinh cũng như tinh thần quả cảm của quân và dân ta nên trang viết luôn đầy đặn hiện thực thời hậu chiến trên mảnh đất chưa nguội tắt ngọn lửa chiến tranh. Mỗi truyện ngắn trong tập, xa gần, đậm nhạt đều mang dấu vết của chiến tranh, trực tiếp hay gián tiếp đều bị cuộc chiến tranh chi phối, tác động đến từng số phận. Và như bất cứ nơi nào trên trái đất vào bất kỳ thời nào, đau khổ nhất, mất mát nhất cuối cùng vẫn là người đàn bà. Rất nhiều thân phận đàn bà đau xót trong tập truyện ngắn này. Trực tiếp từ chiến trận trở về hậu phương với nhiều kỷ niệm vui buồn như O Lệ. O Lệ công tác ở một trạm giao bưu trong chiến tranh, rất nhiều gian khổ, áo quần rách nát, lúc có “chuyện riêng”...

Anh hề triết học, chàng Đông-Ki-Sốt văn chương

17/01/2014 lúc 22:45






N





guyễn Hoàng Đức tuổi Đinh Dậu là tuổi con Gà. Nhưng có lẽ anh là con gà mái câm mắn đẻ, vì anh cứ đẻ sòn sòn những quả trứng to mà tiếng cục tác sau khi đẻ luôn bị chìm đi trong cái nhốn nháo của làng văn nghệ. Vậy mà anh vẫn ngày ngày đóng cửa mê mải viết, viết như một người cầm bút tự do, chuyên nghiệp. Viết hàng ngàn trang rồi để đấy không biết đến bao giờ mới được in…
Triết gia, thi sĩ bị đày ở hành lang
Đức viết văn từ năm 1991, mở đầu là viết tiểu thuyết sáu trăm trang trong bốn tháng. Hai năm sau, đi đường bị tông xe máy ngã đập đầu xuống đường, máu chảy ra lênh láng phải đưa đi cấp cứu trong bệnh viện. Sau đó về Đức bắt đầu nổi hứng làm thơ. Câu chuyện về sự ra đời của năng lực thi ca này nghe có vẻ giống như các truyền thuyết về các nhà tiên tri, sau khi bị ngã từ trên cây cao hay bị ốm thập tử nhất sinh bỗng nói như thánh phán. Có lần Đức tâm sự với tôi: “Lúc nào tôi cũng thấy sôi sục cảm hứng muốn viết ông ạ! Mỗi ngày tôi có thể viết được một bài tiểu luận. Nhiều khi tôi muốn bôi mực lên người để lăn trên giấy cho thoả hứng sáng tạo như người ta vẽ tranh hiện đại. Đối thoại và hùng biện là điểm mạnh nhất của tôi. Đối thoại thì chan chát như đọ gươm. Hùng biện thì sôi trào, rực lửa, càng viết càng hùng biện, hàng trăm trang cứ tông tốc tuôn ra, trang nào cũng hùng biện. Tôi như bản giao hưởng lúc nào cũng đại toàn tấu, không có lúc nào một hai cây sáo ỉ eo”...

Chuyện ít người biết về nhà thơ Dương Tường, thủ lĩnh nhóm văn nghệ nguồn Hàn

17/04/2014 lúc 15:18






1.





Nguồn Hàn tức là nguồn sông Thạch Hãn chảy về Thành Cổ Quảng Trị. Chẳng thơm cũng thể hương đàn/ Không trong cũng thể nước Nguồn Hàn chảy ra. Người Quảng Trị khi nói về quê mình đều ngâm ngợi câu ca dao ấy, vừa tự hào, vừa như là một lời nhắc nhở nhau sống cho sạch, cho thơm. Nhắc đến Nguồn Hàn, người Quảng Trị yêu văn chương còn nhắc mãi một tổ chức Văn nghệ cách mạng gọi là Nhóm văn nghệ Nguồn Hàn ra đời năm 1949, nhưng đã manh nha tại Ba Lòng từ năm 1947. Nhóm văn nghệ sôi động một thời ấy gồm những nhà thơ, nhà văn nổi tiếng của đất nước như Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư, Hồng Chương, Trường Sinh (thiếu tướng Lê Chưởng, chính uỷ Trung đoàn 95), Lương An, Vĩnh Mai, Lê Tri Kỷ;…Về sau còn có thêm nhà văn Nguyễn Khắc Thứ (người nổi tiếng với ký sự Trận Thanh Hương), Tấn Hoài… Hoạt động của Nhóm Nguồn Hàn còn được sự cộng tác gần gũi của các nhà văn như Văn Tôn (Hải Bằng), Bửu Tiến, Trần Thanh Địch, Gia Ninh… Điều đặc biệt nhất là “lãnh đạo” các nhà văn lừng danh ấy lại là một tài năng thơ còn rất trẻ. Đó là Nhóm trưởng Nguồn Hàn - nhà thơ Dương Tường...

