Bến đò quê
Tôi nhớ như in trên bến đò quê ấy nhiều bà mẹ chen lấn qua sông để kịp đến phiên chợ. Họ mang theo những gì có được, một mớ cải, mớ khoai lang, hay một lồng gà vịt mà họ chăm bẵm từng ngày. Cái gì tốt, ngon mà họ nuôi trồng được, họ chuẩn bị cả đêm để sáng mai kịp qua chuyến đò xuôi về chợ huyện. Những người mẹ gánh trên vai đi như chạy, mồ hôi nhễ nhại trên vai, trên trán, không quên chuyện trò với những người trong chuyến cho vơi đi cái mệt, cái lo chợ vãn. Cứ thế, bến đò là chiếc cầu nối duy nhất của người dân quê tôi lên phố huyện. Những ngày giáp tết bến đò lại càng đông đúc, người ở đâu họ cũng qua sông mua đủ thứ sản vật người làng tôi làm được, rồi chất đầy một xe kéo ngược ra bến sông, họ thầu nhiều chuyến đò ngang, đến nỗi mạ tôi đi từ tinh mơ chen mãi mới đứng được một góc, đò chồng chềnh như sắp chìm. Tiếng người gọi nhau, tiếng đòn, tiếng gánh, tiếng nước lội ì oặp, râm ran cả bến đò, ai cũng muốn qua sông thật nhanh để đến chợ huyện mua vật dụng sắm sửa cho những ngày tết đang cận kề. Bước chân tất tả của những người mẹ kịp về nhà mừng cho con chiếc khăn, áo mới mà phải tính toán lắm mới đủ.
Trên chặng đường lên chợ huyện, tôi thích nhất là được ngồi trên chuyến đò ngang, qua bên kia sông rồi chạy qua cánh đồng để được nhìn ngắm thị xã mà đêm đêm điện đèn cứ lấp ló làm những đứa trẻ bên này sông như chúng tôi cứ hay mơ tưởng, tò mò. Cái màu đỏ vàng từng đêm len vào giấc ngủ chập chờn của tôi, thắp trong người những đứa trẻ chăn trâu, chăn vịt như chúng tôi một ước mơ gần gũi. Tôi cứ mơ ước, có một ngày chúng tôi được sống trong thị xã ánh điện lung linh, được đạp xe chứ không phải mò mẫm từng bước chân trên con đường trơn trượt đêm tối tĩnh mịch; ánh điện sáng khắp nhà chứ không phải đi mua từng ngàn dầu về thắp cho mấy đứa em học bài. Đã bao lần qua sông, được mạ dặn dò kỹ, nhưng trong tôi lúc nào cũng hồi hộp. Mưa phùn của mùa Đông, có cảm giác khi đò ra giữa mặt sông nước xiết mọi người trên chuyến ai cũng nói khẽ, cũng nín thở lặng mình. Nhưng đò vừa cập bến là một quang cảnh khác hẳn, người lên kẻ xuống, nước lội bì bõm bắn cả lên nhau.
Khi tôi lớn lên, bến đò được thay bằng cầu phao và mỗi lần qua lại nghe tiếng rung khắp mặt sông. Người lái đò và con đò kia đã trở thành ký ức, không biết con đò đó còn chở chuyến nào nữa không! Khi quê tôi xây dựng nông thôn mới, đường sá bê tông đến tận nhà, cầu phao cũng được thay bằng cây cầu xi măng. Mỗi lần về quê vào dịp mùa Xuân, đi qua cây cầu mới là niềm tự hào, ước ao bao đời của những người dân quê. Tôi thường nhìn về hai bến đò xưa, ở đó những cây xoan nở trắng gối đầu trên các rặng tre, mưa bụi làm rơi những cánh hoa đung đưa theo làn nước, một bến đò xưa lặng lẽ với mưa.
Cây mồ côi
Không biết từ bao giờ, người dân quê tôi gọi loại cây này là cây mồ côi. Tò mò, tôi đã đi khắp làng tìm gặp các cụ cao niên đến những người hiểu biết nhất vùng để hỏi nguồn gốc cây mồ côi hay một truyền tích nào đó về cây mồ côi, nhưng tất cả đều lắc đầu. Chỉ có một điểm lạ là cây này thích mọc một mình, xa xa gần chục mét mới có cây khác, tuyệt nhiên không bao giờ thấy chúng quần tụ cùng nhau. Mỗi cây, một góc, tự mình phát triển, tự mình chống chọi với thiên nhiên, an nhiên và tự tại... hay là bởi vậy, nên người đời tự đặt là cây mồ côi.
Ngày trước, bọn trẻ chúng tôi thấy cây này là tránh xa vì người lớn bảo là có độc; hay tại cây mang tiếng mồ côi, chúng lại mọc quanh các ngôi mộ, im lìm, trầm mặc nên chúng tôi cứ kháo nhau là cây ma, thế là sợ và chẳng bao giờ đụng đến nó, dù trái chín của nó từng chùm mọng ướt mời gọi.
Cây mồ côi mọc ở những triền cát xen lẫn những cây bụi ở cuối làng, quê tôi gọi là “rú” dùng để làm nghĩa địa của làng. Mỗi dịp lễ, dịp tết muốn vào viếng người thân cũng phải cúi luồn qua bao lớp cây leo, cây bụi mới vào được, nhưng hễ gặp cây mồ côi là mọi người tránh đi đường khác. Bỗng thời gian gần đây, không hiểu sao mấy người ở tận đâu đâu về đào đào, bới bới cây mồ côi, họ lấy tận cả rễ, lá đem đi, khi mọi người trong làng biết được tác dụng và giá trị của cây mồ côi thì chúng đã không còn nữa...
Gần cuối làng có ngôi nhà cũng buồn buồn như cây mồ côi ấy, ngôi nhà mà đến mấy thế hệ vẫn mồ côi. Ba mẹ của anh bị cơn lũ kinh hoàng cuốn trôi ra biển; chị ở nhà ngoại cách mấy “đụn cát”, ba chị hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, mẹ chị bị bạo bệnh cũng mất cách đó mấy năm. Hai người có cùng hoàn cảnh mồ côi gặp nhau, tìm hiểu rồi thương nhau. Lấy nhau được hơn chục năm, ai cũng mừng cho anh chị, một gia đình hạnh phúc, mấy đứa con trai gái chăm ngoan. Một dịp cuối năm, tôi về thăm quê nghe tin anh chị bị tai nạn mất, bên ngoại, bên nội cũng không còn ai thân thích, chỉ còn một ông chú bị tâm thần lúc nhớ, lúc quên. Mấy người họ hàng xa xa xúm vào lo hậu sự cho anh chị. Thương lắm hoàn cảnh ba đứa trẻ của anh chị lại phải mồ côi. Đứa lớn mới mười hai tuổi đứng ra lo từng bữa ăn, giấc ngủ cho hai đứa em. Hết gạo cũng nhờ bác hàng xóm mang lúa đi xay, em ốm đau khi trái gió trở trời một mình đạp xe lên Trạm xá xin thuốc. Tối về ba chị em ôm nhau, dỗ dành nhau vào giấc ngủ. Thấy hoàn cảnh của các em, tôi lại nhớ đến bóng dáng đơn độc của cây mồ côi và những câu thơ day dứt: “Ba cháu không mẹ cha/ Như ba hạt mưa sa/ Lăn lốc rơi, côi cút”.
L.N.T





