Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 17/04/2026 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Bước chậm trên cầu Hiền

Không phải ngẫu nhiên mà ba năm trước, trong cuộc thi biểu trưng của Quảng Trị, mẫu được chọn là hình ảnh cầu Hiền Lương và chiếc cổng chào được cách điệu thành hai chữ Q-T (viết tắt của Quảng Trị). Nhưng không chỉ thế, cây cầu Hiền Lương còn là biểu tượng của sự nhắc nhớ.

Mấy chục năm nay, cứ dịp 30 - 4, quãng sông và cây cầu lịch sử này được chọn làm nơi tổ chức ngày hội “Thống nhất non sông” với lễ thượng cờ lên kỳ đài ngay bờ Bắc và lễ hội đua thuyền. Nhìn những mái chèo khua nước rộn ràng trên khúc sông, không thể không nhớ đến câu thơ của nhà thơ Thanh Hải: “Cách nhau chỉ một mái chèo/ Mà đi trăm núi vạn đèo tới đây”. Đâu chỉ có “trăm núi vạn đèo”, để vượt khoảng cách “chỉ một mái chèo” ấy, người Việt đã đi ròng rã hai mươi mốt năm với bao nhiêu máu xương dọc dài đất nước. Hiệp định Giơ-ne-vơ tháng 7 - 1954 chia đôi hai miền Nam - Bắc đã khiến dòng sông nhỏ gần như vô danh trên bản đồ Tổ quốc trở nên nổi tiếng khi nó chảy dọc từ Tây sang Đông trùng với đường vĩ tuyến 17. Chia đôi đất nước, chia đôi một tỉnh, chia đôi một huyện, một xã... và bao nhiêu gia đình ở đôi bờ này đã mang theo định mệnh phân ly của dòng sông, bốn mươi năm qua, chuyện chia ly và đoàn tụ vẫn còn lưu dấu trong từng gia đình, từng phận người!.

Cũng như câu chuyện tình trong bộ phim “Chung một dòng sông”, tác phẩm đầu tiên của điện ảnh cách mạng Việt Nam nói về chuyện một đôi vợ chồng ở đôi bờ Hiền Lương bị chia cách, khởi nguồn cho bài hát bất hủ “Câu hò bên bờ Hiền Lương” là chuyến đi “thực tế” vào vĩ tuyến 17 của chàng nhạc sĩ trẻ mới ngoài 20 tuổi - Hoàng Hiệp.

Đi tìm nguyên mẫu của những tác phẩm để đời trong văn học nghệ thuật viết về miền đất giới tuyến này, chúng tôi mới biết người đàn ông trong hồi ức của nhạc sĩ, người khởi nguồn cho “Câu hò bên bờ Hiền Lương” chính là Phan Văn Đồng, vốn quê ở thôn 9, Trung Giang - một làng cát bên bờ Nam Cửa Tùng. Ông Đồng vừa cưới vợ xong thì tập kết qua bên này, làm nhân viên Đài khí tượng hải văn Cửa Tùng. Trong một lần lên trên ngọn đèn biển ấy với người gác đèn, nhạc sĩ Hoàng Hiệp chứng kiến nỗi khắc khoải của người đàn ông nhớ người vợ bên kia bờ vĩ tuyến. Và ngay đêm đó, những ý tứ hình hài của bài hát “Câu hò bên bờ Hiền Lương” đã phôi thai, sau đó, cùng với nhạc sĩ Đằng Giao cộng tác phần lời, bài hát ấy đã vang lên làm rung động hàng vạn trái tim. Bởi câu chuyện ấy không chỉ là chuyện đôi bờ Hiền Lương, chuyện của riêng mảnh đất Quảng Trị mà có sức khái quát sự ngăn cách của hàng vạn đôi lứa ở hai miền Nam - Bắc những năm tháng ấy. Chung quanh bài hát còn nhiều câu chuyện buồn vui khác, nhưng dù sao đi nữa, tiếng gọi khắc khoải yêu thương trong câu hát ấy đã biến thành sức mạnh, góp phần đẩy nhanh công cuộc thống nhất đất nước. Sau năm 1975, ông Phan Văn Đồng, người công nhân trạm khí tượng hải văn Cửa Tùng ấy đã gặp lại vợ con mình. Câu chuyện của ông Đồng cũng là câu chuyện của hàng nghìn gia đình đã may mắn có ngày đoàn viên sau hơn 20 năm chia ly cách biệt.

