Chính trị viên phó Ma Văn Trình đưa tôi đi một vòng quanh doanh trại của đơn vị. Doanh trại khang trang, đầy đủ tiện ích: Có nhà công vụ của sĩ quan và chiến sĩ, có nhà ăn, nhà nghỉ, phòng khách, hồ cá, cây cảnh… và cả vườn tăng gia rau củ. Màu sơn xanh của cửa, sơn trắng của tường, mái đỏ của ngói làm cho trại lính trở nên mát mắt, hòa đồng với những biệt thự, khách sạn kéo dài theo mép biển của khu du lịch Cửa Tùng.
Ngày xưa, thời Pháp thuộc, người Pháp khéo chọn nơi này làm trại lính. Đây là điểm cao nhất của cửa biển Cửa Tùng. Bằng mắt thường có thể quan sát một vùng không gian rộng từ cửa biển lên Vĩnh Giang, qua Cát Sơn, Thủy Bạn và một vùng biển mênh mông phía Đông. Không một tàu thuyền nào vào ra cửa biển mà thoát khỏi con mắt quan sát của người lính nơi đây. Nếu đặt mắt vào một ống nhòm thì vùng quan sát được càng rộng lớn gấp bội. Vì ở cửa sông, mép biển, có độ cao nên đồn Cửa Tùng luôn giàu gió mát. Thì ra người Pháp không chỉ chọn địa điểm đắc dụng cho quân sự mà còn là nơi nghỉ dưỡng tuyệt vời.
* * *
Ngày 9 tháng 10 - 1954, tên lính Pháp cuối cùng rút qua cầu Long Biên. Hà Nội không còn bóng giặc. Trước đó 15 ngày, ngày 25 tháng 8 - 1954 tên lính Pháp cuối cùng rút qua cầu Hiền Lương. Vĩnh Linh sạch bóng quân thù. Một trăm chiến sĩ, tiền thân của lực lượng công an vũ trang Vĩnh Linh, đã tiếp quản Vĩnh Linh và giới tuyến. Sau đó, 20 chiến sĩ cùng nhân dân địa phương đã dọn dẹp những gì tan nát của đồn binh Pháp ở Cửa Tùng, xây lên tại đó đồn công an vũ trang.
Sau khi hiệp định Genéve được ký kết, ngày 13/8/1954 tại Trung Giã, Bộ Tổng tư lệnh quân đội nhân dân Việt Nam và Bộ Chỉ huy quân đội liên hợp Pháp ở Đông Dương đã ký hiệp nghị về vấn đề Uỷ ban liên hợp. Ngày 15/8/ 1954, Uỷ ban liên hợp trung ương ra quyết định số 6/QĐ về việc vạch giới tuyến quân sự tạm thời. Quy chế nêu rõ 10 chỗ được phép qua lại gồm cầu Hiền Lương và 9 bến đò nối thôn xóm đôi bờ giới tuyến từ Cửa Tùng lên Bến Tắt. Ở mỗi bến đò, hai bên đều xây dựng đồn cho công an và cảnh sát làm nhiệm vụ. Đồn công an vũ trang Cửa Tùng được xây dựng trong thời điểm đó.
