Trong những năm tháng ác liệt nhất của chiến tranh chống Mỹ cứu nước, nhiều người dân nơi xóm vạn chài ngã ba Vĩnh Phước - Đại Lộc phải sơ tán vào phía Nam để lánh nạn thì vẫn còn đó 11 hộ gia đình kiên trung bám sông, bám làng làm giao liên phục vụ kháng chiến. Họ đã bất chấp cái chết luôn rình rập trên những nhánh sông đầy rẫy ngư lôi, từ trường, đạn pháo để ngày đêm đưa đò vận chuyển bộ đội, thương binh, tài liệu, lương thực, súng đạn băng sông. Hòa bình lập lại, người còn người mất nhưng những chiến công thầm lặng một thời oanh liệt sẽ luôn còn mãi với thời gian...
Bám trụ làng làm giao liên
Chúng tôi về thôn 5, xã Triệu Thuận (huyện Triệu Phong), nơi 11 hộ gia đình năm xưa đã kiên cường bám sông, bám làng làm giao liên phục vụ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ngôi làng nhỏ nằm sát bờ sông Thạch Hãn xưa kia chỉ là bãi bồi với vài chục hộ dân làm nghề chài lưới lên định cư nhưng nay nó đã trở thành một làng quê trù phú. Sau chiến tranh, người còn người mất nhưng những chiến công thầm lặng của họ vẫn có những con người và dòng sông làm chứng... Ông Nguyễn Chiểu (75 tuổi), trú tại thôn 5, xã Triệu Thuận, người từng làm công tác giao liên năm xưa nhớ lại: “Cách đây gần 50 năm, rất nhiều người dân làm nghề chài lưới tập trung về sinh sống tại khu vực ngã ba Vĩnh Phước - Đại Lộc (Vĩnh Phước thuộc phường Đông Lương, TP. Đông Hà và Đại Lộc thuộc xã Triệu Thuận, Triệu Phong). Người dân sinh sống chủ yếu trên thuyền, một số hộ lên bờ dựng nhà tranh tre tạm bợ để tiện bề sinh hoạt. Hồi đó, nơi đây chỉ là xóm nhỏ chứ không phải rộng rãi, khang trang như bây giờ”.
Thăm lại bến đò xưa nơi 11 hộ gia đình thay phiên nhau làm công tác giao liên khiến những người còn sống như ông Nguyễn Chiểu, Nguyễn Ngọ, Trần Quang đều ngậm ngùi xúc động. “Đó là vào những tháng ngày ác liệt nhất của năm 1972, khi chiến tranh đang bước vào giai đoạn quyết liệt nhất, một phần tỉnh Quảng Trị đã được giải phóng, địch rút sang bờ nam sông Thạch Hãn và tập trung phương tiện, lực lượng quyết chiếm lại vùng giải phóng, nhưng ác liệt nhất vẫn là cuộc chiến đấu 81 ngày đêm bảo vệ Thành Cổ Quảng Trị. Lúc đó, vùng quê này, dòng sông này đạn bom cày xới, nát tan, máu nhuộm đỏ bến sông, dân được lệnh di cư, chủ yếu là ra miền Bắc, số còn lại chạy vào Nam. Cũng trên khúc sông này, nhiều chiến sĩ quân giải phóng và nhân dân vẫn đêm ngày bám trụ kiên cường, chiến đấu bảo vệ xóm làng, bảo vệ vùng giải phóng”, ông Trần Quang (70 tuổi) ở thôn 5, xã Triệu Thuận ngậm ngùi chia sẻ.
Vạn chài Vĩnh Phúc – Đại Lộc có gần 50 hộ gia đình sống bằng nghề chài lưới, sau tháng 4 – 1972 chiến tranh xảy ra quá ác liệt, nhiều hộ gia đình nơi đây đã bỏ nghề di tản. Lúc đó, chỉ còn lại 11 hộ gia đình vẫn bám trụ dòng sông để mưu sinh và làm công tác giao liên đưa bộ đội qua sông, vận chuyển hàng hóa chi viện cho chiến trường, đó là các hộ gia đình ông Nguyễn Chiểu, Trần Quang, Nguyễn Ngọ, Lê Vấn (đã mất), Nguyễn Văn Thất (đã mất năm 1972 trong một lần chở hàng qua sông vướng phải bom từ trường)... Bám làng, bám vạn đò, các hộ gia đình này đã được cấp trên giao nhiệm vụ dùng thuyền máy (loại thuyền nhỏ có gắn máy nổ D6, D8 chạy bằng dầu diesel) để chở bộ đội, thương binh, tài liệu, vũ khí, nhu yếu phẩm, quân trang quân dụng vượt sông chi viện cho mặt trận Thành Cổ. Ngày đó, 11 hộ gia đình được giao nhiệm vụ luân phiên nhau đưa thuyền làm giao liên bất kể ngày đêm. Có khi thuyền xuất bến từ tờ mờ sáng, có lúc giữa đêm khuya hay giữa trưa đứng bóng. “Hồi ấy, chúng tôi luôn trong tâm thế sẵn sàng để nhận nhiệm vụ. Dù công tác đưa đò làm giao liên rất vất vả, hiểm nguy rình rập nhưng đoàn thuyền của chúng tôi luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Chính vì thế, cấp trên luôn rất tin tưởng, đánh giá cao và đó cũng là động lực, niềm tin để 11 hộ gia đình bám làng làm giao liên phục vụ kháng chiến chống Mỹ cứu nước”, ông Nguyễn Chiểu kể lại.
Để bám trụ làng làm giao liên, 11 hộ gia đình đều đào hầm trên bãi bồi ven sông để trú ngụ, họ thay phiên nhau làm nhiệm vụ khi cách mạng giao phó, còn lúc bom đạn tạm yên, mọi người lại quay về với công việc đánh bắt cá của mình để duy trì cuộc sống. Chuyện ăn hầm, ngủ hầm đã quá quen thuộc với 11 hộ dân này và hễ có lệnh đưa thuyền là họ lại ra bến làm nhiệm vụ. Mỗi chuyến giao liên, chồng lái máy thì vợ tát nước, những lúc đêm tối thì các mẹ, các chị làm luôn nhiệm vụ hoa tiêu chỉ dẫn đường đi, nhận diện dấu hiện giao nhận tài liệu... Băng qua mưa bom bão đạn, khi nhiệm vụ hoàn thành họ lại về căn hầm nhỏ dưới lòng đất để chăm sóc con nhỏ. Có lúc về đến hầm, đàn con thơ dại đã thiếp vào giấc ngủ tự bao giờ...
Lặng thầm những chiến công
Đến tận bây giờ, ký ức về những tháng ngày đưa thuyền vận chuyển hàng hóa, tài liệu mật, đưa bộ đội, thương binh qua sông làm nhiệm vụ vẫn in hằn mãi trong tâm trí những người giao liên thầm lặng. Với họ những ngày tháng ấy tuy vất vả, hiểm nguy nhưng rất đỗi tự hào. “Có gì vui hơn khi được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ phục vụ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc thiêng liêng. Đã dấn thân vào làm giao liên là luôn đối diện với cái chết, không ít người đã vĩnh viễn nằm lại trên dòng sông này, thân xác họ đã hòa vào đất đai cây cỏ như cha con ông Nguyễn Văn Thất, Nguyễn Văn Luyến đã mất xác khi thuyền bị vướng bom từ trường. Chúng tôi may mắn sống sót đến ngày độc lập. Bây giờ nhìn thấy sự khởi sắc mạnh mẽ của quê hương Triệu Thuận nói riêng và tỉnh Quảng Trị nói chung, chúng tôi phấn khởi vô cùng và mong muốn thế hệ trẻ sau này hãy ra sức để xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp”, ông Trần Quang bày tỏ.
Quá khứ hào hùng được tái hiện khi chúng tôi nhắc đến những hiểm nguy vất vả và những chiến công thầm lặng mà họ đã làm năm xưa. “Chúng tôi là dân miền sông nước nên nhiệm vụ đưa thuyền làm giao liên là phù hợp nhất. Ngày ấy, dù trên sông đầy rẫy ngư lôi, từ trường, đạn bắn tứ bề nhưng mỗi khi được cấp trên giao nhiệm vụ, chúng tôi lại thấy hãnh diện vô cùng. Trong số các đôi vợ chồng của 11 hộ đưa thuyền này, ai cũng đã từng vài lần suýt chết khi làm nhiệm vụ. Nhiều lần bị địch bắn phá hay thậm chí thuyền đụng phải từ trường, ngư lôi nhưng chúng tôi vẫn hoàn thành nhiệm vụ. Đó là sự may mắn không thể lý giải được và nhờ đó mà chúng tôi mới góp phần làm nên những chiến công cùng quân ta”, ông Nguyễn Chiểu nhớ lại.
Ngồi kế bên, ông Nguyễn Ngọ, 67 tuổi tiếp lời: “Trong các lần đưa thuyền giao liên, tôi và đoàn nhiều lần bị địch tấn công bất ngờ và một lần trong số đó đã khiến tôi bị thương nặng ở đầu, vai, bụng. Máu chảy lênh láng khắp thuyền nhưng nhờ được quân y cứu chữa kịp thời nên sau một thời gian ngắn tôi và vợ mình lại tiếp tục công việc giao liên”.
Ngày đó, đội thuyền máy của 11 hộ gia đình với hơn hai mươi người luôn ngày đêm túc trực làm nhiệm vụ. Có khi thuyền xuất phát từ bến đò ngã ba Vĩnh Phước - Đại Lộc đi thị xã Quảng Trị nhận nhiệm vụ chở tài liệu ra Vĩnh Linh và từ Vĩnh Linh lại chở bộ đội, nhu yếu phẩm trở vào thị xã Quảng Trị; lại có khi từ bến dọc theo sông Thạch Hãn ra Mai Xá (Gio Linh) chở quân vào thị xã Quảng Trị hay chở quân băng sông từ Triệu Thuận qua Triệu Lương, Triệu Lễ (bây giờ là phường Đông Lương, Đông Lễ, TP. Đông Hà) để di chuyển quân chốt chặn đánh địch đánh ra vùng giải phóng. Mỗi lần thuyền rời bến làm nhiệm vụ là mỗi lần những người đưa thuyền đối diện với cái chết. “Nhiều lúc thuyền đang chạy thì bị địch phát hiện, chúng bắn như vãi đạn để ngăn cản, thả ngư lôi, từ trường để chặn đường đi. Mỗi lần như thế, tôi và vợ đều cho dừng thuyền và bảo các chiến sĩ nằm sấp xuống thuyền để tránh đạn, đồng thời tuyệt đối không được nhảy xuống sông vì dễ trúng ngư lôi, từ trường, hoặc bị tức thở do áp suất đạn pháo bắn vào mặt nước tạo nên. Cũng nhờ thế mà thuyền chúng tôi đã bình an vô sự trong suốt quá trình làm nhiệm vụ”, ông Chiểu nhớ lại.
Nhiều lần khi đội thuyền đang chạy ra Mai Xá (Gio Linh), Vĩnh Linh đón các chiến sĩ vào thị xã Quảng Trị chốt đánh hay vận chuyển nhu yếu phẩm thì bị địch phục kích. Ngay lúc đó, với sự mưu trí, nhanh nhẹn đội thuyền đã nhanh chóng lẫn vào hệ thống sông đào, vào các lùm lác ven sông để hạn chế tầm quan sát, bắn phá của địch. Nguy hiểm là vậy nhưng các thành viên trong đội thuyền vẫn quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. “Ngày đó, có khi thuyền đi từ thị xã Quảng Trị ra tới Vĩnh Linh mất cả ngày trời vì phải tránh bom đạn của địch. Ra đến nơi, thường là nghỉ vài ngày để chờ lệnh đưa quân, nhu yếu phẩm vào lại nên mỗi chuyến đi có khi một tuần mới về, bà Phạm Thị Bồng (vợ ông Nguyễn Chiểu) chia sẻ. Không những chỉ có riêng bà Bồng mà nhiều người vợ như bà Trương Thị Trúc (vợ ông Nguyễn Ngọ), bà Phạm Thị Nguyệt (vợ ông Lê Vấn)... cũng ngày đêm theo chồng lên thuyền làm giao liên. Họ đã không quản ngại gian lao, nguy hiểm, gác lại việc riêng tư, con cái để vì nghĩa lớn. Tất cả những chiến công thầm lặng đó đã góp phần làm nên chiến thắng chung của cả dân tộc.
Năm tháng đi qua, trong số họ kẻ còn người mất, nhưng những công lao đóng góp to lớn đó của những con người thầm lặng ở vạn chài Vĩnh Phước – Đại Lộc vẫn còn lưu giữ mãi. Họ đã được Nhà nước khen tặng nhiều Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được UBND tỉnh Quảng Trị tặng Bằng khen vì “Đã có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước”. Dẫu những tấm huy chương, bằng khen ấy chưa thật xứng đáng với công lao to lớn mà họ đã bám làng, bám sông, băng qua lửa đạn để làm công tác giao liên vận chuyển hàng hóa chi viện cho chiến trường, nhưng với họ được Nhà nước ghi nhận công lao đã là một niềm hạnh phúc vì so với những người đã vĩnh viễn nằm lại trên dòng sông quê hương họ vẫn là những người may mắn... Tuy nhiên, nguyện vọng tha thiết của họ là các cấp có thẩm quyền nên xem xét xây dựng bia tưởng niệm ở bến đò ngã ba Vĩnh Phước – Đại Lộc để ghi dấu những chiến công oanh liệt của một thời hào hùng, không chỉ tôn vinh sự hi sinh của những người đi trước mà còn giáo dục truyền thống cách mạng của đất nước, quê hương cho các thế hệ mai sau.
N.B