Nhưng đâu chỉ chia ly chồng vợ? Có những tiếng ca cất lên từ đôi bờ lại là của hai chị em ruột trong một nhà! Những ai đã từng nghe Đài Tiếng nói Việt Nam những năm đất nước còn đôi bờ vĩ tuyến hẳn khó quên giọng ngâm thơ của nghệ sĩ Châu Loan, một người con của đất Vĩnh Giang (Vĩnh Linh) bên bờ sóng Cửa Tùng này. Năm 1984, Châu Loan là một trong số những người đầu tiên được truy phong danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân. Bà tên thật là Bùi Thị Loan, nghệ danh Châu Loan, còn em gái ruột của bà, Bùi Thị Diệp có nghệ danh Châu Phụng cũng là một giọng ngâm thơ và ca Huế nổi tiếng của đài phát thanh... Sài Gòn bên bờ Nam thuở ấy.

Hai chị em ruột, khi bên bờ Bắc giọng ngâm thơ da diết người chị Châu Loan vang lên trên Đài Tiếng nói Việt Nam, thì phía bờ Nam người ta cũng có thể nghe giọng ngâm người em thổn thức trên sóng Đài Phát thanh Sài Gòn. Câu chuyện về hai chị em nghệ sĩ Châu Loan - Châu Phụng có quê xứ nơi mảnh làng cuối dòng Bến Hải này, tự thân đã mang trong nó một ngụ ngôn về câu chuyện ruột thịt cách chia.

Chúng tôi tìm gặp ông Bùi Văn Thưởng, người em ruột của hai nghệ sĩ Châu Loan - Châu Phụng. Vừa lật cuốn album với những bức ảnh trắng đen đã ố mầu thời gian, ông Thưởng vừa kể cho tôi nghe về “câu chuyện đôi bờ” của hai người chị: “Bố chúng tôi là nghệ nhân Bùi Văn Mè, một nhạc công tiếng tăm của đoàn hát cụ Nguyễn Như Bá, từng vào diễn tận cung vua. Năm, sáu tuổi, Châu Loan đã theo bố đi diễn, năm 1947, bà vào hát cho Đài Phát thanh Pháp Á ở Hà Nội. Với chất giọng được coi là “hoàn hảo”, Châu Loan sớm thành danh, sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, bà trở thành ca sĩ của tổ ca nhạc miền Trung, Ban Âm nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam với sở trường ngâm thơ và ca Huế. Trong khi đó, người em gái kế bà, Bùi Thị Diệp, những năm 1954 - 1956, chưa “đóng tuyến” vẫn đi đi về về buôn bán hàng hóa từ Huế, Quảng Trị ra Cửa Tùng, Vĩnh Linh, cuối năm 1956, khi chuyện qua lại hai bờ bị ngăn cấm bởi lệnh “đóng tuyến” bà Diệp bị kẹt lại bờ Nam. Vốn thừa hưởng một giọng ca con nhà nòi, không thua kém người chị ruột là mấy, bà Diệp được nhận vào Đài Phát thanh Sài Gòn với nghệ danh mới: Châu Phụng, nổi tiếng với ngâm thơ và ca cổ. Hai chị em ruột, hai giọng ngâm trên làn sóng hai đài ở hai bờ. Nhưng công tác ở Đài Phát thanh Sài Gòn một thời gian thì Châu Phụng lấy chồng, sinh con và theo nghiệp bán buôn, trong khi người chị Châu Loan ngày càng nổi tiếng trong sự nghiệp ca nhạc.