Văn hóa đọc đang có nhiều vấn đề

04/08/2014 lúc 08:45






Đ





ọc xong bài báo “Những điều đáng tiếc một tuyển tập thơ văn của thế kỷ” của Phạm Xuân Dũng (PXD) đăng trên tờ Đại Đoàn kết số ra ngày 3.6.2001 – Cho dẫu là người tham gia trong Ban biên tập (BBT) tuyển tập thơ văn “Non Mai Sông Hãn” (NMSH) nói trên, tôi không cần thiết phải có ý kiến tranh luận gì với tác giả PXD về sự tùy tiện và sự bóp méo sự thật dù bất cứ cấp độ nào. Thế nhưng trước công luận, trước bạn đọc cả nước thì không thể không có mấy điều thưa lại, vì rõ là văn hóa đọc của nhà báo này đang có quá nhiều vấn đề.
Những điều đáng tiếc của “Những điều đáng tiếc ...”  ở bài báo nói trên gói gọn trong ba điểm sau:
1. NÓI VỀ TUYỂN:
Làm tuyển, đơn giản như tuyển tập “100 bài thơ tình hay nhất thế giới” chẳng hạn, liệu có đủ 100 bài thơ tình chuẩn xác là hay nhất hành tinh này có mặt trong tuyển ấy? Sao chỉ 100 mà không là 101 bài? Hoặc như các tuyển tập Truyện ngắn hay nhất trong năm, thường các Nhà xuất bản (NXB) hay các tòa soạn báo văn nghệ tuyển chọn thì liệu đã là truyện ngắn hay nhất trong năm chưa? Điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào tiêu chí, mục đích tuyển chọn của người biên tập hoặc BBT và chất lượng tuyển còn phụ thuộc vào cái lưng vốn anh tiếp nhận được trong năm, có bột mới gột nên hồ như cha ông ta bảo. Đơn cử: ............

Ý nghĩa nhân văn trong trang phục truyền thống

06/02/2014 lúc 23:03






T





rong quan niệm truyền thống, người Việt rất quan tâm đến trang phục: “Hơn nhau tấm áo manh quần/ Cởi ra mình trần ai cũng như ai”, hay: “Người đẹp vì lụa/ Lúa tốt vì phân/ Chân tốt vì hài/ Tai tốt vì hoa”. Thậm chí, họ còn coi trang phục chi phối cả hoạt động giao tiếp và tâm lý giao tiếp: “Quen sợ lòng sợ dạ/ Lạ sợ áo sợ quần”. Chính vì vậy mà trang phục trong lễ hội càng được người ta coi trọng. Ở bài viết này chúng tôi sẽ đi tìm ý nghĩa nhân văn trong trang phục truyền thống trên cơ sở cứ liệu văn học Việt Nam 1932- 1945. Tất nhiên muốn tìm được ý nghĩa nhân văn trong trang phục lễ hội truyền thống phải tìm cho được nét đặc trưng riêng của trang phục ấy. Đó là nhiệm vụ mà chúng tôi đặt ra trong qúa trình chứng minh các nhà văn Việt Nam giai đoạn 1932- 1945 rất chú ý tới miêu tả phong tục về trang phục...