Ngày 11/11/1954 tổ liên hợp khu phi quân sự tại Hiền Lương đã ký biên bản “Về vấn đề tổ chức đồn kiểm soát liên hợp”. Theo biên bản đó, một đồn kiểm soát liên hợp sẽ đặt tại Cửa Tùng, một tuần bên bờ này và một tuần bên bờ khác. Tất cả ghe đò ra vào cửa biển sông Bến Hải đều phải chịu sự kiểm soát của đồn này.” Số lượng cảnh sát mỗi đồn không quá 20 người. Từ đó đồn công an Cửa Tùng được gọi là đồn Kiểm soát liên hợp Cửa Tùng. Trong thực tế, cái tên này chỉ tồn tại trong vài năm, vì đến 8.1955, Ngô Đình Diệm tuyên bố khóa tuyến, chung không thực hiện công tác liên hợp giữa hai bên Bộ đội và nhân dân chỉ gọi là: “Đồn công an vũ trang Cửa Tùng”
Đến tháng 11/2014 vừa qua, đồn công an vũ trang Cửa Tùng đã trải qua 60 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành. Trong chiến đấu, Đồn đã được Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ tuyên dương đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (Ngày 3/9/1973). Tập thể và nhiều cá nhân được tặng rất nhiều huân chương, huy chương, bằng khen, giấy khen của các cấp từ Trung ương đến bộ chỉ huy quân sự địa phương. Những thành tích mà cán bộ, chiến sĩ nơi đây đạt được có thể viết thành một cuốn sách nửa nghìn trang giấy. Chỉ tính đến năm 1959 các chiến sĩ công an Cửa Tùng phối hợp với công an giới tuyến chặn bắt 22 tên gián điệp Mỹ Diệm tung ra miền Bắc, chặn bắt 7 tên phản động âm mưu vượt tuyến vào Nam. Họ đã cùng với quân dân 3 xã Vĩnh Giang, Vĩnh Quang, Vĩnh Tân đánh trả hàng chục trận máy bay và tàu chiến địch, thành lập đội thuyền 26 chi viện Cồn Cỏ và đưa đón hàng ngàn cán bộ chiến sĩ cùng quân trang quân dụng vào Nam chiến đấu… Nhiều chiến công đã trở thành huyền thoại. Nguyên việc sống được, bám trụ được ở đây đã tưởng như là không thể. Nhà văn Xuân Đức có lần nói với tôi: “Thời kỳ chiến tranh khốc liệt ấy, người Vĩnh Linh miềng thường nói với nhau: Chết không có gì lạ, sống mới là lạ”. Vậy mà cán bộ chiến sĩ đồn Cửa Tùng sống trong vùng bão đạn ấy lại là nơi đầu sóng ngọn gió, họ không những chịu bom đạn từ máy bay thù dội xuống, từ các căn cứ địch phía Nam bắn ra, còn trực tiếp chịu pháo hạm cực mạnh từ hạm đội 7 của Mỹ và tàu chiến của quân lực Việt Nam cộng hòa bắn vào. Không những họ sống được, bám trụ được, mà còn đánh trả địch và luôn giành chiến thắng. Trong phòng truyền thống của Đồn hiện trưng bày nhiều hiện vật minh chứng cho truyền thống hiển hách của đơn vị, trong đó có một cây súng bộ binh và một chiếc mũ phi công Mỹ. Đó là cây súng được các chiến sĩ đồn biên phòng Cửa Tùng sử dụng, ngày 27/7/1966 bắn rơi chiếc máy bay ném bom B57. Đây là một trong những máy bay phản lực hiện đại của không quân Mỹ. Phi công nhảy dù và bị bắt, để lại trong phòng truyền thống của đơn vị chiếc mũ bay bị trầy xước nhiều vết.
* * *
Tôi được tiếp chuyện với đại tá Trần Thanh Hà, nguyên Chỉ huy trưởng bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Trị, một trong những chiến sĩ đầu tiên trong lực lượng công an giới tuyến, đã từng công tác nhiều năm ở đồn biên phòng Cửa Tùng. Năm nay ông đã 85 tuổi, đã quá cái đát “Thất thập cổ lai hy” một thập niên rưỡi nhưng vẫn còn phong cách nhanh nhẹn, giọng nói sang sảng, đặc biệt là trí nhớ cực kỳ minh mẫn. Có thể nói ông là một từ điển sống của lực lượng công an vũ trang Quảng Trị. Khi tôi hỏi về đồn công an vũ trang Cửa Tùng, hình như chạm vào những kỷ niệm lung linh lắm trong ông. Ông nói trong tình cảm xúc động: Đúng là cán bộ và chiến sĩ mình ở đó, trong chiến tranh và trong thời bình, nhiều chiến công, nhiều thành tích lắm. Được như vậy, đúng như Đảng ta đã xác định, trước hết là yếu tố con người. Một trăm