Tôi đến với vùng Cùa, một vùng khá ác liệt thời chiến tranh chống Mỹ. Nơi đây là cái nôi của những anh hùng thời chiến. Đây là trang viết đầu tiên tôi thực hiện trong cuốn sách viết về Công an nhân dân. Đó là ngày lạnh, trời chỉ lăn phăn vài giọt mưa. Tiết trời của Quảng Trị lúc này thường gió Lào đã về. Và cái nắng mặc sức tung hoành trên vùng khô cằn sỏi đá. Mới hôm qua trời còn nắng, đùng một cái trời trở lạnh. Tôi ốm nhưng vẫn thu xếp để đi. Đi để thực hiện cái điều như nhà văn Lê Minh Khuê nói với tôi trong một ngày mưa ở biển Cửa Lò (Nghệ An) “viết đi kẻo họ chết hết”. Tôi ghi vào cuốn sổ nhỏ cho cuộc hành trình đầu tiên này, ngày 12 tháng 4 năm 2015. Nó sẽ kết thúc bao giờ? Tôi không biết! Tôi sẽ viết về những người trong cuộc chiến, từ sau cuộc chiến và có thể hơn. Một người sẽ chẳng biết gì về chiến tranh chẳng hạn. Những tiếng khóc, nụ cười và cả sự lặng im. Dự định thực hiện chỉ ba tỉnh Bình - Trị - Thiên nhưng tôi nghĩ nó sẽ như con người tôi, một đứa lang thang khi gối đã mòn mà mắt thì vẫn còn sáng lắm. Cho nên tôi sẽ đi và cứ đi...
Tôi đến nhà ông Nguyễn Văn Trai, sinh ngày 01/01/1936 ở tại thôn Mai Lộc II, xã Cam Chính, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị vào lúc cũng đã gần 10 giờ trưa. Đây là người mà tôi đã từng quen biết trước đó. Nhưng thú thực, tôi chưa bao giờ nghe ông kể chuyện chiến tranh. Vợ ông vội vàng chào chúng tôi rồi xin khất lễ để đi đám, đứa con gái lớn của ông có tên là Tường đứng nhìn tôi ngẩn ngơ. Người con này của ông từng bị bom đè trong kháng chiến nhưng vẫn còn sống tới ngày nay trong tình trạng bị điếc, sức vóc gầy còm và nói khó khăn do bị trụt lưỡi. Ông Trai bị nặng tai rất nhiều so với năm năm trước mà tôi gặp. Còn nhớ, hồi đó tôi gặp lúc nào ông cũng phảng phất hương nồng của men rượu. Vùng này nó thế, đàn ông trai tráng không có chút men nồng coi như không có khí chất đàn ông. Rượu uống vừa đủ để nói chuyện tình cảm. Hôm nay mùi men nồng đó không có, ông nói với tôi ông đau mấy hôm rồi. Và ông hỏi tôi muốn nghe chuyện chi? Tôi đáp đó là chuyện về chiến tranh. Ông ngồi chau mày, chuyện chiến tranh kể chi hết được, ghi chép chi nổi. Và cuộc nói chuyện chóng vánh, một ngày chiến tranh được tái hiện lại trong trí nhớ của ông khá vẹn toàn. Người Thương binh hạng 1/4 năm nay đã 79 tuổi, nhiều vết thương trên mình do đạn giặc và những đòn tra tấn dã man thời chiến đã kể lại quá khứ của mình một cách toàn vẹn.
- Mạ tui mất năm 1949, cha tui mất năm 1950. Lúc đó tôi mới được 14 tuổi. Cái thời chi mà cực dữ, lúc đó nhà tui có nợ nần của một gia đình khoản tiền. Tui đi ở đợ cho người ta để trừ nợ và có cơ may được sống trong một gia đình.
Nói đến đoạn này ông Trai ngắt lại. Ông nghiêng nghiêng tai mình rồi hỏi tôi chú hỏi chi? Thực ra tôi vẫn lắng nghe ông chứ không hỏi gì hết. Đó chỉ là tiếng gió ngoài vườn tiêu xanh um lọt qua cánh cửa sổ và khua vào tấm lịch kêu lẹc kẹc. Nhà vắng, tiếng kim đồng hồ chạy cũng nghe rõ từng tiếng cậc cậc. Ông đặt chiếc gậy phía trước mình rồi với người về phía tôi. Ông bị nặng tai nên nói rất to, tôi cứ ngồi im lắng nghe ông vừa nhớ, vừa kể câu chuyện đã xảy ra hơn bốn chục năm trời.
- Năm 18 tuổi tui mới chính thức tham gia cách mạng đó chơ. Trước đó tôi tham gia Đội Thanh niên cứu quốc. Năm 1955, tôi bị giặc bắt đi tù cho đến năm 1958 tôi được trả tự do. Năm 1964 tôi thoát ly...
- Rứa trước năm 1964 trở về 1958 chú làm chi?
- À quên, thời gian đó tui tham gia hoạt động cách mạng tại cơ sở. Đến năm 1964 tui làm Trưởng Công an xã. Lúc này tui bị địch bắn gãy xương bả vai phải. Năm 1966 thì bị địch phục kích tại địa phương. Chiến tranh, sự biến đổi nhanh không tưởng. Chỉ trong nháy mắt, đồng đội tui hy sinh, còn cánh tay trái của tui cũng lìa bỏ tui vì một phát đạn. Tui không nhớ đó là loại đạn chi, chỉ nghe nổ cái vèo cánh tay rời người nằm xuống đất như chơi. Ruột lúc đó lòi cả ra ngoài, đây nhìn vết thương chú biết rồi. Lúc đó người tui lạnh toát. Đúng ra tui và đồng đội không sợ chết chi. Chỉ nghe đau, cơn đau kéo dài sau đó tui lịm đi. Khi mở mắt thì đã nằm trong nhà thương. Thấy bác sỹ quân y bên Mỹ nên đoán được. Lúc đó ở Phú Bài (Huế). Bác sỹ bên đó điều trị cho tui rất tốt nếu không tôi đã chết trong tình trạng bị thương nặng như thế. Năm 1968, tui bị đưa vô nhà lao Non Nước. Năm 1973, tui được trả tự do. Đó, lý lịch của ông Công an ni chỉ có rứa. Ông Trai cười hề hề, qua bao tháng năm giọng cười đó vẫn giữ được điệu sảng khoái. Chú muốn nghe chuyện trong nhà lao không? Nhà lao Biên Hòa và nhà tù Phú Quốc. Cái ni phải ghi riêng ra, đây là một câu chuyện kinh hoàng lắm!
Tôi làm theo lời ông. Những câu chuyện về nhà lao ông không còn nhớ rạch ròi giữa nhà lao Biên Hòa và nhà tù Phú Quốc. Thôi thì cứ chép lại, những cái đã xảy ra trong nhà tù đế quốc mà ông từng trải qua.
- Khi đưa ra Phú Quốc, bọn tui đã đấu tranh. Những cựu chiến binh bị thương tật không được giam giữ trên đảo, sau đó chúng đưa bọn tui vô Biên Hòa. Nói thiệt, bọn Mỹ đối xử với tù binh tốt hơn Diệm, Diệm hắn ác dữ lắm. Bình thường coi tù binh như súc vật. Nhưng ngày trao trả tù binh, hắn lại cấp phát những vật dụng như quần áo, kem bót để che mắt truyền thông nhưng tù binh ta đã không chấp nhận cách làm màu cải lương đó. Ngày trả tù binh chúng tôi cứ quần đùi, mình trần leo lên xe. Tui bị biệt giam ở Biên Hòa 50 ngày.