Ông Thưởng kể: Tôi ra Hà Nội, học sư phạm, năm 1972, theo lời kêu gọi của Trung ương Đảng, theo đoàn quân đi B về lại vùng giải phóng Quảng Trị vào tháng 8 - 1972. Mấy tháng sau, vào một đêm cuối năm, trong một căn hầm ở mặt trận Quảng Trị rét buốt, tôi nghe tin chị Châu Loan qua đời trên sóng Đài Phát thanh Hà Nội, đúng ngày Nô-en. Khi ấy chị Châu Loan mới 46 tuổi, tài năng đang vào độ chín nhất. Đau đớn thế nhưng rồi vì lý do chiến sự, tôi không về thắp hương cho người chị ruột của mình. Mấy năm sau, mùa xuân 1975, tôi vào tiếp quản thành phố Huế, hỏi thăm người chị Châu Phụng, người quen cho biết chị đã vào Đà Nẵng. Đà Nẵng giải phóng, tôi tìm ra nhà người chị đã xa cách hơn 20 năm, nhìn đứa em mặc đồ bộ đội, chị Châu Phụng vẫn còn... lo lắng, dè chừng, để rồi khi nhận ra nhau, chị em cùng ôm nhau khóc. Mỗi người mỗi hoàn cảnh do thời cuộc đẩy đưa, dù thế thì mấy chị em vẫn luôn nhớ về mảnh làng của mình. Ngoài chị Châu Loan và Châu Phụng, tôi còn một người chị khác là nghệ sĩ Thanh Thảo, cũng làm ở tổ dân ca Trung Bộ của Đài Tiếng nói Việt Nam. Nay cả ba người chị đều đã qua đời, nhưng trong ký ức của những người dân đôi bờ sông tuyến, giọng ngâm thơ Châu Loan vẫn như còn vang động trên những gợn sóng dòng sông của một thời đạn bom ly loạn cùng một giai đoạn lịch sử đầy biến động.

Trở lại dọc bờ Nam con sông giới tuyến, ở những làng Xuân Hòa, Xuân Mỵ ở Trung Hải, Cát Sơn ở Trung Giang, Hải Cụ ở Trung Sơn... chúng tôi gặp nhiều ông bà tuổi đã ngoài thất thập mà nỗi chia ly tình chồng vợ, sự ngóng vọng khắc khoải của họ chỉ có dòng sông Hiền chứng kiến đằng đẵng bảy nghìn ngày.

Những câu chuyện đôi bờ ấy vẫn được nhắc lại mãi dù những chứng nhân của sự chia ly đã về trời theo tuổi tác. Nhắc lại không phải để ngậm ngùi đau thương với hôm qua mà để nhắc nhớ về khát vọng thống nhất, về giá trị của hòa bình. Chỉ một dòng sông nhỏ, chỉ một nhịp cầu nhỏ, nhưng những nỗi đau mất mát của từng gia đình, của cha con, chồng vợ... luôn thao thức như con nước dòng sông.

Hơn 60 năm qua đi từ khi con sông bị phân ly; tròn 40 năm ngày con sông vỗ nhịp vui mừng non sông về một mối và cùng với thời gian sẽ biết bao thay đổi, tôi vẫn tin những con sóng dòng sông Bến Hải này còn thao thức kể mãi giữa nhân gian câu chuyện của hai mươi năm chia biệt. Tất cả, vẫn dòng sông và cây cầu chứng kiến...

Bao nhiêu cặp vợ chồng đã gặp lại nhau sau ngày 30 - 4 - 1975 lịch sử? Bao nhiêu nữa những lứa đôi đã đưa dâu qua cây cầu này? Và hơn thế, người dân nước Việt nào đã đủ lớn khôn để nếm trải cảnh chia ly đằng đẵng suốt 21 năm mà chẳng luôn cất giữ trong ký ức mình cái khoảnh khắc qua cầu Bến Hải ấy.

Chúng ta đã trải qua ngàn trận đánh/ Ðể bây giờ đất nước được vẹn nguyên/ Cho con đò khỏi “gác mái tình duyên”/ Và chiếc cầu, “chặng đường thôi nghẽn lại”... Ðấy là những câu thơ của nhà thơ Cảnh Trà viết về cây cầu lịch sử ngay sau ngày thống nhất trong bài thơ được nhiều người biết đến: “Ðưa dâu qua cầu Bến Hải”. Chuyện đám cưới vốn dĩ bình thường, nhưng “đưa dâu qua cầu Bến Hải” là chuyện đặc biệt. Bởi chàng trai ở Vĩnh Linh, bờ Bắc, cô gái ở Cam Lộ, bờ Nam. Không ai đi tìm được tuổi tên nhân vật chính của đám cưới đầu tiên đưa dâu qua cây cầu này sau ngày 30 - 4 - 1975, nhưng sức khái quát của câu chuyện trong thi ca là niềm vui của bao nhiêu lứa đôi sau ngày thống nhất. Chẳng riêng gì những chàng trai cô gái được đưa nhau qua cầu không còn cách trở, đó còn là cuộc đoàn viên của những chồng vợ hai bờ, mà ngày thống nhất như là ngày cưới thứ hai trong đời họ.

Trong một chuyến đi dọc theo đôi bờ con sông Hiền Lương để tìm lại những cuộc tình may mắn được đoàn viên, tôi tình cờ biết được câu chuyện vợ chồng ông Châu và bà Dĩnh ở ngay bờ Nam, sát chân cầu.

Thà chịu cảnh “chồng Bắc vợ Nam” nếu như người ở miền Cửu Long, người ở châu thổ sông Hồng cho đành, đằng này chỉ cách nhau một dòng sông rộng chưa đầy trăm mét, hai mươi năm chồng vợ chỉ nhìn nhau qua con nước Hiền Lương, vì thế tình yêu ấy càng quặn thắt, đau đáu hơn.

Hôm chúng tôi tìm đến nhà ông Trần Ngọc Châu ở thôn Xuân Hòa xã Trung Hải (huyện Gio Linh), ngôi nhà nằm cạnh bờ sông, từ bến nước sau nhà nhìn lên chiếc cầu vừa mới phục chế không đầy một trăm mét, nhìn qua bờ Bắc, nơi có đồn công an vũ trang Hiền Lương và chiếc cổng chào “tiền đồn” cũng chỉ rộng khoảng ngần ấy, vậy mà suốt tuổi thanh xuân của vợ chồng ông đã đành đoạn chia biệt “bên ni bên nớ”.

Tham gia kháng chiến từ năm 1947, khi mới 15 tuổi, năm 1953 gia đình dạm hỏi cô Dĩnh người cùng làng, ông Châu vượt sông về, vùng quê ông hồi đó còn tề ngụy, ngày đám cưới ông núp trên... trần nhà, nhìn xuống vợ một mình bái lạy trước bàn thờ gia tiên. Bọn tề đánh hơi được ông về cưới vợ đã theo dõi rất chặt, đêm đó ông lên lại chiến khu mà chưa thấy rõ mặt vợ mình. Hơn một năm sau, hiệp định Giơ-ne-vơ ký kết, ông Châu chưa kịp tìm về quê nhà thì cầu Hiền Lương đã chia làm đôi với hai mầu sơn khác nhau. Ông Châu được điều động về Công an vũ trang Hiền Lương phía bờ Bắc, bà Dĩnh ở lại bờ Nam để vừa làm cơ sở cách mạng, vừa phụng dưỡng cha mẹ già, nuôi em nhỏ.

Dù biết được tin chồng mình đang ở bên ấy nhưng bà Dĩnh không thể nào gặp được chồng. Bà nghĩ ra cách phải xuống bờ sông giả bộ giặt giũ áo quần để nhìn sang bên đó coi hình dáng chồng mình thế nào, thấp hay cao, béo hay gầy. Như biết được ý định của vợ, mỗi lần thấy bà xách xô áo quần xuống sông là ông giả bộ đi tuần. Ðến đoạn đối diện nhau ông giả vờ đằng hắng để cho bà liếc mắt sang. “Lúc đầu tui thấy ông đằng hắng nhưng hôm đó cách nhau đoạn sông rộng nên chỉ thấy dáng người nhỏ bé, chớ có nhìn thấy mặt được mô”, bà Dĩnh kể lại. Lần sau bà Dĩnh thường chọn đoạn sông hẹp nhất (khoảng 50 mét) để nhìn thấy mặt chồng, nhưng cũng chỉ được vài lần thì bọn cảnh sát phát hiện nên những lần sau bà làm động tác giả vờ lấy tay nghiêng vành nón lại để liếc mắt qua ông Châu. Ông Châu cười hề hà bảo: “Lúc ấy ở bên ni sông, tui ngắm nhìn bà thoải mái lắm, nhưng bên nớ bà mần răng mà nhìn tui được một phút...”. Nhiều hôm nhớ chồng bà Dĩnh lại tìm cách ra bờ sông vài lần, khi thì đi trồng sắn, tắm giặt, lúc đi mò cua, bắt ốc... để được nhìn thấy bóng dáng người chồng thân yêu của mình.

Mãi đến cuối năm 1966 ông Châu nhận nhiệm vụ vượt tuyến vào Nam, hoạt động ở vùng thượng nguồn Bến Hải. Cơ sở cách mạng bố trí đưa bà Dĩnh lên chiến khu để được gặp chồng. “Lần đầu tiên hai vợ chồng tui mới nhìn rõ mặt nhau, tui khóc, ông khóc... Nhưng cũng chỉ nhìn được nhau, rồi tui nhận nhiệm vụ đi công tác”, - bà Dĩnh nhớ lại giây phút hạnh phúc nhất của đời mình. Cuộc gặp gỡ chỉ diễn ra trong thời gian ngắn rồi cơ sở đưa bà Dĩnh vượt tuyến ra Bắc. Trớ trêu thay, lần này ông Châu phải ở lại hoạt động ở miền Nam. Mãi cho đến khi đất nước thống nhất, vợ chồng ông Châu và bà Dĩnh mới được sống bên nhau.

Cũng ở ngôi làng nhỏ bên sông Bến Hải này tôi đã gặp chị Hàng Thị Chẫm. Người nữ du kích bé nhỏ từng khét tiếng là một “nữ xạ thủ” của Gio Linh, sau ngày hòa bình chị lại trở thành một nữ hộ sinh, một “bà đỡ” mát tay nổi tiếng trong vùng. Hình ảnh cô du kích bắn tỉa năm xưa và một “bà đỡ” nâng niu những em bé chào đời hôm nay là câu chuyện thật nhưng lại mang vác sức khái quát của lịch sử trong số phận một đời dân. Cũng như đất nước có hàng vạn dòng sông nhưng lịch sử lại ghé chân lên dòng sông hiền hòa bé nhỏ ở miền đất gió cát này, để rồi cùng với độ lùi của thời gian, người ta hiểu hơn cái giá vô bờ của ngày thống nhất, để trân quý hơn những khoảnh khắc hòa bình. Và đi qua dòng sông này không chỉ có những đoàn quân...

Hai mươi năm trước, khi đôi bờ Hiền Lương chưa được tôn tạo trở thành một khu lưu niệm bề thế như hôm nay, có một phóng viên chiến trường đã mang về đầu cầu phía bờ Nam trồng một cây bồ đề để tưởng nhớ những nhà báo đã ngã xuống trên chiến trường Ðông Dương. Người trồng cây bồ đề ấy là Tim Page, một phóng viên ảnh người Anh nổi tiếng, một trong những người sáng lập Quỹ IMMF (Quỹ tưởng niệm báo chí Ðông Dương). Cả chiến trường Ðông Dương mênh mông nhưng Tim Page đã chọn mảnh đất này để trồng một cây xanh nhắc nhở. Rồi năm tháng qua đi, những trận lụt lịch sử tràn qua đây đã khiến cây bồ đề năm xưa Tim Page trồng không còn dấu vết, giấc mơ về một đài tưởng niệm cho những nhà báo chiến trường cho đến giờ vẫn chưa thành hiện thực, nhưng có lẽ ở đôi bờ này không chỉ là chuyện tưởng nhớ những phóng viên chiến tranh hy sinh.

Trong một lần trò chuyện với nhà điêu khắc Phạm Văn Hạng, tác giả của nhiều tượng đài, công trình nổi tiếng, ông nói rằng ở đôi bờ Bến Hải, dọc theo hai phía của cây cầu hãy biến thành một vườn hoa, chỉ trồng hoa thật nhiều, một thảm hoa rực rỡ, và những bông hoa ấy sẽ là sự tưởng niệm và nhắc nhở hay nhất về những năm tháng hôm qua.

Cũng chung ý nghĩ về một “vùng ký ức của đất nước”, nhà văn Ngô Thảo, một người con của Vĩnh Linh đã từng có một đề xuất gửi về tỉnh nhà Quảng Trị rằng nơi đây cần được mang một vẻ đẹp riêng, vẻ đẹp của thống nhất hàn gắn, với đôi bờ sông hoa, với tình cảm của mấy chục tỉnh thành trên cả nước dành cho, không nhất thiết phải tượng đài hoành tráng. Lịch sử Việt Nam đã đi qua dòng sông “cách nhau chỉ một mái chèo” này đằng đẵng hai mươi năm, có tỉnh thành nào trên cả nước lại không có những con em đi qua dòng sông này? Vậy thì hãy để đôi bờ Hiền Lương được quy hoạch theo hướng “của cả nước”, mỗi tỉnh thành sẽ đóng góp cho bài ca dòng sông thống nhất này những công trình riêng của mình nhưng lại hài hòa trong một chỉnh thể mang tính thống nhất và biểu tượng. Không biết ý tưởng của ông và các nhà lãnh đạo tỉnh, nhất là khối văn hóa đã được đồng cảm đến đâu, nhưng trên cơ sở ấy, câu chuyện của Hiền Lương hôm nay sẽ là một câu chuyện đẹp, và sự góp mặt của các vùng miền trên đôi bờ sông tuyến năm nào sẽ ngân cao hơn những nốt nhạc của bài ca khát vọng thống nhất.

Cùng với độ lùi thời gian, ta sẽ càng hiểu hơn cái giá vô bờ của ngày thống nhất, để trân quý hơn những khoảnh khắc hòa bình.

L.V.T

Lê Việt Thường
Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 264

Mới nhất

Thông báo về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí

13/04/2026 lúc 22:15

THÔNG BÁO Về việc sáp nhập và thay đổi địa chỉ truy cập Tạp chí Kính gửi quý bạn đọc,

31/07/2025 lúc 15:23

Tạp chí Cửa Việt - 35 năm một chặng đường

28/06/2025 lúc 16:18

Ngày 28/5/2025, Tạp chí Cửa Việt tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm tạp chí ra số đầu tiên và gặp mặt cộng tác viên năm 2025. Tại buổi lễ, Phó Tổng biên tập phụ trách Hồ Thanh Thọ đã có bài phát biểu khai mạc...

Vùng trời hoa sim

26/06/2025 lúc 23:29

Những triền sim tím đồi xaBềnh bồng nâng gót mùa qua lặng thầm

Hương xưa; Nắng sớm

26/06/2025 lúc 23:27

Hương xưa… Ta về tìm lại hương xưa

Tạp chí số cũ
Câu chuyện du lịch
tư tưởng Hồ Chí Minh

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

18/04

25° - 27°

Mưa

19/04

24° - 26°

Mưa

20/04

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground