Sau giây phút trầm tư, suy ngẫm như để hồi tưởng về những năm tháng cầm súng chiến đấu cùng đồng đội trong đơn vị đặc công của Công an vũ trang Vĩnh Linh bao lần vào sinh ra tử. Với giọng nói hào hứng sôi nổi, cựu chiến binh Hồ Sĩ Chất đã đưa chúng tôi trở về quá khứ hào hùng cách đây gần 60 năm ở vùng nam sông Bến Hải giới tuyến quân sự tạm thời. Vào thời điểm ấy chế độ độc tài Ngô Đình Diệm thực hiện dã tâm thâm độc “kéo dài biên giới Hoa Kỳ đến vĩ tuyến 17”, ban hành luật 10/1959 kéo lê máy chém khắp miền Nam khủng bố, tàn sát những người kháng chiến chống thực dân Pháp, những “Việt cộng nằm vùng”, những cơ sở cách mạng, những gia đình có người thân tập kết ra Bắc… Với chủ trương dã man tàn ác “giết nhầm hơn bỏ sót” Mỹ - ngụy đã bắt bớ, giam cầm sát hại biết bao người dân lương thiện yêu nước thương nòi. Ở bắc Quảng Trị đi tới đâu cũng lan tỏa mùi âm khí chết chóc, đầy cảnh tang tóc đau thương, khăn tang trắng xóa xóm làng…
Trong lực lượng phản quốc hại dân thời điểm này nổi cộm tên nữ tình báo gián điệp CIA mang biệt danh văn hoa, hào nhoáng là “Nữ ký giả Mỹ Hạnh”. Tên thật là Huỳnh Thị Nghệ thường gọi cô Hồng con gái thương gia đại tư sản Sài Gòn Huỳnh Vĩnh Sương. Năm 1955, Thị Nghệ được đại tá tình báo Mỹ Méc-Lin, cố vấn an ninh của ngụy quyền Sài Gòn lựa chọn gửi qua Gu-am chuyên tu nghiệp vụ gián điệp bốn năm. Tốt nghiệp về nước thị được giao nhiệm vụ ra Quảng Trị tổ chức xây dựng chỉ huy mạng lưới gián điệp mật vụ luồn sâu ẩn náu trong các xóm làng ở quận Trung Lương và Gio Linh để phát hiện, chỉ điểm bắn giết Việt cộng nằm vùng, bà con ta là cơ sở cách mạng. Riêng nữ ký giả Mỹ Hạnh đã gây ra biết bao tội ác như chỉ điểm cho bọn ác ôn giết hại mẹ Nguyễn Thị Bảy ở Trung Sơn là cơ sở nuôi giấu an ninh giải phóng. Dã man hơn chúng còn bắt cháu Yến mới 16 tuổi con gái út của mẹ lên đồn tra khảo và thi nhau hãm hiếp cho đến chết rồi quẳng xác ra bờ rào ấp chiến lược. Nhiều Việt cộng nằm vùng bị phát hiện khui hầm chúng bắt lên buộc vào sau xe zéep kéo lê xác chạy qua các xóm làng cho đến chết trong đau đớn tột cùng. Bên cạnh việc chỉ điểm, mật báo xăm hầm “Nữ ký giả” này còn thường xuyên viết bài rồi đọc trên đài truyền thanh Trung Lương qua các cụm loa lớn đường kính 2m chĩa ra bờ Bắc với giọng đọc êm ái, ngọt ngào để tuyên truyền, ca ngợi chủ thuyết “Duy linh - Cần lao nhân vị” của Ngô Đình Diệm… Với nhiều tội ác chồng chất “trời không dung đất không tha” đó mặt trận giải phóng Quảng Trị tuyên án tử hình “Nữ ký giả” trá hình. Chiến sĩ đặc công Công an vũ trang Vĩnh Linh thông minh, dũng cảm là Hồ Sĩ Chất được cấp trên tin tưởng giao nhiệm vụ thi hành án tử này. Cầm bản án trên tay anh hứa với ban chỉ huy quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ “đưa con quỷ Sa Tăng về âm phủ” rồi nai nịt gọn gàng, giắt súng ngắn và dao găm vào lưng, tạm biệt đồng đội, lặng lẽ ra đi.
Cữ mùa hè, nhất là tháng năm nước sông Bến Hải ròng cạn, ở thượng nguồn có nhiều đoạn xắn quần lội qua được. Để “giương đông kích tây” đánh lạc hướng chú ý của địch ban chỉ huy cử hai chiến sĩ mặc đồ lặn kéo một chiếc thuyền từ ngã ba sông về đậu ở giữa dòng gần cầu Hiền Lương. Ở phía thượng nguồn lúc hoàng hôn vừa buông xuống anh chớp thời cơ vượt sông nơi vắng vẻ. Sang bờ nam, anh dùng chiến thuật nguỵ trang tàng hình trườn lăn, bò lết giữa những bụi tre, lùm cây lúp xúp ven sông vượt qua nhiều cồn bãi rồi chui lọt vào hầm bí mật đã đào sẵn trong vườn nhà mẹ Phước ở Trung Sơn chờ trời tối hẳn. Tranh thủ lúc chờ đợi anh mài lại dao găm lau chùi lại súng ngắn, lắp đầy đạn vào hai băng dự trữ, buộc chặt gói thức ăn khô và thuốc chống chó bắt hơi. Sau đó anh hoá trang cẩn thận khắp đầu, mình, chân, tay không để một sơ suất đáng tiếc nào xảy ra như lời dạy của ông cha “sai một li đi một dặm”. Ngồi trong hầm anh nhớ lại một kỷ niệm sâu đậm. Lần đó tổ đặc công của anh vừa vượt sông qua Kinh Môn thì bị bọn mật vụ chỉ điểm báo cho lính biệt kích truy đuổi, vây bắt. Không còn đường thoát nào khác các anh đành chạy vào hầm bí mật sau vườn mẹ Phước. Bọn lính dắt chó săn đến sục sạo, xăm tìm hầm. Ông Tư chồng mẹ lẻn ra sau vườn đốt phăng ngôi nhà tranh của mình rồi kêu la làng xóm đến cứu và la lối đổ tội cho bọn lính đốt nhà dân lành. Lập tức hàng xóm láng giềng kéo đến dập lửa rồi đấu tranh đòi bắt đền. Bọn lính hoảng sợ vội vàng chuồn hết về đồn…
Khi trời tối mịt đêm đen đặc phủ khắp nơi anh rời hầm bí mật rồi dùng chiến thuật nguỵ trang tàng hình đột nhập vào quận lỵ Trung Lương được bảo vệ nghiêm ngặt. Anh rắc đều thuốc chống chó đánh hơi trên đường, nằm dí mũi xuống đất nín thở rồi dùng động tác vận động chiến điêu luyện của đặc công vượt qua cánh đồng, mương nước, bãi lầy, ấp chiến lược né tránh bao ánh đèn pha và những tốp lính bảo an, dân vệ tuần tra canh gác. Gần nửa đêm anh cũng đến được hang ổ của con rắn độc đó là khu nhà hộp kiên cố của cảnh sát đặc biệt. Mới vào tới ngõ khuất gấp khúc anh phát hiện ngay tốp quân cảnh đi tuần. Anh liền chạy lùi lại vài chục mét lại gặp phải tốp lính khác từ sau lưng tiến đến. Làm sao đây trước tình huống tiến thoái lưỡng nan. Nếu trèo lên cột điện để vượt tường rào sang khu nhà khác thì vướng phải ngọn đèn cao áp bảo vệ 500W. Nếu nằm phơi mình dưới ánh điện cực sáng với tấm thân rằn ri như con sâu róm thì nhất định bị phát hiện ngay. Tiếng dày lính lộp cộp từ hai phía tiến ép lại mỗi lúc một to hơn. Trong tình cảnh nguy nan ngàn cân treo sợi tóc, anh mở khoá an toàn súng giảm thanh, cầm dao găm sẵn sàng sống chết với quân thù. Chợt anh nhìn thấy chiếc thùng phi đựng nước cứu hoả đặt sau cột điện cao thế. Như người chết đuối vớ được cọc anh vội đút mọi thứ vào túi ni lông buộc túm lại rồi trườn nhanh vào miệng thùng như con thằn lằn. Anh ngậm vòi cao su tụt người xuống đáy thùng. Mấy phút sau anh nhô vành tai lên khỏi mặt nước nghe ngóng động tĩnh rồi thò đầu lên quan sát. Thấy tạm yên anh quyết định trèo ra ngoài, thoát xa cái ngõ ngách nguy hiểm này. Bám chặt dây thu lôi ngôi nhà hộp anh leo lên tầng hai tìm đến phòng số 6, nơi cư ngụ của “nữ ký giả”. Cửa phòng khoá chặt, thị đã chuyển chỗ ngủ. Giữa đêm khuya anh phải đi tìm Mỹ Hạnh theo địa chỉ thứ hai ở khu gia binh mà mẹ Phước vừa cho biết hôm trước. Lại một quãng đường lăn, lê, bò, trườn gian nan đầy gai góc nguy hiểm. Lần này anh gặp may vì “con rắn độc” đang ẩn náu ở đây, lúc đó đã quá nửa đêm. Vì mình sắp đại diện cho Mặt trận giải phóng đứng trước một phụ nữ đọc bản án nên không thể trần trụi rằn ri được. Anh tẩy trang, lau rửa mặt mày sạch sẽ rồi mặc bộ áo quần mới đẹp đã chuẩn bị sẵn. Vào đúng nơi cư ngụ của tội phạm, anh dùng móc sắt nạy then ngang cửa phòng ngủ thông ra vườn sau. Nữ ký giả ranh ma quỷ quyệt thay đổi chỗ ngủ thường xuyên, chưa có chồng nhưng thị chiếm trọn ngôi biệt thự giữa khu gia binh. Anh rón rén bước tới gần tấm ri đô che giường ngủ của nữ chủ nhân, hồi hộp ngại ngần vì đây là lần đầu anh trai tân nhát gái Sĩ Chất phải lần mò đến phòng riêng của một phụ nữ trẻ đẹp, chưa chồng. Vén hé tấm ri đô, một tình huống hiếm hoi độc đáo xảy ra làm anh sững sờ cả người. Sau màn tuynh xanh mát là một tấm lưng trần trắng ngần và cái cổ nõn nà thanh tú của một thiếu phụ tươi trẻ đang ngồi cho con bú. Chẳng lẽ mình vào nhầm nhà? Cô ta đã có chồng con đâu? Như có linh tính báo điều bất hạnh đang đến gần mình, tấm lưng trần rùng mình rồi bất giác quay lại nhìn thẳng vào anh. Nữ ký giả sửng sốt, kinh ngạc trước một họng súng đen ngòm chỉa thẳng vào mình. Nhanh như chớp thị xoay người luồn tay xuống đệm giường. Anh rắn rỏi ra lệnh:
- Ngồi yên, rút tay ra ngay, động đậy hay la lối là ăn đạn liền. Trong nhà còn ai không? Vừa hỏi anh vừa tiến đến lật nệm, tước súng ngắn của thị.
- Anh thấy đó, chỉ có tôi và đứa con bé nhỏ. Thị dịu ngọt trả lời rồi hỏi lại: - Anh là ai mà vô đây? Chắc là anh nhầm nhà hay cần tiền tiêu?
- Tôi không nhầm cũng chẳng cần tiền, tôi đến để thi hành án tử hình cô Hồng.
Thị vẫn bình tĩnh mỉm cười duyên dáng trả lời: - Anh nhầm rồi đó, chị Hồng ở dãy nhà trước mặt. Còn tôi viết báo chẳng làm gì nên tội mà bị tử hình. Anh làm tôi sợ hết hồn, mời anh ngồi chơi tôi đi pha trà mời anh và biếu anh ít tiền chi tiêu.
Biết thị đang tìm cách câu giờ dùng “Tiền kế” để hoãn binh anh đanh giọng nói:
- Ngồi im, ký giả gì mà chuyên viết bằng loại bút này hở Mỹ Hạnh. Anh chìa khẩu súng ngắn vừa thu được và nói tiếp: - Còn mực là máu của đồng bào vô tội. Chắc mày còn nhớ đến cái chết đau đớn của mẹ Bảy, cháu Yến, nhớ đến trò “kéo lê xác Việt cộng” khắp làng chứ. Huỳnh Thị Nghệ, Mỹ Hạnh, cô Hồng chỉ là một con rắn độc. Mày hãy nghe đây: Bản án từ hình “Mặt trận dân tộc giải phóng Quảng Trị tuyên án tử hình tên gián điệp Huỳnh Thị Nghệ tức cô Hồng và Mỹ Hạnh phạm tội phản quốc hại dân theo Mỹ - ngụy gây nhiều tội ác với cách mạng và đồng bào”.
Đọc xong anh lạnh lùng bảo:
- Cho phép tử tội nói lời cuối cùng!
Mặt thị đang trắng bệch bỗng rắn đanh lại và cảnh báo:
- Sau tiếng súng nổ anh chẳng thoát ra khỏi quận lỵ được. Tôi khuyên anh cất bản án rồi rút ra theo đường cũ. Về đơn vị anh nộp khẩu súng có khắc chữ Mỹ Hạnh là xong. Cả anh và tôi cùng phải sống vì còn quá trẻ. Tôi sẽ về ẩn náu ở Sài Gòn là êm chuyện, biết đâu mai sau anh em mình sẽ trở nên thân thiết sống gần gũi nhau.
Quả thật là thị có mưu trí và bản lĩnh. Tôi giương khẩu súng giảm thanh lên rắn rỏi nói: - Súng giảm thanh của Việt cộng lợi hại lắm biết ai trị được ai. Hãy đặt con xuống đứng úp mặt vào tường để nhận án.
Sau phút giây im lặng, thị cất giọng run rẩy, đứt quãng:
- Em hiểu những lỗi lầm của mình sẽ có ngày bị xử lý. Giá em không có đứa con tội nghiệp này. Trước khi chết em kính xin anh làm phúc cho cháu được bú sữa mẹ lần cuối cùng.
Thị cố nặn dòng sữa trong lành chảy nhanh vào miệng con mình. Thị khóc tuôn những giọt nước mắt hối hận rơi xuống đầy mặt đứa con không cha do thị sinh ra sau lần về Sài Gòn ăn chơi quá đà. Như đã no nê sữa mẹ đứa bé lim dim ngủ. Thị hôn hít con lần cuối cùng, nghẹn ngào nói: “Con ơi từ nay con mất mẹ rồi vì mẹ có tội với nước với dân nên phải bỏ con lại một mình. Con tha lỗi cho mẹ, tội nghiệp con còn quá thơ dại, mẹ rất mong con được sống làm người lương thiện”. Thị khóc nấc lên, đặt con nằm ngay ngắn giữa giường, đắp chăn len lên ngực con rồi mặc vội tấm áo mỏng đứng lên chờ chết.
Tình cảnh ấy làm anh cảm động xao xuyến, trân trân đứng nhìn đứa bé với lòng xót thương tột độ. Cháu lại vô tư như chúm chím cười… Nhưng ý thức hoàn thành nhiệm vụ và trả thù cho mẹ Bảy, cháu Yến cùng nhiều đồng đội đồng bào lại bùng lên. Bàn tay anh như chiếc kềm sắt nắm chặt súng đưa lên hướng thẳng vào ngực trái Mỹ Hạnh. Đừng đắn đo suy tính, đừng mềm yếu lưỡng lự sẽ run tay. Đầu ruồi khẩu súng giảm thanh trên tay anh lại chĩa thẳng vào Mỹ Hạnh, nhưng trong óc anh lại hiện lên khuôn mặt thơ ngây của cháu bé vô tội bê bết máu. Anh sực nhớ đến lời dạy của Bác “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Anh rùng mình nới lỏng dần ngón tay trong vòng cò súng rồi chậm rãi hỏi thị:
- Sau khi mẹ chết đứa trẻ ở với ai? Cha nó đâu?
- Cháu không có cha. Tôi có nó sau mấy đêm về đô thành xả hơi tận hưởng lạc thú cuộc đời. Ai ngờ xui xẻo thế này. Xin anh cho cháu được ra đi cùng mẹ, tôi không đang tâm giết con, cầu xin anh. Tôi không muốn đời cháu lầm lạc bất hạnh như mẹ.
Nghe Mỹ Hạnh nói có vẻ chân thành, anh phân vân suy tính: Hay mình hoãn thi hành án? Về báo cáo thế nào với chỉ huy và đồng đội? Giải thích với mẹ Phước, ông Tư và cơ sở thế nào? Bao nghi vấn ngờ vực sẽ dồn lên mình một kẻ hèn hạ hám tiền, bị gái dắt mũi, “úy tử tham sinh, bất tuân thượng lệnh”… Chưa có lần nào anh thi hành án tử rắc rối khó xử như lần này. Nếu giết cô ta thì lương tâm mình mãi mãi bị giày vò cắn rứt. Kẻ thù sẽ rêu rao “Cộng sản vô nhân đạo”. Hàng ngàn thân nhân ngụy quân ngụy quyền sẽ nghĩ méo mó về quân giải phóng. Chợt một ý nghĩ mới mẻ đến với anh: Giết mẹ đứa trẻ mới sinh chính là giết đứa trẻ đó. Luật pháp nước ta cũng cho phép nữ tử tội được sống nuôi con cho đến khi hết bú mẹ, mình cũng sẽ làm như thế. Biết bao suy nghĩ ngược chiều dằng xé trí não bắt anh phải đắn đo cân nhắc. Chợt anh sực nhớ lời dạy của tiền nhân “đánh kẻ chạy đi chứ không đánh người chạy lại”. Anh bảo Mỹ Hạnh:
- Chị hãy nghĩ ra cách để tự cứu sống mình!
- Tôi đâu còn cứu được mình nữa khi đã bị án tử hình. Tôi muốn cứu con tôi, xin anh cho tôi sống mấy tháng nữa đến khi con cai sữa.
Anh bình tĩnh bảo: - Chị có thể sống với cháu trọn đời nếu chị biết lập công chuộc tội. Chị là chỉ huy cụm gián điệp mật vụ Bắc Quảng Trị?
- Dạ phải, nhưng đã mãn nhiệm vì sinh con. Vậy theo anh tôi phải làm gì?
- Trao cho mặt trận mọi bí mật thuộc cương vị chị biết, chị sẽ thoát tội tử hình.
- Vì tôi đang nghỉ sinh con nên hồ sơ tài liệu thượng cấp giữ hết.
- Tức là không còn gì để nói nữa. Chị đứng lên để tôi thi hành án tử, đứng lên mau.
- Thưa anh khi trao xong tài liệu rồi tôi có còn được sống để nuôi con như anh hứa không?
- Người cộng sản chúng tôi thấm nhuần lời dạy của cha ông: “Quân tử nhất ngôn”, hứa lời phải thực hiện lời.
Mỹ Hạnh bình tĩnh kéo phéc - mơ - tuy đi - văng lấy ra một tờ giấy khổ rộng vẽ sơ đồ mạng lưới mật vụ trao cho anh. Anh dán mắt đến hai mũi tên phóng sang bờ Bắc nhất là mũi thứ hai có bí số CN48 cắm sát đồn Công an Hiền Lương rồi bảo:
- Cô cho tôi biết rõ về CN48.
- Rồi anh sẽ biết mọi bí số và nhiệm vụ mật của từng người, CN48 là Trần Xuân Liệu, điệp viên cải trang thợ cắt tóc tôi cài sang bờ Bắc.
Anh phấn chấn cố giữ vẽ bình thản gấp nhỏ tờ giấy cẩn thận đút vào túi áo. Đến lúc này anh mới vỡ lẽ, hiểu rõ vì sao CN48 giấu tin ông Tư chồng mẹ Phước vừa bị bắt để anh và đồng đội có thể sa bẫy địch. Bước đầu anh ghi nhận sự chính xác của bản tài liệu vừa thu được. Thấy anh im lặng Mỹ Hạnh hỏi dò:
- Với tài liệu đó đã đủ tin chưa thưa anh.
- Tuy chưa qua kiểm chứng nhưng kinh nghiệm nghiệp vụ cho tôi tin ít nhiều. Khi tôi ra khỏi đây có thể cô sẽ phản bội lời hứa lập công chuộc tội. Cô nên biết là người thợ bắt rắn luôn tìm được đến những hang ổ bí mật nhất để bắt con rắn độc nhất. Tôi vẫn tin cô thực hiện đúng lời hứa để chuộc hết tội lỗi trở thành người hữu ích. Lập tức anh bật lửa đốt cháy bản án từ hình, khuôn mặt Mỹ Hạnh tươi sáng rạng rỡ trong ánh lửa. Cô ta dịu dàng phấn khởi nói:
- Thế là từ nay tôi biến thành một A-Giăng-Đúp (Gián điệp hai mang)?
- Không, cô đã lột xác trở thành người dân Việt Nam có ích, thoát ra từ bóng tối để đón ánh bình minh.
Lòng tin của anh đã đặt đúng chỗ. Hai ngày sau ông Tư được địch thả ra, sau đó Mỹ Hạnh lại cung cấp nhiều thông tin chính xác quan trọng rồi dần dần trở thành cơ sơ bí mật của an ninh giải phóng cắm sâu vào hang ổ địch. Anh và Mỹ Hạnh quy ước mỗi tháng gặp nhau một lần để giao nhiệm vụ và nhận báo cáo, giờ gặp gỡ vào lúc Đài Truyền thanh Vĩnh Linh phát bản nhạc “Câu hò bên bến Hiền Lương”.
Có lần không gặp Hạnh, anh đến hộp thư chết nhận được báo cáo viết bằng mực hóa học do Hạnh khôn ngoan ngụy trang như một bức thư tình bằng câu hát: Thuyền ơi có nhớ bến chăng/ Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền. Quá bồi hồi xúc động anh cũng viết tiếp hai câu để dặn dò đồng đội: Nhắn ai luôn giữ câu nguyền/ Trong cơn bão tố vững bền lòng son!
Vượt qua thời gian thử thách cảm hóa và đặc biệt là hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, Mỹ Hạnh đã “cải tà quy chính”, trở thành người chiến sĩ tình báo của an ninh giải phóng và lập nhiều chiến công trong sự nghiệp chống giặc ngoại xâm.
Chia tay CCB Hồ Sĩ Chất lòng tôi vô cùng cảm phục, ngưỡng mộ, kính trọng người chiến sĩ Công an vũ trang mưu trí thông minh dũng cảm, đã nêu cao phẩm chất sáng ngời của “anh Bộ đội Cụ Hồ” có lòng nhân ái cao thượng. Anh vừa hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ vừa cảm hóa giáo dục mở đường cho một tử tội cải tà quy chính, vừa mở đường sống cho cháu bé vô tội mới lọt lòng mẹ, thực hiện một cách xuất sắc lời dạy của Bác Hồ kính yêu.
N.X.P
(Ghi theo lời kể của CCB Hồ Sĩ Chất nguyên Tiểu đội trưởng trong phân đội đặc công thuộc Công an vũ trang khu vực Vĩnh Linh từ 1959 đến 1969, quê ở Hương Văn, Hương Trà, Thừa Thiên Huế.)