Ông lặng im một lúc rồi đưa tay quệt con mắt bị thương vì đạn, nước mắt cứ chốc chốc lại chảy ra. Ông kể cho tôi về giấc ngủ của tù binh:
Bọn tui cứ nằm rứa, khoảng 120 tù binh trong khi đó phòng chật chội. Ánh sáng từ chiếc đèn đỏ lét, buồn buồn. Phòng chật nên tù binh nằm xuôi ngược, đầu người này sát chân người kia để tiết kiệm diện tích. Nhà tù xây kiên cố nhưng vẫn được rào thêm dây thép gai phòng tù binh vượt ngục. Đêm đêm nằm dòm dây thép gai trên trần nhà. Đêm đêm cái đau ê ẩm khắp thân mình vì vết thương chiến trận và vết thương khi bị giặc tra tấn. Giặc có những đòn mà tui cho là hết sức đểu cáng, dù là con người kẻ thù thì cũng không đối xử với nhau như thế. Nhưng nó đã xảy ra, điều đó tởm thiệt tởm! Hầu như anh em chúng tôi không ngủ, có chăng là vì mệt, vì đau ốm và vì đói nên lả đi. Giấc ngủ chỉ nhằm mục đích duy trì sự sống cho đến ngày mai. Tui nằm và nghĩ, bằng cách mô đó phải vượt ngục. Nếu kỳ cùng không được thì phải đấu tranh bằng chính bản lĩnh của những người tù chính trị yêu nước. Tui nhớ mỗi đêm, khi nghe tiếng pháo kích là quên đi hết đớn đau. Tiếng pháo kích chỉ có thể là của cách mạng, của bộ đội miềng nên khi nghe tiếng pháo kích. Tất cả anh em đồng đội từ người đang còn giữ được sức vóc cho đến người mới vừa bị tra tấn xong đều bật dậy. Tù binh hò reo, tiếng cười lúc đó thiệt sướng tai. Và bọn tui bắt đầu hát, những bài hát hành quân cách mạng. Bọn cai tù lúc ni đứng im, mặt buồn thê thảm. Nghĩ lại, thắng lợi bên ni là thất bại của bên tê. Tiếng hò reo bên ni là sự lặng im lầm lũi của bên nọ. Nghĩ xa hơn chút mấy tên cai ngục cũng là người Việt Nam máu đỏ da vàng thì lòng tui buồn trở lại. Tui hay nghĩ nhưng không nói ra.
Bữa ăn của tù binh:
Tù binh thì ăn ngày hai bựa đó chú. Nói thiệt ra Mỹ cấp gạo tốt nhưng ngụy lại đổi bằng gạo sâu, gạo mọt cho tù binh ăn. Mỗi bữa ăn thường có rau, một ít thịt nhưng thứ thịt ươn khó mà ăn nổi. Người ta ăn rau héo chơ ai ăn thịt ươn. Anh em tù binh ốm đau, bệnh tật ăn cũng chỉ để mà sống chớ có nghe ngon chi. Nghĩ tới chừ theo đạo lý nhà Phật không khéo tù binh bọn tui thành Phật bảy đời. Nói tới đây ông Trai lặng im một lúc khá lâu. Tôi cứ nghĩ ông mệt, thì ra không phải thế. Ông nhớ lại cơn thèm ruốc. Ông cười tươi nói với tôi.
Hồi đó thèm ruốc một cách lạ lùng. Nông thôn ta xưa thường hay dùng ruốc. Phàm cấy chi cũng bỏ ruốc. Ăn ruốc sống đã đành, nấu canh bỏ ruốc, kho cá bỏ ruốc, kho thịt bỏ ruốc. Ruốc trở thành thứ không thể thiếu của mỗi người. Biết được điều ni nên nhà tù hắn cắt đi phần ruốc trường một tháng hòng khủng bố tù binh. Cho nên ngoài các cuộc đấu tranh để được học văn hóa, học chỉnh huấn... còn có nguyên một cuộc đấu tranh đòi quyền được ăn ruốc của tù binh.
Tù binh cũng đã đấu tranh bằng cách tuyệt thực để đòi quyền lợi theo luật pháp Quốc tế. Lúc đó người của ta ở nhà bếp tiếp tế nước gạo và nước cơm cháy để tù binh duy trì sự sống...
Hố xí cho 120 người và tắm:
Tui nhớ trong nhà lao Biên Hòa. Trong điều kiện vệ sinh bẩn thỉu của nhà tù như thế, trong một căn phòng có đến 120 người nằm sát nhau. Về cuối căn phòng có một cái hố xí khô cho 120 tù binh đi đại tiện. Tôi nghĩ đó là điều tồi tệ nhất! Đến chừ tôi vẫn nhớ mùi hôi đó. Không có chi bẩn thỉu bằng. Cái đó chỉ có thể có ở nhà tù Đế quốc. Chừ tui có miêu tả tới mô thì chú cũng không viết để lột tả được sự bẩn thỉu của cái hố xí cho 120 người! Mỗi tuần chúng tôi được tắm một lần bằng nước giếng. Bệnh ngoài da có thừa. Quân địch ngày đêm đàn áp, đàn áp trên mọi phương diện. Hố xí cho 120 người cũng là sự đàn áp, mỗi tuần tắm một lần cũng là sự đàn áp cả đó. Cũng đã có những đồng chí chết trong tù.
Và cuộc đấu tranh giữ xác tù binh:
Cái tinh thần không lay chuyển của đồng chí, đồng đội trong nhà tù khiến chúng tôi có nhiều lý do để tin tưởng vô sự thắng lợi cuối cùng. Nhưng con người bằng thịt bằng da, trong điều kiện quá khắc nghiệt của nhà tù đã có những đồng chí ngã xuống. Hồi ở nhà lao Phú Quốc chúng tôi đã đấu tranh không cho mang xác tù binh đi. Chúng mang đồng chí của ta đi chỉ có mà ném xác xuống biển... nói đến đây ông lặng im rất lâu. Câu chuyện của chúng tôi gián đoạn. Tôi biết được những điều đang xảy ra trong ông lúc này. Điều đó dễ hiểu, những con người sống bằng tư tưởng thép đến khi nhỏ giọt nước mắt là lòng vỡ ra. Đau đến tận cùng. Chúng tôi đã dùng những dụng cụ giấu được trong nhà tù để đào đất chôn đồng đội ngay chính dưới chỗ mình đặt lưng xuống. Làm như rứa đồng đội sẽ bớt lạnh, chúng tôi bớt đau. Và một lý do khác nữa, là khi chôn xác đồng đội trong chính nhà tù sau ngày giải phóng có thể quay lại tìm. Để giặc quăng xuống biển biết phương mô mà tìm đồng đội. Chú thấy không, trong tận cùng khốc liệt của cuộc chiến đồng đội ta sống với nhau như rứa đó.
Tôi lặng im, có lẽ lúc này tôi đã soi lại mình. Một người sinh ra từ ngày hòa bình với cơm trắng, nước trong và đêm đêm tôi nằm êm đềm trên chiếc giường trải nệm. Mình đã thực sự phải với những thứ mà mình được thừa hưởng từ những tháng năm đầy khốn cùng của một lớp người như ông Nguyễn Văn Trai?
Cái chết không đáng sợ bằng những cơn đau:
Lúc đầu, khi đưa tù binh vô nhà lao, bọn ngụy đã phát cho tù binh ta quần áo có ghi trên đó hai chữ “phiến loạn”. Chúng tôi đã đấu tranh với điều đó. Chúng tôi là quân lính của một đất nước có chủ quyền, chúng tôi đấu tranh cho chính nghĩa. Chúng tôi là “tù binh” chớ không phải là quân “phiến loạn” như bọn chúng ghi trên áo Ra ty. Đã có đồng chí hy sinh trong cuộc đấu tranh này. Tù binh chúng tôi đồng loạt không mặc trang phục đó và chúng tôi đã đốt chúng. Cuộc đấu tranh đến 10 ngày sau lính Mỹ mới mang đến quần áo cho chúng tôi có ai chữ “tù binh”. Đó, không phải là từng ngày mà thời chiến, từng giây, từng phút phải đấu tranh. Chúng tôi có thể ngưng thở bất cứ lúc nào dưới họng súng của địch nhưng dứt khoát không ngưng đấu tranh.