Văn học bước qua thềm hội nhập

16/01/2014 lúc 23:16






N





gày 7/11/2006, tại Giơ-ne-vơ tiếng “chuông” hội nhập vào nền kinh tế thương mại toàn cầu được chờ đón mất hơn mười năm của dân tộc Việt Nam đã rung lên lanh lảnh cùng tiếng bật nổ chúc mừng của những chai sâm banh. Sự chờ đón kìm nén lâu ngày cũng ùa ra như rượu sâm banh hân hoan đón những lời chúc mừng của bạn bè quốc tế, những người theo sát từng bước chân đến cánh cửa hội nhập của Việt Nam, hồi hộp đón chờ chẳng kém gì những người bạn Việt Nam.
Thời điểm đó như một tiếng chuông reo trên đỉnh tháp cao nhất, nhưng kỳ thực bầu không khí xây lên đỉnh tháp đã nói lên ngay từ lúc đặt viên gạch đầu tiên xây móng, càng xây cao bầu không khí càng nóng, và càng gần đỉnh tháp thì không khí nóng như một chiếc nồi áp xuất khổng lồ… Bộ trưởng Bộ thương mại Trương Đình Thuyển đã ví, hành trình đến Hội nhập toàn cầu của Việt Nam giống như người leo núi, càng leo lên đỉnh trọng lực càng thêm nặng, sức hút càng thêm mạnh, và càng khó khăn hơn nhiều để chinh phục đỉnh núi… Tất cả các ngành nghề kinh tế quốc dân đã tăng nhiệt mỗi lúc một nhiều theo bước chân hội nhập, giống như một đầu máy hơi nước càng muốn gia tăng tốc lực thì càng phải cho thêm củi vào lò, nào cổ phẩn hoá, nào các doanh nghiệp lo chấn chỉnh cơ cấu cho thích hợp, các nhà băng vào cuộc với sự xoay xở trên từng vạch số thập phân, còn nông dân thì lo tìm cách làm ăn thế nào khi nhà nước bỏ chính sách trợ cấp nông nghiệp… Tất cả đều phải lao vào cuộc chạy đua, giống như các nhạc công phải chỉnh sửa cây đàn của mình làm sao để khi bước vào dàn nhạc toàn cầu, cây đàn của mình phải lên đúng âm la mẫu, nếu không tức khắc bị mời ra ngoài. Ngành luật pháp cao nhất như Quốc họi cũng không thể đứng ngoài những dòng xoáy đang cuốn về cửa biển toàn cầu, các đại biểu Quốc hội phải lao tâm khổ tứ để phê chuẩn những chính sách thích hợp với WTO.
Nhưng làm sao nhiều nhà văn, nhà thơ xứ ta lại im hơi lặng tiếng như vậy? Chúng ta thử nhìn các cuốn sách, các trang báo, và dể thấy nhất là các bài thơ in trên báo xem, có thể nhìn được bất kỳ “cơn sốt” hội nhập nào không? Hay các nhà thơ xứ ta nghĩ rằng: hội nhập là hội nhập thương mại, chứ văn thơ có phải thương mại đâu mà hội nhập? Đây không phải lần đầu tiên giới văn thơ nước nhà để lỡ mất chuyến tàu lịch sử, mà theo đánh giá chung, bao trùm và xuyên suốt của Hội liên hiệp văn học và Nghệ thuật toàn quốc lâu nay thì: giới văn học nước nhà chưa có được những tác phẩm tương xứng với thời đại. Liệu chúng ta có thể nói: súng đạn khói lửa thì không phải là văn học cho nên chúng ta đã đứng bên lề? Và giờ đây kinh tế- thương mại dù mang tầm vóc hội nhập toàn cầu nhưng cũng không phải là văn thơ, nên chúng ta lại đứng bên lề?...

Cái đẹp cần có và thơ hiện nay

17/04/2014 lúc 15:19






N





ói đến cái đẹp trong thơ là nói đến đối tượng cảm thụ thẩm mỹ của nhà thơ, của nhà phê bình và của người đọc trước những hiện tượng Chân- Thiện- Mỹ trong thiên nhiên, trong xã hội và trong con người, được nhà thơ viết bằng nhiều phong cách, bút pháp, giọng điệu khác nhau. Bài này muốn dừng lại ở khâu cảm thụ cái đẹp của nhà thơ và từ đó mà tác động tới cảm thụ của người đọc nhiều hay ít, lâu bền hay thoáng qua, nói gọn: Là câu thơ, bài thơ có đứng được trong lòng người đọc? Phải thừa nhận rằng, hai thập kỷ gần đây, mặt bằng sáng tạo thơ cao hơn, nhiều nhà thơ ráo riết đi tìm cái mới, đội ngũ những người làm thơ đông đảo hơn, hàng năm có tới hàng trăm tập thơ của nhiều nhà xuất bản ra đời. Nhưng tại sao hiện nay chưa thấy những nhà thơ nổi bật, ít bài thơ hay, thiếu nhiều câu thơ đẹp. Đi tìm nguyên nhân của thực trạng trên, chúng tôi lạm bàn mấy vấn đề lý luận về cái đẹp cần có trong thơ, may ra có thể giúp ích cho sự sáng tạo của nhà thơ, nhất là người viết trẻ.
Lý tưởng xã hội của nhà thơ là ngọn lửa chiếu sáng con đường sáng tạo
Làm thơ là sáng tạo, là đam mê, có khi say nhiều hơn tỉnh. Người cổ đại gọi nhà thơ là “Nhà tiên tri”. Muốn vậy, thì nhà thơ phải có tài đã đành, nhưng trước đó phải có lý tưởng xã hội; lý tưởng xã hội là năng lượng nằm trong bầu máu nóng của nhà thơ, là mục đích cao nhất, là lẽ sống đẹp nhất của anh ta.
Không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà thơ lớn cổ điển tự gọi mình là “nhà thơ công dân”. Nhà thơ phải là “Tiếng dội” của đời sống xã hội. Viết cho ai, viết để làm gì? vẫn là hai câu hỏi tưởng như không khó trả lời, nhưng thực tiễn sáng tạo thơ ở một số hiện tượng làm người đọc không yên lòng. Những hiện tượng một số nhà thơ trẻ tự khẳng định mình sớm, muốn nổi danh ngay (như một số ca sỹ bên sân chơi nhạc trẻ), những tuyên ngôn thơ vừa cao ngạo vừa ngậm ngùi, thậm chí vô trách nhiệm đối với bạn đọc, những câu thơ buông tuồng, thô thiển thỉnh thoảng vẫn xuất hiện trên những trang báo.
Trau dồi lý tưởng xã hội là tiền đề của sự hình thành lý tưởng nghề nghiệp mà ba điều bất hủ của một đời thơ thì lập đức được coi hàng đầu rồi mới nói đến lập công, lập ngôn. Văn chương thơ ca là nghiệp của ngàn đời (Văn chương thiên cổ sự), nhà thơ chỉ là con ông khôn ngoan biết đi hút mật ở các loài hoa về xây tổ ấm thơ ca của cộng đồng, chứ không đi đốt bậy người đời, dễ bị người ta châm lửa, hun khói xua đuổi, có khi vỡ cả tổ. Bản chất xã hội của nhà thơ là người con của xã hội, là hơi thở của thời đại. Cái đẹp của câu thơ phải đến với nhiều người, càng nhiều càng tốt. Còn chuyện đi tìm cái tự do tuyệt đối của nhà thơ, thơ ca chỉ là ảo ảnh của cuộc đời, thơ ca được viết không cho ai cả, thú thật chỉ là chuyện viển vông. Đó là chưa kể khi tâm hồn nguội lạnh, thái độ dửng dưng của nhà thơ trước những hiện tượng nóng bỏng của xã hội, thì nói gì đến câu thơ đẹp, có ích cho đồng loại (!?). Nói bản chất xã hội của nhà thơ hiện nay cần sòng phẳng hai chuyện: Giới phê bình, có lúc lẽ ra phải hướng dẫn kỹ thuật, kỹ xảo làm thơ, thì họ lại đi dạy lập trường chính trị; minh hoạ chủ trương chính sách bằng thơ vần vè là chuyện của những báo cáo viên tuyên huấn thì một số nhà thơ lại sa vào xu hướng chính trị hoá thơ ca một cách dễ dãi và lộ liễu. Hai căn bệnh đó vốn tồn tại đã lâu, nhưng nay đã được đẩy lùi, nhờ sự tự ý thức sáng tạo. Nhưng từ đó có người ngây thơ nông nổi nghĩ rằng, chỉ cần mới, cần lạ, cần hay là được, không cần gì lý thuyết, không cần gì bản sắc dân tộc, không cần gì những giá trị truyền thống…, họ ném ra ngoài xã hội nhiều câu thơ vụng về, khó hiểu, thậm chí có hại, đánh tráo cảm thụ thẩm mỹ của người đọc. Trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội của nhà thơ ở đâu? người làm thơ có quyền viết bất cứ đề tài nào, lấy thi hứng từ bất cứ hiện tượng xã hội nào, nhưng khi bài thơ ra đời, nó không còn là của anh (chị) nữa mà là của xã hội, là đối tượng cảm thụ của hàng trăm nghìn thị hiếu khác nhau. Khen- chê, chấp nhận- từ chối là chuyện của dư luận xã hội. Nhà thơ không vì thế mà cao ngạo khi được khen và trách cứ, thậm chí chán nản lúc bị chê. Hiệu quả của sự khen- chê nằm ở tài năng, trước hết là ở tấm lòng của người viết, ở lý tưởng mà nhà thơ đam mê. Linh hồn của thơ ca hai cuộc kháng chiến chống xâm lược được thắp sáng bởi lý tưởng xã hội của nhiều nhà thơ và sự cảm thụ cái đẹp của người cùng thời đại. Chính vì vậy mà nó có sức sống lâu dài.
Sự  chân thật tối đa trong cảm xúc thẩm mỹ
Trong thơ ca, tài năng gắn liền với sự chân thật. Trong văn học kháng chiến của ta ở hai giai đoạn có nhiều bài thơ viết về đề tài mất mát, bi thương, mặc dầu kỹ thuật chưa được điêu luyện, ngôn ngữ chưa thật được trau chuốt, nhưng vẫn đọng lại sâu thẳm trong lòng người đọc nhiều thế hệ, kể cả thế hệ hôm nay: Màu tím hoa sim, Núi đôi, Quê Hương, Hương thầm, Cuộc chia ly màu đỏ v.v. Bí quyết thành công của những câu thơ hay, đầy xúc động nói trên là gì vậy?- Tài năng. Vậy tài năng trong sáng tạo thơ ca nằm ở đâu? Trước hết là ở sự chân thật. Có đau thì nói đau, nỗi đau của người trong cuộc. Sự giả dối trong thơ dễ bị người đọc lật tẩy. Loại hình nghệ thuật nào cũng cần có sự chân thật và sự chân thật trong nghệ thuật thường là cái được phản ánh sự thật cuộc sống, nhưng ở thơ đòi hỏi sự thật tối đa. Vì ở đấy nhà thơ và nhân vật trữ tình là một, trùng khít đến mức khó tách làm hai. Mọi thứ giả vờ, làm dáng, cường điệu cảm xúc của người viết thật xa lạ với tính chân thật trong thơ...

