Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị 02/12/2020 Danh sách tạp chí Hotline: 02333 852 458 Đặt báo Giới thiệu tạp chí

Tìm kiếm trên website chúng tôi

X

Biển khơi thương nhớ

"Ơi… mênh mông biển khơi câu hò thương nhớ"
(Xa khơi - Nguyễn Tài Tuệ)

Đất trời đang vào mùa ẩm ương. Đã hết bóng dáng những ngày hè đổ lửa. Nay thì bất chợt mưa, bất chợt gió.

“Ơi… mênh mông biển khơi câu hò thương nhớ”

(Xa khơi - Nguyễn Tài Tuệ)

 

Đ

ất trời đang vào mùa ẩm ương. Đã hết bóng dáng những ngày hè đổ lửa. Nay thì bất chợt mưa, bất chợt gió. Chen giữa là nắng hoe vàng, óng ả rót xuống như tơ như mật trên một bầu trời lúc nào cũng vần vũ mây trôi. Nếu ở biển một ngày, bạn sẽ cảm nhận rõ nhất điều ấy. Không còn những con sóng êm đềm, nồm nam mát rượi với dải nước xanh trong mơn man bờ cát trắng. Thay vào đó, nước biển đã ngả sang cái màu bàng bạc, sóng đã biết gầm gào, triều xuống triều lên sáng chiều bất chợt, cơ chừng báo hiệu một mùa biển động đang cận kề.

Vì trót đam mê cái thú đi câu, lại tuân thủ quy tắc bất di bất dịch mà giới cần thủ buộc phải nằm lòng: “hè câu sông, đông câu biển”, nên bất chấp mưa gió tơi bời và cái dữ dội của biển mới đi qua cơn bão. Những ngày nghỉ, nhóm cần thủ chúng tôi ăn dầm ở dề ở làng chài Thái Lai, đánh vật với sóng, với gió, với cát. Câu cá bờ biển (câu bạt) là một trong những kiểu câu thông thường nhưng rất kén người chơi, vì ngoài đòi hỏi kỹ thuật khá khó và phức tạp, dụng cụ phải thuộc hàng dị biệt. Đặc biệt nhất là người câu phải có khả năng chịu nước, chịu rét và… chịu đói giỏi mới trụ nổi. Thế nên, khi phong trào câu cá đang rộ như nấm sau mưa, nhưng dám vác cần câu đứng đối diện với sóng biển trong mưa gió rét mướt, thì chỉ một nhóm đếm chưa hết đầu ngón tay.

Làng chài mùa này vắng vẻ. Những con thuyền gỗ nằm úp mặt, trốn biệt bên những gốc dương sát tận lề đường. Quán xá khu dịch vụ qua một mùa hè ăn nhậu rộn ràng, giờ cũng tiêu điều, hoang vắng; bao thứ tôn, bạt, nilon, lá cọ bay phất phơ, trông buồn thiu. Thứ còn lại nhiều nhất trên bãi biển là rác, cơ man các loại rác, không hiểu chúng đến từ đâu, từ sóng biển đánh dạt vào hay từ bờ xả xuống theo lệch nước mùa mưa. Buổi trưa, có lão ngư thong thả xuống bãi. Sau một hồi quan sát chúng tôi kéo câu với những chú cá ong bé tẹo, lão cười hiền từ, giọng miền biển nghe rổn rảng “mấy chú có biết câu rạn khôông?”. Lũ chúng tôi nghệch mặt. “Phải ra rạn mới có cá. Ngoài nớ tề”. Lão vừa nói vừa chỉ tay ra biển. Giữa mênh mông xa tít ấy, đâu cũng một màu nước, một kiểu sóng, mù mịt trùng khơi. Rứa thì biết cái “rạn” ở mô? Mà “rạn” là cái chi? Lão giải thích: “Nó là vùng như đồi núi đá, là san hô, đầy hang hốc, ngóc ngách, nhưng nằm sâu dưới lòng biển. Cá mú nó sống ở đó, chứ quanh bờ cát ni thì có con chi…” Ra là vậy. Chúng tôi hạ cần, vây quanh lão, trở thành những đứa học trò ngoan ngoãn ngồi há mồm nuốt từng lời “thầy” chỉ dạy. Sau một hồi “thuyết trình” việc đi lại, truyền thụ kinh nghiệm, cách câu và các thứ phải chuẩn bị, lão chốt một câu chắc nịch: “Sáng mốt về đây, mua cho ôông can dầu với tút thuốc, ôông đem đi một chuyến cho biết”.

Đêm trước chuyến ra khơi, thú thật, tôi không tài nào ngủ được. Một cảm giác xốn xang, lo sợ xen lẫn háo hức, mong ngóng cứ quấn lấy đầu óc đến mụ mị. Tôi đã từng đi những chuyến đi rất xa, đã từng trèo đèo lội suối mệt đứt hơi ở miền rừng núi những Cù Bai, Hướng Lập, Vĩnh Ô… nhưng chưa bao giờ thấy chộn rộn kỳ lạ như chuyến đi này. Lên mạng tìm hiểu rồi hỏi han bạn bè, lại càng thấy rối, bởi toàn nghe những lời cảnh báo đủ sức đánh gục cái ý định phiêu lưu ngày mai. Rằng, sẽ có những con sóng cao như mái nhà, hất văng con thuyền như trẻ con ném trái bóng. Rằng, sẽ say sóng đến mềm nhũn người, không biết đất trời chi chi. Rằng, nếu xui xẻo thuyền sẽ chết máy, cứ vậy trôi dạt lênh đênh, vô định, và đói, và rét… Nhưng khi nghĩ đến cái ánh mắt bình thản, cái giọng quả quyết đầy tự tin, chắc nịch của lão ngư ấy, lại thấy an lòng hẳn.

Sáng, chừng đã quá nửa buổi, chúng tôi lên thuyền. Biển trông khá hiền lành. Nắng gắt. Gió lặng. Mây trắng vẩn vơ từng dải mỏng tang. Đầu thuyền, lão ngư chỉ độc cái quần cộc và tấm áo không cúc, phong phanh ưỡn ngực đen bóng như đồng thau, đối lập hoàn toàn với chúng tôi, với đồ bảo hộ bịt kín từ đầu đến chân, chỉ lòi hai con mắt, lại khoác thêm cái áo phao đỏ chóe, trông cứng đờ như những con rô-bốt. Không nói ra nhưng thằng nào cũng run. Cái lo sợ toát ra ngay từ hơi thở, ánh mắt. Những công dân đồng bằng, nói như phương ngữ vùng này là dân “kẻ rọng”, lần đầu ra khơi, lênh đênh giữa biển, tôi đồ rằng ai cũng có tâm trạng vậy. Như để trấn an tinh thần, lão ngư ngước nhìn trời, quẹt lửa hút thuốc rồi bâng quơ động viên: “Trời ni thì biển lặng thôi, mà nắng hơi to hè…?”

Phành phạch máy nổ, con thuyền gỗ đè sóng hướng ra khơi. Bờ bãi dần lùi xa. Màu nước bên mạn thuyền cứ ngày càng xanh thẫm, cơ chừng đã sâu lắm rồi. “Mới khoảng 10 sải nước thôi”, lão ngư vừa lái thuyền vừa giải thích. Ở biển, người ta ước độ sâu của nước bằng sải tay. Một sải tay tầm mét rưỡi. Nghĩa là “mới” sâu có 15 mét nước tính từ đáy thuyền xuống. Tôi… hết dám nhìn. Biển vắng tanh, không một bóng dáng thuyền bè qua lại. Thi thoảng, một tốp cá chuồn đua theo bên mạn, thi nhau bay vọt khỏi mặt nước như những mũi tên bạc, trông thật kỳ thú. Xa xa, vài cánh chim trắng chao lượn… Theo lời lão ngư thì mùa này dân biển chỉ đi câu mực hoặc thả lưới cá doái (cá giồng) vào ban đêm, sáng sớm đã về, thi thoảng khi chiều muộn, nước lên và nồm to thì có cá be “ngời” (tức cá me, một loại cá nhỏ nổi thành từng quầng trên mặt nước) thì đi xúc, dân quanh bờ thì rọi đèn bắt mực trùm (bạch tuộc nhỏ), nhưng chỉ đủ nhậu… Quanh đi quẩn lại chỉ có vậy. Vùng biển gần bờ này cơ bản đã hết cá rồi. Bọn làm “giã cào” (một cách đánh cá theo kiểu tận diệt) ngày nào cũng cày ngang cày dọc, vét sạch. Giọng lão chùng xuống, ánh mắt đăm chiêu. Nhìn quanh, biển mênh mông, sâu thăm thẳm. Nơi chốn này mà bảo đã hết cá tôm, nghe thật hài và không thể tin nổi! Nhưng nhìn lão ngư ấy, 63 tuổi, một đời can trường với biển, thuộc từng luồng lạch, con nước; rõ từng mùa vụ cá, tôm; chuẩn từng canh giờ triều lên triều xuống, nhìn nước biết nông sâu, nhìn trời nhìn mây biết bão giông hay bình lặng. Vậy thì lời lão nói cũng đã là lời kiểm chứng về thực trạng nghiệt ngã đang hiện hữu nơi đây rồi. Trong mông lung nghĩ ngợi, tôi hướng mắt ngắm kỹ hơn người đàn ông đang nắm cần lái đầu mui thuyền. Tuổi ấy nhưng lão ngư vẫn như một khối gỗ lũa mà chắc rằng chẳng có thứ sóng, gió, nắng nào có thể đẽo gọt được gì. Ngoài cái dáng thấp đậm, da đen bóng, đôi cánh tay cuộn cơ bắp và cái giọng oang oang đặc trưng của ngư phủ miền biển, lão còn có đôi bàn chân thật lạ. Nó như đôi mái chèo, thô kệch và dài thuỗn, với những ngón chân cứ trần trụi, sần sục xòe ra. Có lẽ vì từ khi chập chững đến hôm nay, đôi bàn chân ấy chỉ biết có vậy: hết bấm trảng cát lại miết mạn thuyền.

Đã hơn một giờ đồng hồ mà thuyền vẫn cứ nghếch mũi lao ra khơi. Ngoái nhìn bờ, chỉ còn một vệt nước màu xanh nhạt. Bốn phía là đường chân trời ôm vòng lại, tựa như chiếc vung khổng lồ úp xoong nước biển. Con thuyền giờ chỉ như chiếc lá thả trôi dập dềnh trong xoong nước ấy. Đã xa ngái lắm rồi. Một chút hối tiếc, ân hận như làn khói mỏng thoáng qua trong đầu. Chợt nghĩ đến câu nói của ai đó, rằng “cứ đi, rồi sẽ đến…”, tôi tặc lưỡi cho cái cảm giác ấy trôi qua nhanh. Tiếng máy dần nhỏ lại và tắt hẳn. Lão ngư khom người nhìn mặt biển dưới chân. Đến rạn. Lão lạch cạch thả neo cuối mũi. Cuộn dây thừng trôi tuồn tuột xuống đáy. Thuyền cứ xoay vòng vòng như cái lồng đèn trẻ con, mãi lúc sau mới chịu đứng yên. 25 - 30 sải nước, nghĩa là tầm hơn bốn chục mét độ sâu. Giữa mênh mông và hun hút thế này mà định vị được rạn, dừng phát trúng phóc, neo phát đứng yên, không hiểu lão “cân” phương hướng bằng cách gì. Nhìn trời nhìn mây, nhìn nước chảy, gió thổi, sóng xô thế nào đó, tài thật! Chúng tôi lục tục chuẩn bị. Một thành viên nhóm đã bị những cơn say sóng đánh gục, nằm thẳng đơ trên sạp thuyền. Tôi cũng nghe đầu óc váng vất. Cũng may, khi hình dung rằng, dưới chân là một kho cá tôm đang chờ kéo lên thuyền, cái nôn nao ấy đã tan biến. Cá ở rạn có hàng chục loại, nhiều nhất là mú, hồng, hanh, khoang cổ, ớ, phèn, sơn… Để “tải” chúng dưới thẳm sâu ấy lên thuyền, ngoài cần câu siêu cứng, máy câu cực khỏe, cước chuẩn dai bền, cần phải sử dụng thêm một thứ đặc biệt, đó là “đẵng”. Thực chất đó là một thanh thép phi 4, uốn cong hình bán nguyệt, bẻ móc gập hai đầu, giữa hàn một khoen thép nhỏ buộc cục chì nặng. Một đầu đẵng câu được nối với cước trong lô máy, một đầu nối thẻo câu 2 - 3 lưỡi. Khi máy xả cước, cục chì mang chùm lưỡi lao xuống, cái đẵng ấy sẽ xoay vòng, trở thành cần lái điều tiết đường đi của câu. Dưới đáy biển luôn có những dòng chảy rất xiết, vì vậy, đẵng câu ấy còn có tác dụng chống rối, chống vướng đá và xoắn thẻo lưỡi. Nôm na là vậy. Đây là cách câu kỳ lạ lần đầu tiên chúng tôi thực hành. Đương nhiên, từ lý thuyết đến thực tế là một chuyện.

Hơn ba chục phút loay hoay mà cả nhóm chúng tôi chẳng làm nên trò trống gì. Lão ngư, sau một hồi định vị neo, buộc thừng để cố định thuyền và sắp đặt mấy thứ lặt vặt dưới khoang. Xong xuôi, lão thong thả đốt thuốc rồi câu thực nghiệm cho chúng tôi theo. Lão không cần mấy thứ đồ nghề hiện đại, bài bản và vướng víu. Chỉ một ống nhựa quấn cuộn cước thô, một cây đẵng rỉ rét buộc cục sắt nặng trịch và hai cái lưỡi câu “chợ”. Lão móc mồi là mấy miếng mực tươi đã cắt nhỏ và thả “tủm” xuống mép nước ngay mạn thuyền. Tay lão “vê” sợi cước có cảm giác dẽo và mềm như đang nắm sợi bún, khuỷu tay tì nhẹ mạn, cứ vậy cứ kéo thả kéo thả, nhấm nhẵng, mềm mại, đều đặn trông cực nghề. Đó là cách làm cho đẵng câu “đi” êm qua những vật cản, không bị vướng, cho thẻo câu luôn dịch chuyển và mồi câu động đậy để thu hút cá. Chỉ một loáng, khi điếu thuốc trên miệng chưa cháy hết, lão đã quấn cước và lôi lên hai con mú hoa trong những ánh mắt đầy thích thú và thán phục của những gã học việc chúng tôi. Nguyên tắc của việc câu này là làm sao để mồi xuống đáy thật nhanh và khi cá ăn mồi thì đưa lên thuyền nhanh nhất có thể. Nhưng bí quyết cốt tử nằm ở chỗ phải làm sao để điều khiển cây đẵng mang chùm lưỡi có mồi câu ấy rơi đúng vào hang, hẻm, ngách có cá ở. Lão ngư bảo chỉ cần nghe tiếng “cạch” của cục chì chạm đáy là biết trúng trật ra sao. Nghe “bụp” hoặc im thin thít là trúng bùn. Vứt. Cá ăn mồi rung dây, vít nặng nhẹ đầu cần là biết loại gì, to hay nhỏ, đơn hay đôi... Nhưng “nghe” ở đây là nghe… bằng tay, bằng cảm giác từ đáy biển sâu mấy chục mét ấy truyền lên qua sợi cước mỏng tang trong cái ầm ào của sóng và dập dềnh trồi trụt của con thuyền. Chịu thật. Chỉ có kinh nghiệm dạn dày ngư trường của những người như lão mới hiểu và cảm nhận nổi. Lão cười động viên “mấy chú cứ từ từ, rồi sẽ quen thôi mà”.

Quá trưa, chúng tôi cũng đã dần kịp bắt nhịp. Những chú cá vừa, nhỏ đủ loại, đủ các kiểu màu sắc đã “chịu” theo câu lên thuyền trong tiếng cười nói, la hét đầy phấn khích. Thi thoảng, chen lẫn là những tiếng xuýt xoa vì đứt lưỡi hay những ánh mắt thẩn thờ tiếc nuối vì bị tuột “hàng”. Cảm giác “chinh phục đại dương”, tự tay câu lên từ đáy biển những con mú, con hồng tươi rói, to như cổ tay là quá đủ để quên hết mệt nhọc, quên cả đói, khát. Giờ thì tôi mới hiểu vì sao phải cực nhọc vượt biển hàng chục cây số để ra rạn. Dưới những quần thể đầy đá, san hô và rong tảo ấy mới chính là ngôi nhà lý tưởng để các loài hải sản quần tụ đông đúc. Mới biết biển rộng lớn là vậy nhưng đâu dễ kiếm cá tìm tôm. Cả đời ra khơi vào lộng, ăn, ngủ và lớn lên trên ngọn sóng với những người như lão ngư mới hiểu rõ. Nơi này, nếu chỉ để câu chơi thôi thì thật là lí tưởng, nhưng khi nghe lão nói vài điều về hiện thực của rạn, tôi thấy thật lắm suy tư và cũng tự lý giải được vì sao hàng đoàn thuyền gỗ của các làng chài ven biển phải đắp chiếu nằm bờ. Lão bảo những rạn này bao đời là nguồn sống chủ yếu của các làng chài vùng bãi ngang, là ngư trường thực thụ của dân chài lưới. Xưa, một chuyến ra khơi của hai cha con lão quanh các rạn này cũng đủ nuôi sống gia đình cả tháng trời. Nhưng những năm gần đây, tàu thuyền của người tứ xứ ở đâu kéo đến, mang theo thiết bị định vị, máy tầm ngư và những kiểu đánh bắt tận diệt khiến các rạn dần xơ xác và cạn kiệt. Cá to, nhất là các loại quý hiếm như mú, hanh, hồng… dù trốn ở ngóc ngách sâu kín nào trong rạn cũng bị thợ lặn chuyên nghiệp tìm bắt, bằng một thứ dụng cụ nghe sởn gai ốc: nỏ điện. Đó là một dạng biến thể cấp cao của máy xung điện, được thiết kế gọn nhỏ dạng chiếc nỏ, mũi tên bắn ra từ đó tác dụng sát thương chỉ là phụ, cái chính là phóng đi một nguồn điện cực mạnh đủ sức đánh gục mọi sinh vật có trong hang, kể cả những con cá đuối nặng đến năm sáu chục cân hay dòng giáp xác như cua, vích. Nên chẳng cần thấy bóng cá, chẳng cần ngắm nghía, người ta mang máy lặn xuống, dí nỏ vào bất cứ nơi nào có hang hốc và bắn, thế là xong! Khi gặp đàn cá lớn, để nhanh chóng và hiệu quả thì chuyển sang… bộc phá, mìn tự tạo. Một tiếng “ục” vọng dưới đáy biển cũng khiến hàng tạ cá nổi trắng mặt nước. Hàng chục, hàng trăm rạn dọc miệt biển này đã tan hoang bởi những thứ vũ khí tàn khốc ấy. Thứ cá nhỏ chúng tôi câu được thực chất bấy lâu không dám ở trong rạn nữa, bởi bố mẹ và đồng loại trưởng thành của chúng đã bị bắt sạch, nên hoảng loạn bơi ra ngoài, không biết đi đâu nên quanh quẩn “ngôi nhà” của mình để kiếm ăn…

Đó chỉ là một trong rất nhiều kiểu tàn sát sự sống ở biển đang diễn ra hàng ngày nơi này mà tuyệt chưa có một sự ngăn chặn, can thiệp nào.

*

Chiều buông thật nhanh. Đã đến lúc kết thúc hành trình khám phá rạn. Cả nhóm cần thủ chúng tôi đứa nào cũng thân xác rã rời sau một ngày vật lộn giữa biển khơi, chịu đựng những cơn quăng quật triền miên của sóng và nắng rát bỏng trên đầu. Cả không gian giờ chỉ còn tiếng máy giòn tan hòa trong tiếng gió, tiếng sóng biển ì oạp bên mạn gỗ. Thuyền về trong ánh vàng xuộm của hoàng hôn và cập bờ cát trong lấp lánh ánh đèn. Tạm biệt lão ngư nhiệt tình và tốt bụng, tạm biệt làng chài thân quen. Tạm biệt cái mênh mông hiền hòa nhưng đang chất chứa những vết thương đau buốt lòng. Tạm biệt biển khơi thương nhớ.

T.T.H

 

 

 

 

 

Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 302

Mới nhất

Trao giải Cuộc thi Giải Búa liềm vàng năm 2020 và tổng kết giải giai đoạn 2017-2020

30/11/2020 lúc 17:17

(TCCVO) Hôm nay (30/11/2020), Ban Tổ chức Cuộc thi Giải Báo chí toàn quốc về xây dựng Đảng (Búa liềm vàng) tỉnh Quảng Trị tổ chức hội nghị tổng kết, trao giải Cuộc thi Giải Búa liềm vàng năm 2020 và tổng kết giải giai đoạn 2017-2020. Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Phó Trưởng ban thường trực Ban Tổ chức Cuộc thi Giải Búa liềm vàng tỉnh Quảng Trị Hồ Đại Nam tham dự.

Mỗi nhà văn cần có những tác phẩm hay để làm giàu cho văn hóa dân tộc

28/11/2020 lúc 18:11

Mỗi trang viết của các nhà văn Việt Nam không chỉ mang nhịp đập trái tim của dân tộc mình, của thời đại mình mà còn mang hơi thở của từng thân phận con người.

Khánh thành Nhà lưu niệm Nhà thơ Chế Lan Viên và trao giải thưởng văn học nghệ thuật Chế Lan Viên lần thứ II -2020

28/11/2020 lúc 09:52

Ngày 27/11/2020, UBND tỉnh Quảng Trị tổ chức lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà thơ Chế Lan Viên và trao tặng Giải thưởng Văn học nghệ thuật Chế Lan Viên lần thứ II - năm 2020.

Đồng hành cùng dân tộc, đem hết tài năng và tâm huyết đưa nền văn học lên một tầm cao mới, xứng đáng với Tổ quốc và nhân dân*

20/11/2020 lúc 15:36

Sáng tác là nhiệm vụ chính trị xuyên suốt của Hội. Trong suốt nhiệm kỳ qua, Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam đã có nhiều biện pháp động viên các nhà văn bám sát đời sống, mạnh mẽ đi vào những vấn đề trung tâm của đất nước, không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả sáng tạo, đáp ứng yêu cầu xây dựng văn hóa, xây dựng con người.

Dự thảo
Du Lịch Quảng Trị

Thời tiết

Quảng Trị

Hiện tại

26°

Mưa

03/12

25° - 27°

Mưa

04/12

24° - 26°

Mưa

05/12

23° - 26°

Mưa

Nguồn: Weathers Underground
tư tưởng Hồ Chí Minh
Dấu xưa
Tiêu đề