Bọn Mỹ ngụy đàn áp, tra tấn tù binh cả đêm lẫn ngày. Đồng thời với những cuộc đấu tranh của tù binh trong nhà tù là những cuộc đàn áp đẫm máu từ phía chúng. Ban đầu mới đưa tù binh vô tù, chúng sẵn sàng bắn chết vài người để khủng bố tinh thần chung của tù binh. Chúng tôi không sợ những cái chết như thế. Chúng tôi sẵn sàng để chết như thế chứ không đắn đo.
Tôi còn nhớ, cứ mỗi sáng chúng bắt tù binh hô đã đảo Hồ Chí Minh. Tù binh không chịu hô đả đảo bọn chúng đàn áp bằng cách tách một số đồng chí qua phòng bên cạnh. Ở đó chúng đánh đập tù binh rồi dùng dây thừng trói chân tay ra bốn góc xong đâu đó đổ thứ hợp chất bao gồm xà phòng, nước mắm và ớt bột cực cay vô mắt, mũi và miệng. Chúng tra tấn lần thứ nhất rồi dội nước bắt tù binh hô đả đảo Hồ Chí Minh. Tù nhân không hô chúng tiếp tục tra tấn thêm lần nữa rồi trả về phòng giam. Từ sự việc ni giúp chúng tôi có định mức để vượt qua nên ý chí thêm kiên cường và sức chiến đấu được hun đúc. Nhưng không phải trong tất cả chúng tôi đều vượt qua được. Chiến tranh mà, đôi lúc sự đầu hàng cũng phải có cái nhìn trắc ẩn. Tôi còn nhớ, một tù binh người Hà Tĩnh đã bị chúng tra tấn chịu không nổi đã hô đả đảo Hồ Chí Minh. Tiếng hô đó vang lên, chúng tôi đứng im lặng. Đáng phải hô đả đảo Nguyễn Văn Thiệu chớ ai hô đả đảo Hồ Chí Minh. Chúng tôi đứng im lặng và thấy đó là sự sai lầm của bản thân đồng chí đó.
- Người đó tên gì ông còn nhớ không? Tôi hỏi.
- Hồi đó biết tên, chừ thì quên rồi.
- Sau người đó thế nào hả ông?
- Được trả về ở chung với 119 tù binh còn lại.
Tôi lặng im một lúc. Tôi nghĩ rằng sẽ có một điều hết sức khắc nghiệt của 119 con người kiên trung đối với một con người đã bước vào lầm lỗi. Nhưng sự việc đã không diễn ra như thế. Ông nói với tôi, 119 người còn lại đã không quay mặt với người lẫm lỗi. Chiến tranh mà, cái đau còn đáng sợ hơn cái chết. Tui tin, khi đó mà giặc bắn cấy rụp chắc ông ấy nhận rồi. Hoặc giả sử cho ông nắm thuốc độc để tự sát thì ông ta sẽ đón nhận nó. Có chịu sự tra tấn của quân thù mới biết được sự ghê gớm của chúng. Không phải ai cũng chịu đựng được. Đó là thực tế của chiến tranh, của con người trong giai đoạn lịch sử của dân tộc.
Tui còn nhớ một câu chuyện “tâm lý chiến” của quân thù đối với một cô gái 16 tuổi tên Hường ở Cam Thủy, Cam Lộ. Khi chúng bắt Hường vô nhà lao, chúng ra lệnh cho Hường viết thư chiêu hồi. Hường đã không viết! Tất nhiên rứa đó. Nhiều người bị bắt vô đây đều không viết thư chiêu hồi. Hường cũng rứa, chúng quay ra viết rồi biểu Hường ký. Sau để đọc trên sóng phát thanh, để đưa lên báo. Hường cầm lá thư gấp bốn lại và rồi xé nát. Gương mặt trắng trẻo của cô gái 16 tuổi nhìn giặc cười. Chúng điên tiết tra tấn Hường. Hành động của Hường có thể xem là liều thuốc tinh thần rất tốt cho anh em chiến sỹ ta. Chiến tranh đã có những con người bằng thép biết đau, nỗi đau của cả dân tộc trong cảnh lầm than.
H.H.L