Một dòng sông âm thanh xanh tình Việt Lào

27/02/2014 lúc 08:26






T





ừ ngày cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trở lại xâm lược bán đảo Đông Dương, có một nhiệm vụ quan trọng của cách mạng Việt Nam là nhiệm vụ quốc tế giúp đỡ bạn bè các nước láng giềng trong cùng bán đảo để chống kẻ thù chung. Thời đó, những bộ đội Việt Nam tình nguyện sang Lào chiến đấu đã được mô tả trong tráng ca hào sảng “Tây Tiến” của nhà thơ Quang Dũng. Đầu những ngày hoà bình sau kháng chiến trường kỳ với hiệp định đình chiến Genèver 20/07/1954, chúng ta lại được đọc những áng văn chương về hữu nghị đặc biệt này qua các tác phẩm của nhà văn Lê Khâm (sau đổi là Phan Tứ) như “Bên kia biên giới”, “Trước giờ nổ súng”… và nhà văn Văn Linh như “Tiểu đoàn Hai”… Đến thời kháng chiến chống Mỹ, tình cảm sâu nặng ấy còn được thể hiện qua các ca khúc của các nhạc sĩ Lào mà các nhạc sĩ Việt Nam dịch lời và một dòng sông âm thanh xanh tình Việt-Lào là những giai điệu mà các nhạc sĩ Việt Nam viết về đất nước Lào anh em.
Ngay từ trước khi chiến tranh với Mỹ xảy ra, trong thập kỷ hoà bình ngắn ngủi ở miền Bắc Việt Nam (1954-1964), hai bản dân ca Lào là “Hoa Chăm Pa” và “Lăm Tơi” qua giọng hát thánh thót của ca sĩ Tường Vy đã làm rung động biết bao con tim Việt Nam và Lào. Đến khi cuộc chiến bùng nổ, thì đã có một cuộc giao hoà đầy xúc động giữa các nhạc sĩ Lào và các nhạc sĩ Việt Nam. Những tác phẩm như “Dải đất tự do”, “Chống đế quốc Mỹ xâm lược”, “Mừng chiến thắng Nậm Na” của Si Sa Na Si San đã được các nhạc sĩ Phạm Tuyên, Hồ Bắc, Trọng Loan dịch ra tiếng Việt. Các tác phẩm của Khăm Mường, Xu Văn Thoong, Ma Li Chăn, U Tam Mạ, Hủm Phăm, Xổn Bun, Pa Xớt… đã được các nhạc sĩ: Lê Lôi, Xuân Tứ, Đỗ Nhuận, Vũ Thanh và các ca sĩ Trần Hiếu, Phương Thảo, Trần Tiến (lúc ấy là ca sĩ đoàn văn công Hà Nội) dịch ra tiếng Việt. Nhưng dòng chảy mạnh mẽ nhất thì vẫn là dòng giai điệu mà các nhạc sĩ Việt Nam cảm xúc về đất nước, con người và cuộc chiến đấu của nhân dân Lào. Theo lời kể của nhạc sĩ Lương Ngọc Trác, cách đây bốn mươi năm tròn, vào giữa 1967, ông đã đưa một Đội xung kích gồm mười hai diễn viên thuộc Đoàn văn công Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam từ Hà Nội lên Tây Bắc, vượt biên giới sang chiến trường Lào phục vụ bộ đội công binh Lào- Việt làm đường từ Bản Ban đi Cánh Đồng Chum. Dù máy bay địch oanh tạc dữ dội, đội vẫn biểu diễn được hai mươi cuộc và sau đó bổ sung thêm diễn viên từ Việt Nam sang để biểu diễn phục vụ Hội nghị Trung ương Pa Thét Lào vào tối 10/8/1967 tại Hang Loong. Đích thân chủ tịch Xu Pha Nu Vông và nhiều đồng chí lãnh đạo tới xem biển diễn. Giữa chừng, máy bay địch bắn phá ác liệt. Hai quả bom rơi trúng cửa hang nhưng do hang sâu nên mọi người đều an toàn. Sau cơn khói lửa, cuộc biểu diễn vẫn tiếp tục cho đến kết thúc. Khi anh em văn công về Nhà khách thì khu vực đã trúng bom, đồ đạc quân trang tan nát hết. Các bạn Lào phải tặng cho mỗi người một bộ quân phục. Trong tư trang của nhạc sĩ Lương Ngọc Trác có một quyển vở chép nhạc, trong đó có ghi một sáng tác mới về Lào của ông mang tên “Tình hữu nghị Việt Lào”, có cả phần dịch tiếng Lào của một cán bộ thích giai điệu này. Quyển vở đã bị thủng lỗ chỗ vì mảnh bom và trong đó có cả trang ghi bài hát chan chứa tình hữu nghị này. Sau chiến tranh, mùa thu 1981, ông Trác lại có dịp sang giúp đỡ cũng cố Đoàn văn công Quân đội Lào. Bài hát của ông đã được các bạn hát theo nhịp Lăm Vông:
Bao năm đã qua mối tình đôi ta
Càng thêm sâu xa hát vang nên bao lời ca
Lòng ta thương nhau như núi cao Trường Sơn
Nước sông Hồng Hà Cửu Long sóng dâng…
Ngày đó, để có tiết mục cho chương trình, còn có thêm các bài hát “Tiến lên quân đội giải phóng nhân dân Lào” của Doãn Nho, “Tình bạn Việt Lào như núi như sông” của Trọng Loan, “Chào đường 9 anh hùng” của Huy Thục… đều là anh em nhạc sĩ quân đội cả.
Còn với nhạc sĩ Đỗ Nhuận, câu chuyện có vẻ ly kỳ hơn. Với tinh thần chia sẻ: “Việt Nam có một bát cơm là Lào có nửa bát cơm” của Bác Hồ từng nói từ  1949, vào năm 1968. Sau Tổng tấn công Mậu Thân ít lâu, Đỗ Nhuận đã dẫn một đoàn nhạc sĩ và nghệ sĩ sang Lào. Đỗ Nhuận lấy tên là U Đon Xiha Lạt. Nếu Nguyễn Văn Tý có bài hát về phụ nữ Lào, Chu Minh có “Hành khúc thiếu nhi Lào”, “Ca ngợi Sầm Nưa”, Đức Minh vừa đệm guitare vừa sáng tác ra “Các dân tộc Đông Dương là anh em”, “Hoa huệ trắng”, “Việt Lào là anh em”…