chiến sĩ đầu tiên của công an giới tuyến được tuyển chọn từ những chiến sĩ ưu tú đã được tôi luyện trong chiến đấu của các đại đội 340, 348 bộ đội địa phương các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ và chiến sĩ quân đội, công an nhân dân Quảng Trị. Riêng cán bộ, chiến sĩ đồn Công an vũ trang Cửa Tùng, vì thường xuyên làm việc với cảnh sát Việt Nam cộng hòa nên được Bộ trực tiếp duyệt lý lịch từng người. Chúng tôi được học tập và rèn luyện rất kỹ càng, chu đáo. Ngoài kiến thức quân sự và chính trị, học các kỹ năng ngoại giao: Đi đứng, chào hỏi, bắt tay, nâng cốc, cụng ly… cả những kỹ năng ca hát, đánh bóng bàn, bóng chuyền, cờ tướng… Nhờ thế họ họ có ý chí và lập trường rất kiên định, phong cách ngoại giao đáng nể phục. Sau kháng chiến chín năm, đời sống của nhân dân miền Bắc và của cán bộ và chiến sĩ ta gặp rất nhiều khó khăn. Thời kỳ đó, viện trợ Mỹ đổ vào miền Nam ồ ạt, hàng hóa thị trường đột nhiên phong phú. Cảnh sát bờ Nam sinh hoạt, cá thịt, bơ sữa dư thừa nhưng chiến sĩ ta không hề thèm khát. Họ sống đúng nghĩa “phú quý bất năng di”. Ngược lại, hình ảnh chiến sĩ ta có sức thuyết phục với cảnh sát đối phương. Có lần một cảnh sát đối phương đã thốt lên: Tôi tưởng các ông chỉ có biết đánh trận và cày ruộng, không ngờ… Có trường hợp như cảnh sát Hồ Thắng được công an vũ trang Cửa Tùng thuyết phục đã giác ngộ, khi đổi lên đồn Võ Xá, 3 giờ sáng ngày 18/11/1966 đã vượt tuyến về với Cách mạng, mang theo 1 khẩu súng Tôm-xơn, 1 carbine, 2 súng ngắn, 1 máy vô tuyến điện, một cặp tài liệu mật. Ngày 28/4/1962, một đoàn xe chở cố vấn Mỹ và trung tướng Trần Văn Đôn Bộ trưởng quốc phòng của chính quyền Ngô Đình Diệm xâm nhập trái phép vùng khu phi quân sự ở đồn Cát Sơn. Hai chiến sĩ của ta là Nguyễn Xuân Dưỡng và Nguyễn Trịnh Vinh đã trực tiếp dùng những lời lẽ pháp lý đuổi chúng khỏi vùng khu phi quân sự.
Ở bất cứ đâu, nhận bất cứ nhiệm vụ gì, các chiến sĩ công an vũ trang đồn Cửa Tùng vẫn là những chiến sĩ trung kiên, anh dũng tuyệt vời. Hai chiến sĩ Đảng viên, Mai Văn Toàn, (Quê ở Hải Ba, Hải Lăng) Phan Văn Sinh (quê ở Hương Điền - Thừa Thiên Huế) được điều vào chiến trường, lập được nhiều chiến công, hy sinh anh dũng trong chiến đấu, được Đảng, Chính phủ, Quốc hội tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đảng viên Lê Văn Đường (quê ở Gio Mỹ, Gio Linh) vào chiến trường bị địch bắt, bị đày ra Phú Quốc, bị tra tấn dã man vẫn quyết không khai báo, không đầu hàng, giữ tròn khí tiết người Đảng viên của Đảng.
* * *
Chỉ lên bảng vàng ghi bút tích của Tổng Bí thư Lê Duẩn, gửi cán bộ, chiến sĩ đồn công an vũ trang Cửa Tùng ngày 2/2/1973 chính trị viên phó Ma Văn Trình nói: Sau khi “Thay mặt Trung ương Đảng khen ngợi các đồng chí đã có trách nhiệm dương cao ngọn cờ anh dũng.” Tổng Bí thư Lê Duẩn có lời “Chúc các đồng chí giữ vững truyền thống tốt đẹp.” Lời chúc đó được nhận thức là yêu cầu, là mệnh lệnh của Đảng. Lớp cán bộ và chiến sĩ bây giờ đã sống ngày càng xứng đáng với lòng mong đợi của Tổng Bí thư Lê Duẩn, với lớp cha anh thời kỳ trước. Họ đã làm tốt công tác quản lý bảo vệ chủ quyền lãnh thổ; giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; sẵn sàng chiến đấu, phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn; kiểm tra kiểm soát xuất nhập lạch; đối ngoại biên phòng; tuyên truyền, vận động quần chúng. Lực lượng của đồn ngày càng được xây dựng vững mạnh từ quân số đến chính trị, tư tưởng, công tác cán bộ, quân lực; từ công tác Đảng đến công tác quần chúng, tài chính, hậu cần. Đồn được tặng danh hiệu Đơn vị quyết thắng, chi bộ Đảng nhiều năm được công nhận là chi bộ trong sạch, vững mạnh.
Nhìn về phía xa xôi của một chiều biển lặng sóng, anh Trình nói: Thời bình, không còn áp lực của bom đạn, nhưng công việc vẫn cứ bộn bề. Ở nơi này vẫn là đầu sóng đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Bão thường đến từ biển khơi, nơi đây hứng chịu sức mạnh tàn phá khủng khiếp nhất của nó. Trong những năm gần đây, những thế lực nước ngoài vẫn rập rình lấn đảo lấn biển của ta ngoài đó. Chiến sĩ biên phòng ở đây không bao giờ yên với lo toan sự an toàn của hơn một ngàn tàu thuyền đánh cá của dân, tình hình an ninh trật tự trong địa bàn và “sức nóng” lúc nào cũng có thể dội lên từ biển.
Tôi biết những phút nghỉ ngơi thanh nhàn của anh khi ngồi bên tôi lúc này là hiếm hoi, bởi quân số của đơn vị không ít nhưng hầu hết không có mặt tại đơn vị. Họ đang bám địa bàn để góp sức xây dựng phong trào quần chúng vững mạnh, bảo vệ sự bình yên nơi một vùng đầu sóng. Bởi cũng có thể như một buổi trưa ngày 3/1/2014, khi đơn vị đang giấc ngủ trưa, đột nhiên có điện kêu cứu: Tàu đánh cá QB.21024TS bị chìm ngoài biển khơi, cả đơn bị bật dậy, ra khơi, bất chấp nguy hiểm, sóng to gió lớn, cứu người và lai dắt tàu chìm vào bờ an toàn trong sự cảm phục của ngư dân trong khu vực. Bởi cũng có thể, điều này không ai muốn nhưng có thể diễn ra, một lực lượng nào đó xâm lăng vùng biển của mình buộc các anh phải chiến đấu và có thể hy sinh như những chiến sĩ đã hy sinh để bảo vệ biển đảo của Tổ quốc. Trung tá Trình cho biết, trong nhiều nhiệm vụ, sẵn sàng chiến đấu, không quản ngại gian khổ, hy sinh là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của đơn vị, để bảo vệ sự bình yên của Tổ quốc.
* * *
Thời kỳ đồn công an vũ trang Cửa Tùng mới xây dựng, tôi là một trong những người có mặt đầu tiên. Mạ và anh trai tôi chở cát sạn theo đường sông về góp công xây dựng đồn từ khi đổ móng tới khi xây tường, lợp ngói, đổ nền. Từ đó tôi là một chú nhóc thường đến chơi với các chú. Tôi nhìn thấy cảnh sát bờ Nam đổi phiên qua làm việc bên ta, mặc áo ka ki màu sáng, có tua kim tuyến quàng vai lấp lánh màu vàng, có kalavát, dày đen bóng lộn. Các chú công an của ta chỉ mặc áo quần vải màu xanh, đội mũ cối, đi giày vải. “Vì răng các chú không mặc đẹp hơn chúng nó?” Tôi đã hỏi như vậy. Chú Dưỡng đã nói với tôi: “Cháu đừng lấy đó làm buồn. Công an mình là công an của Bác Hồ, công an của dân, phải ăn mặc giản dị như nhân dân. Cảnh sát bờ Nam ăn ngon, mặc đẹp nhưng dân mình bên đó có được ăn ngon mặc đẹp đâu”.
Đó cũng là nhận thức đầu tiên của tôi về CÔNG AN NHÂN DÂN. Tôi cảm thấy thương yêu và cảm phục các chú. Tình cảm từ thời trẻ thơ sâu đậm tới mãi bây giờ. Về thăm lại đồn công an vũ trang Cửa Tùng nơi đầu sóng như trở lại mái nhà thân thuộc xưa, được hưởng một chiều thanh bình gió mát, được tự hào với những chiến công, những thành tích của hai thế hệ cán bộ, chiến sĩ, Đảng viên, Đoàn viên nơi đây đã đổ máu, đổ mồ hôi để viết nên những trang truyền thống của đơn vị bằng vàng.
L.V.T