Chất trữ tình trong cầu vồng Hiền Lương

14/12/2013 lúc 22:10






K





ý dễ viết mà khó hay bởi đó là thể loại với đặc trưng ghi chép người thật việc thật một cách trung thực khách quan, không hư cấu nên hoặc dễ sa vào khô khan hoặc dễ sa vào đơn điệu, nhàm và nhạt nếu người viết không chọn được những chi tiết gợi nên cái nét độc đáo của đối tượng viết. Có một tập truyện ký gần đây - tập Cầu Vồng Hiền Lương của nhà thơ Nguyễn Hữu Quý vừa giữ được hạt nhân bản chất vừa biết vượt ra ngoài cái khung hình thức hạn hẹp của đặc điểm thể loại ký nên đã tạo ra được một vẻ riêng mà biểu hiện dễ thấy là tác giả đã đưa vào trang viết của mình chất trữ tình cảm động, đằm lắng, gợi nghĩ
Kỳ thường có ''cái tôi'' để trình bày sự việc, để dẫn dắt hướng bạn đọc chiếm lĩnh cái thực chất của sự vật hiệng tượng. Nếu “cái tôi” về lý trí sẽ đưa bài viết đi về địa hạt văn xuôi, còn khi ''cái tôi'' ngả sang bộc lộ cảm xúc tâm trạng thì tác phẩm sẽ hướng về cái trữ tình. ''Cái tôi'' trong Cầu Vồng Hiền Lương  thuộc loại sau...

Hồ Chí Minh - Tấm gương đạo đức mãi mãi sáng ngời

17/04/2014 lúc 15:19






C





hủ tịch Hồ Chí Minh - Vị lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới đã đi xa, nhưng Người để lại cho chúng ta di sản tinh thần to lớn, những tư tưởng vô giá, những giá trị nhân văn cao cả, trong đó đặc biệt là tư tưởng đạo đức cách mạng, tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời. Đó là đạo đức của một bậc đại trí, đại nhân, đại dũng mà toàn Đảng, toµn quân và toàn dân ta nguyện phấn đấu suốt đời học tập và noi theo.
Thứ nhất, chúng ta học tập và noi theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là trọn đời phấn đấu, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người và nhân loại.
Ở mỗi một con người bình thường ai cũng phải xác định cho mình về một lý tưởng và lẽ sống: Sống cho ai, sống để làm gì? Với Hồ Chí Minh, khi Người sinh ra và lớn lên thì nước đã mất, phong trào cách mạng đầu thế kỷ XX đã hoàn toàn thất bại, một không khí bi quan bao trùm toàn xã hội đương thời. Mỗi con người đứng trước bối cảnh ấy sẽ có những lựa chọn khác nhau. Song, được uống "nguồn sữa" yêu nước từ khi mới lọt lòng, từ một  gia đình có truyền thống cách mạng, thương dân sâu sắc, từ quê hương Nghệ An sản sinh biết bao thế hệ anh hùng của dân tộc, thì Nguyễn Tất Thành không có sự lựa chọn nào khác. Người hiến dâng đời mình cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc. Người nói: “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi”, câu nói ấy chính đã được hình thành từ tuổi ấu thơ đầy chí khí của Người. Trong hoàn cảnh chung của đất nước, hoàn cảnh riêng của gia đình đã thúc đẩy Người đi theo lý tưởng vì nước, vì dân, không có bất kỳ sự băn khoăn, do dự nào, vì đó là lẽ sống, là lý tưởng chính trị đồng thời là lý tưởng đạo đức của Người.
Hồ Chí Minh có chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, nhưng Người không đi theo đạo đức "tu thân" của Nho giáo mà đi theo đạo đức "dấn thân" của người cách mạng. Ham muốn tột bậc của Người là “Làm sao cho nước ta hoàn toàn được độc lập, dân ta hoàn toàn được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Chính ham muốn tột bậc ấy đã tạo cho Người một sức mạnh, một ý chí, một nghị lực phi thường để “Giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”, cho đến khi từ biệt thế giới này thì điều mà Người luyến tiếc nhất để lại trong Di chúc là “không còn được phục vụ nhân dân lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”.
Mỗi thời đại, mỗi giai đoạn, biểu hiện lý tưởng cách mạng có những nội dung mới. Hiện nay, sau khi đất nước đã giành được độc lập tự do, chúng ta phải phấn đấu thực hiện hoài bảo, ham muốn tột bậc của Bác Hồ “sẽ xây dựng lại ®Êt n­íc ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, làm sao ai cũng có cơm ăn, ai cũng có áo mặc, ai cũng được học hành. Nói như ông Putin - Tổng thống Liên bang Nga: “Tôi làm Tổng thống nhưng tôi vô cùng xấu hổ khi thấy dân tộc mình, đất nước mình còn nghèo nàn, lạc hậu”. Nghe lời nói đó, chắc chắn mọi cán bộ, đảng viên dù ở cương vị nào cũng phải trăn trở, áy náy, phải thấy được trách nhiệm của mình để phấn đấu xây dựng dân tộc Nga hùng cường...

Thơ của người Vân Kiều

08/07/2014 lúc 15:30






D





ân tộc Vân Kiều sống trên mái Trường Sơn, tập trung ở hai huyện Hướng Hóa, Đakrông (Quảng Trị), một ít ở huyện A Lưới (Thừa Thiên Huế) và một số ở Lào (Tây Trường Sơn). Người Vân Kiều có tiếng nói mà chưa có chữ viết, nên nói Thơ của người Vân Kiều là tôi muốn nói đến lời những câu hát dân ca của dân tộc này. Nhà văn Mai Văn Tấn () sinh thời là sĩ quan bộ đội biên phòng, hàng chục năm ăn ở cùng đồng bào Vân Kiều ở huyện Hướng Hóa, nên ông rất am tường văn hóa của họ. Ông đã sưu tầm và biên soạn hai tập truyện cổ Vân Kiều rất hấp dẫn. Đặc biệt, đầu năm 1980, ở Huế, nhà văn tặng tôi tập “Dân ca Vân Kiều, tôi vẫn say mê và thích thú. Là người làm thơ, tôi nhận được trong kho tàng dân ca người Vân Kiều những bài học bổ ích vô giá về thơ, về cách sử dụng ngôn ngữ hình tượng, về thủ thuật cao cường trong liên tưởng, so sánh, ẩn dụ. Theo tôi, những câu dân ca này chính là thơ của người Vân Kiều. Một thú thơ điêu luyện được hát lên...
 

Triển lãm hội họa "Cội nguồn" của họa sĩ Trương Bé tại Quảng Trị

16/01/2014 lúc 22:42






H





ai mươi bức tranh trừu tượng của hoạ sĩ Trương Bé có mặt tại Quảng Trị trong triển lãm cá nhân của ông tạo nên bởi những hoà sắc xúc cảm được nảy sinh do sự liên tưởng và nổi day dứt. Sự kết hợp giữa đường nét với mảng màu theo sự phân chia tỷ lệ, được tính toán chặt chẽ như nhằm tái hiện thế giới nội tâm, ước vọng nói lên ý thức hệ, bộc lộ sự nhạy cảm tinh tế thống nhất của tác giả.
Trong bức tranh “Tích hợp Đông-Tây” (Sơn mài, 180 x 360cm) sáng tác năm 2006, 2007, ông dùng những chấm sáng, tối, kết hợp sự biến hoá của đường nét, của mảng màu nhằm dự báo sự sinh hoá kết tinh từ vũ trụ, vạn vật, con người. Đó là sự sinh sôi, hứa hẹn những điều có thể là tốt lành nhưng cũng có thể là bất an của thế giới đầy bí ẩn. “Hổn độn hài hoà” (Sơn mài, 135 x 273cm), “Nhịp điệu giây bí ẩn” (Sơn mài, 180 x 360cm) là một mắc xích vĩnh cửu giữa hoạ sĩ và cội nguồn của mình và khuynh hướng ấy làm thành siêu hình về trời đất, có tác dụng tạo nên ấn tượng cụ thể hợp với lòng người. Thế giới của hoạ sĩ Trương Bé là thế giới của mơ mộng, của huyền thoại, của tâm thức được tín hiệu hoá, thần bí hoá. Người nghệ sĩ phải làm nên một nhịp sống trên tác phẩm, bởi nó là sức sống đây đó của thần trí chúng ta qua nhịp điệu của vạn vật…
Các tác phẩm trừu tượng sơn dầu của ông màu sắc chủ đạo là xám, trắng, đen, đỏ biểu hiện mối quan hệ biện chứng, nhất là sự vận động của sắc đỏ cảm giác như vô tận, bắt người ta phải chú ý hình dung sợi dây kim chỉ nam đó đi về đâu. Người ta có thể thấy gió lướt trên tranh, hơi thở của đời sống, cảm thấy sự tìm kiếm nhịp điệu và bản thể của thiên nhiên...

Đông Hà khát vọng xanh

06/02/2014 lúc 23:18






T





hiên nhiên giữ một vai trò thực sự quan trọng đối với con người vì thế mà khi xây dựng một đô thị  việc đầu tiên con ngưới nghĩ đến là cải tạo, xây dựng thiên nhiên  thành một hệ thống văn hoá để tham dự một cách hài hoà vào tổng thể cuộc sống của con người cả bên trong lẫn bên ngoài. Đối với  thị xã Đông Hà cũng vậy,bên cạnh việc phát triển để tạo ra  sự  lộng lẫy của phố xá thì việc tạo ra sự trong sạch của môi trường thiên nhiên, tạo ra sự mát mẻ từ cây xanh là vô cùng cần thiết. Cây xanh, bộ lọc không khí kỳ diệu nhất mà thiên nhiên trao tặng cho con người.
Đông Hà chính thức là tỉnh lị của Quảng Trị từ khi tái lập tỉnh 1989. Đây là một vùng đất đồi nhỏ hẹp với diện tích tự nhiên 7296 km2, gồm 9 phường và 8 vạn dân. Thiên nhiên không ưu ái gì cho vùng đất này, nhưng bù lại là vùng đất có địa thế thuận lợi. Đông Hà có đường bộ và đường sắt xuyên Việt, kề cận hành lang kinh tế Đông Tây...

Đọc "Mai sau dù có bao giờ" của Nguyễn Hoàn

16/01/2014 lúc 22:40






Đ





ọc bản thảo sau đây của Nguyễn Hoàn, tôi chợt thảng thốt như đọc một bộ hồ sơ điều tra về toàn bộ mảnh đất Quảng Trị. Cái nghề “thư ký toà soạn” của một tờ bỏo tỉnh hẳn đó giỳp Hoàn lướt qua mọi vấn đề của mảnh đất này, thêm một điều là tiếp cận với đôi mắt “mục sở thị”, xoi mói đến tận nội tạng của sự việc và khiến cho người đọc nhỡn ra vấn đề như thể nhỡn thấy sự sinh thành của chớnh mỡnh, chắc khụng khỏi run rẩy cỏi cảm giỏc “đẻ đau mang nặng”.
Các nhà báo khi đưa tin chiến tranh về Quảng Trị, đó núi rằng ở đây bom đạn của quân đội Mỹ bao phủ như “lột vỏ trái đất”. Đúng thế, và mở đầu thời kỳ “hậu chiến”, cách đây khá lâu, con người cũng bắt đầu làm ra cuộc sống của mỡnh bằng cỏch “lộn ruột trỏi đất”...

« 4445464748 »

Tạp chí số cũ
Dự thảo
tư tưởng Hồ Chí Minh
Du Lịch Quảng Trị

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

26/09

25° - 27°

Mưa

27/09

24° - 26°

Mưa

28/09

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground