- Dịp này em sẽ vào Cam Lộ quê anh, xới tung đất vườn nhà anh để tìm một lời giải tại sao một miền quê bị san thành bình địa trong chiến tranh, khí hậu khắc nghiệt đến nhường ấy, lại là “vương quốc” của chè tươi, tiêu nồng, mít nguồn, gạo trắng, nước trong, cây trái bốn mùa và lòng người thuần hậu?
- Anh đồng ý.
- Lại nữa, khi bố em tóc còn để chỏm trên đầu đã phải đau đớn nhận tin cha hy sinh ở mặt trận phía Nam, đến nay vẫn chưa tìm được hài cốt. Cam Lộ, Quảng Trị cũng là mặt trận phía Nam đúng không anh? Em sẽ vào quê anh, sẽ đi khắp các nghĩa trang, các ruộng đồng, vườn cây, làng xóm, biết đâu vì tình máu mủ ruột rà mà ông phù hộ độ trì, dẫn đứa cháu nội thương yêu nhất của ông đến nơi ông nằm lại...
Xuân điện thoại cho tôi từ một nơi xa lắc xa lơ miền cực Bắc của Tổ quốc. Cô thạc sĩ nông học này tôi tình cờ quen biết khi cả hai cùng quan tâm đến loại đất có cấu tượng theo như định nghĩa mà Giáo sư Nguyễn Lân Dũng từng đề cập. Vậy nhưng phải nhiều lần sắp xếp, lần lữa mãi, cuối cùng Xuân cũng có mặt tại Cam Lộ vào những ngày giữa tháng 4 theo như lời hẹn.
Tôi đã dẫn Xuân đi vào vùng Cùa. Không đủ dài để chồn chân người đi, không đủ cao để làm cho khách bộ hành rợn ngợp, đèo Cùa thong dong và duyên dáng như eo thắt của người con gái xứ Cùa đôn hậu. Tôi nói cho Xuân biết bây giờ, nếu ai thăm lại vùng chiến khu Cùa chắc hẳn sẽ hết sức ngỡ ngàng bởi con đường quanh co đèo dốc năm xưa đã được trải nhựa phẳng lỳ như một đại lộ, len lỏi qua những cánh rừng xanh tốt, điệp trùng. Không quá hai mươi phút đi xe gắn máy từ trung tâm thị trấn Cam Lộ để đến chợ Cùa so với hàng giờ đồng hồ đánh vật với đèo dốc, đường sá chật hẹp, hiểm nguy như cách đây mười năm. Có thể nói, con đường đã “khai thông huyệt đạo” nối vùng Cùa xa ngái thông thương êm thuận với bên ngoài. Giờ đây hai xã Cam Chính và Cam Nghĩa không còn có khoảng cách về đời sống, thu nhập, hưởng thụ so với người dân thị trấn. Người giàu có từ phát triển kinh tế trồng cây công nghiệp ngày càng nhiều, diện hộ nghèo, lam lũ, vất vả đang thu hẹp dần...
Xuân nhìn qua vai tôi để thấy ngút ngàn màu xanh khỏa lấp đất cằn đá sỏi, đến ngọn gió cũng rì rào thổi, không còn trườn theo bụi đường đất đỏ, thổi thốc tháo vào mặt người đi như thuở trước. Ghé vào một vườn tiêu xanh um màu lá, ngắt hạt tiêu già nhấm nháp, Xuân hít hà như xác tín với tôi đã ngấm vị nồng cay của hồ tiêu đất này. Tôi nói với Xuân rằng, vùng Cùa nơi Xuân đang đứng đây có diện tích đất ba dan trên 3.000 ha, trong đó có hơn 300 ha được quy hoạch trồng tiêu. Hồ tiêu vùng Cùa sở dĩ nổi danh khắp trong Nam ngoài Bắc cũng bởi có chất đất tốt, nắng mưa dầu dãi đã làm cho hạt tiêu săn chắc, có hàm lượng tinh dầu cao và được trồng bởi những người dân có kỹ năng, kinh nghiệm truyền từ đời này sang đời khác. Khi rời Quảng Trị, quà tôi sẽ tặng Xuân là đặc sản tiêu Cùa đựng trong bao bì thiết kế sang trọng, mẫu mã đẹp với slogan ấn tượng: “Tiêu Cùa - Chất lượng gắn với danh tiếng”, cùng lời giới thiệu mực thước mà sâu sắc, khiêm cung mà chững chạc: “Tiêu Cùa - sản phẩm được chế biến bằng công nghệ hiện đại từ giống hồ tiêu sạch, tự nhiên, trồng trên vùng đất đỏ ba dan (vùng Cùa, Cam Lộ, Quảng Trị) chứa những vi lượng đặc biệt không nơi nào có được. Phương thức canh tác độc đáo trên nền khí hậu khắc nghiệt đã tạo nên hương vị cay thơm độc nhất vô nhị”. Nhờ sự liên kết bền chặt và tâm huyết của Công ty Thương mại Quảng Trị với huyện Cam Lộ mà tiêu Cùa đã vào được siêu thị, đã trở thành hàng hóa được người tiêu dùng đón nhận. Danh tiếng hồ tiêu vùng Cùa đã bước đầu được phục hồi...
Xuôi theo con đường nhựa còn sót lại trong chiến tranh, chúng tôi đổ dốc mang tên điểm cao 241. Quang cảnh quanh vùng “vẫn nắng ôm cây, vẫn gió ôm đồi” như trong câu thơ của Bằng Việt, xe chúng tôi trôi đi trong vòm xanh của cây rừng, của hồ tiêu, cà phê và những mảnh vườn trù phú, màu đất đỏ rực lên trong nắng. “Dấu tích chiến tranh ở đâu anh, sao em không thấy. Sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh ở đâu? Đâu là vành đai trắng? Trong suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ, chỉ có vài lần, máy bay phản lực Mỹ bay qua quê em, trút vu vơ vài quả bom, dân quân địa phương bắn đuổi chưa hết vài loạt đạn, bầu trời đã trở lại yên bình. Vậy mà ở quê anh bây giờ, cuộc sống còn an hòa và trù mật hơn cả miền trung du quê em nữa là sao?...”
Tôi không trả lời Xuân. Biết nói gì với em khi để trả lời được câu hỏi đó, người và đất quê tôi đã phải đi trọn hơn một phần tư thế kỷ, đổ ra không biết bao nhiêu mồ hôi, công sức, máu xương, can trường và bền bĩ hết thế hệ này đến thế hệ khác để làm cho đất đai trở về vẹn nguyên sự tơi xốp, lành lặn, mỡ màu; cho cuộc sống hồi sinh và giàu có, thịnh vượng từ đất.
Tôi sẽ kể cho Xuân biết, chỉ trong hai mươi bốn năm trở lại đây thôi, một khoảng thời gian ngắn ngủi trong dòng chảy bất tận của lịch sử hình thành và phát triển gắn với mảnh đất “Địa linh nhân kiệt” này, nhưng đó quả là một cột mốc đáng tự hào bởi từ đây, Cam Lộ quê hương của tôi được trở về với tên gọi chính mình và phát triển đi lên với một vị thế mới, sức bật mới, tầm vóc mới. Đức tính cần cù, thông minh, sáng tạo, chiều sâu văn hóa, bản lĩnh chấp nhận và vượt qua thách thức của người Cam Lộ cùng với những cơ hội mà công cuộc đổi mới đất nước mang lại là điều kiện cơ bản để quê tôi vượt lên tất cả khó khăn, từng bước phát triển vững chắc. Trong sổ tay công tác của tôi vẫn ghi rõ, Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ X (năm 1992) xác định: ”Để xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội đưa huyện nhà từng bước đi lên, chúng ta phải nỗ lực toàn diện với quyết tâm cao, khắc phục khó khăn, tranh thủ thuận lợi, vừa phục hồi kinh tế, vừa củng cố và xây dựng, đổi mới, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế - xã hội những năm tiếp theo...” Từ những định hướng cơ bản của đại hội lần thứ X và các kỳ đại hội Đảng bộ huyện tiếp theo đã xác định những chiến lược phát triển đúng đắn, phát huy hiệu quả ngay trong thực tiễn đời sống KT - XH.
Quê nhà của tôi mang đặc thù của một vùng đất phên dậu, cận sơn, cận thủy, cận lộ có độ dốc nghiêng dần từ tây sang đông, chia cắt vùng rất mạnh, tạo nên những khu dân cư đặc trưng như vùng Cùa, vùng Tân Quang, Tân Lập, bản Chùa của xã Cam Tuyền hay Tân Xuân, Thọ Xuân, Thiện Chánh của xã Cam Thuỷ. Có nơi vùng gò đồi bán sơn địa choãi ra giáp với đồng bằng nhỏ hẹp. Năm 1991, khi lập lại huyện Cam Lộ, một trong những yếu tố làm kìm hãm sự phát triển KT - XH của địa phương đó mạng lưới giao thông trên địa bàn hết sức yếu kém. Thời điểm bấy giờ, ngoại trừ đường 9 đi qua địa bàn có trải nhựa, còn lại tuyến đường tỉnh nối Ngã Tư Sòng lên cầu Đuồi, đi suốt chiều dài của xã Cam Thanh, Cam Thủy là đường cấp phối, lổn nhổn đá sỏi và đất biên hòa. Gần 10 cây số đèo dốc hiểm nguy từ ngã rẽ km15 đường 9 vào địa bàn hai xã Cam Chính, Cam Nghĩa, đất đá luôn bị xói mòn nham nhở, xuống cấp nghiêm trọng, gây quan ngại cho con người và phương tiện khi có dịp qua lại nơi đây. Đường nội vùng của vùng Cùa từng là nỗi ám ảnh của người dân và du khách đặc biệt khi mùa mưa đến, đất đỏ đặc quánh, trơn nhẫy, bám chặt vào các phương tiện giao thông, khiến cho việc đi bộ càng khó, đi xe đạp, xe máy càng khó hơn, đặc biệt nguy hiểm với ô tô khi bánh lốp không thể bám được mặt đường. Đường từ Cam Thành qua Cam Thủy, Cam Thủy ngược lên Cam Tuyền, từ Cam Tuyền về Cam Thanh, Cam Hiếu... tất cả là đường cấp phối và đường đất, mùa nắng bụi mù trời, mùa mưa bùn ngập đến ống chân. Trung tâm thị trấn cũng chỉ dọc ngang là đường cấp phối, không khác gì những nơi xa xôi, hẻo lánh. Là vùng bằng nhưng thời bấy giờ, nhiều xã ở Cam Lộ chưa thông đường ô tô về trung tâm. Cư dân thị trấn Cam Lộ muốn qua lại địa bàn thuộc xã Cam Tuyền như Ba Thung, Bắc Bình, Tân Quang, Tân Lập... dù chỉ cách trở hai bờ sông Hiếu độ chừng 300 mét, nhưng mùa nắng phải tìm cách lội sông, mùa mưa phải vòng một đoạn đường từ thị trấn về cầu Đuồi, qua làng An Thái mà ngược lên, cách trở đến vài cây số... Khó khăn trong giao lưu, giao thương đã làm cho người dân khó cải thiện được đời sống, nhiều vùng dân cư phải tổ chức sản xuất, đời sống trong tình cảnh tự cung, tự cấp, tự túc. Nông sản làm ra không tiêu thụ được hoặc phải bán với giá rẻ, bị ép giá, ép cấp. Giao thông cách trở kéo theo điều kiện chăm sóc sức khoẻ, học hành cho con em, hưởng thụ các tiện ích từ cuộc sống văn minh còn hạn chế...
Hai mươi bốn năm qua, bộ mặt quê hương tôi đang nhuận sắc từng ngày. Việc hoàn thành Quốc lộ 9 nối dài về cảng Cửa Việt đã làm thay đổi một cách cơ bản diện mạo một vùng đất kéo dài từ Gio Hải, lên Gio Mai của huyện Gio Linh, Sòng, Cam Thanh, Cam Thuỷ, Cam Hiếu... của huyện Cam Lộ. Vùng trọng điểm lúa Cam Thuỷ, Cam Thanh như được tạo sức bật mới. Nhà cửa trong khu dân cư đã được quy hoạch, sắp xếp lại dọc theo con đường mới mở, khang trang và khởi sắc hơn. Theo đó, đồng ruộng đã được quy hoạch lại để đưa cơ giới vào sản xuất, hệ thống giao thông nội đồng được nâng cấp tiện cho việc tổ chức sản xuất và thu họach mùa vụ. Cam Lộ là một vùng bán sơn địa, chiếm một diện tích rất lớn là gò đồi, còn lại là vùng đồng bằng, nơi từ lâu đã trở thành vùng chuyên canh lạc, ngô, đậu đỗ, rau màu... nổi tiếng. Người Cam Lộ vùng trồng lúa nước suốt một dải đồng từ Cam Tuyền, Cam Hiếu đến Cam Thanh, Cam Thủy, Cam An... có kỹ năng thâm canh cao không thua kém bà con vùng Triệu Phong, Hải Lăng. Đầu tư có trọng tâm, trọng điểm để thúc đẩy mạnh mẽ nền kinh tế nông nghiệp, cải thiện cơ bản đời sống và mức thu nhập của người dân, tạo tiền đề vững chắc để phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ là bước đi thích ứng và hiệu quả mà Cam Lộ đã áp dụng khá thành công trong hai mươi bốn năm qua. Trong phát triển kinh tế nông nghiệp, việc quy hoạch để hình thành các vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa theo hướng đa dạng, bền vững là đặc điểm nổi bật nhất của Cam Lộ. Các địa phương, tùy vào điều kiện sẵn có để khai thác hợp lý và hiệu quả tiềm năng, lợi thế để đưa diện tích và sản lượng cây trồng tăng lên đáng kể. Hiện diện tích cây lạc trên địa bàn đã có hơn 600 ha; cao su hơn 4.000 ha; vườn hồ tiêu hộ gia đình hơn 300 ha; cây lâm nghiệp hơn 16.000 ha, tăng; diện tích lúa hơn 2.600 ha; sắn nguyên liệu hơn 1.000 ha... Kinh tế nông nghiệp và nông thôn được chuyển dịch theo hướng tích cực với chủ trương đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi, hình thành các vùng tập trung, chuyên canh, lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo hiệu quả sản xuất - kinh doanh. Nhiều mô hình kinh tế trang trại, gia trại, ngành nghề, dịch vụ... ra đời làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, tư duy làm ăn cũ, đem lại hiệu quả kinh tế cao, tạo thêm công ăn, việc làm và thu nhập cho người nông dân.
Trong điều kiện xuất phát điểm rất thấp khi mới lập lại huyện, để tạo bước phát triển kinh tế nông nghiệp, cải thiện từng bước đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, tạo cơ sở vật chất căn bản để thúc đẩy mọi mặt đời sống xã hội và một diện mạo mới của địa phương, huyện Cam Lộ đặc biệt chú trọng xây dựng kết cấu hạ tầng với sự đầu tư căn cơ và một lộ trình vững chắc. Với mục tiêu huy động mọi nguồn lực cho phát triển, bằng nguồn vốn của trung ương, địa phương và huy động sự đóng góp của người dân, bình quân hàng năm, huyện Cam Lộ đầu tư gần 100 tỷ đồng để xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và dân sinh. Nhờ vậy mà đến nay trên 2.500 ha lúa đã chủ động được nước tưới nhờ vào các công trình thủy lợi và hệ thống kênh mương được đầu tư hoàn chỉnh về tận các chân ruộng, năng suất lúa tăng lên đáng kể, đưa tổng sản lượng lương thực toàn huyện lên trên 15.000 tấn/năm, thu nhập bình quân đầu người đạt 18,6 triệu đồng/người/năm. Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 12,3%/năm. Đường Hồ Chí Minh nhánh đông nối đường số 9 tại km 11, qua chợ Phiên Cam Lộ ra Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn đi ngang thị trấn Cam Lộ và phía đông của xã Cam Tuyền. Nơi đây là một trong những vùng trọng điểm phát triển cây lâm nghiệp, cây cao su của huyện Cam Lộ. Có đường Hồ Chí Minh êm thuận đi qua, tiềm năng đất đai nơi đây đã được khơi dậy. Hàng ngàn hecta đất đã được phủ xanh thông nhựa, keo lá tràm, keo tai tượng và một số diện tích cây cao su. Cuộc sống của người dân theo đó đã được cải thiện không ngừng. Thị trấn Cam Lộ bây giờ đang mang dáng dấp của một khu đô thị mới với hệ thống giao thông đồng bộ và hiện đại. Có thể nói, chưa có thị trấn nào trong tỉnh có điều kiện phát triển hệ thống giao thông hoàn chỉnh như thị trấn Cam Lộ. Quốc lộ 9 đi ngang qua địa bàn và quốc lộ nối dài từ Cửa Việt đi lên song song gặp nhau tại Km 15 đã được nâng cấp mở rộng đạt quy mô tiêu chuẩn cấp III, IV, mặt đường thảm bê tông nhựa, bên cạnh đó nhiều tuyến đường của trung tâm thị trấn đã được đầu tư hệ thống đèn đường làm tăng vẻ đẹp văn minh đô thị... Cầu cống được xây dựng vĩnh cửu, có tải trọng đáp ứng yêu cầu khai thác lâu dài. Cầu Cam Tuyền nối thị trấn Cam Lộ với xã Cam Tuyền qua sông Hiếu đã chấm dứt những trắc trở về giao thông hàng trăm năm nay giữa hai địa phương này. Trên tất cả các xã, từ Cam Thành, Cam Hiếu, Cam Thủy, Cam Thanh, Cam Tuyền đến vùng Cùa, những năm qua đã trở thành một công trường lớn với tốc độ kiên cố hóa giao thông nông thôn hết sức khẩn trương. Chủ trương “Nhà nước và nhân dân cùng làm” đã phát huy tích cực và khơi dậy tiềm lực trong dân đầu tư cho hệ thống giao thông tại chỗ. Hàng ngàn kilômét giao thông nông thôn nối nhà với nhà, vườn với vườn, làng với làng, xã với xã... đã được đầu tư xây dựng với chất lượng tốt, đủ tiêu chuẩn, đã đẩy lùi cảnh gập ghềnh đường đất, bụi mù trời và ngập ngụa hai mùa nơi nông thôn Cam Lộ vào dĩ vãng... Giao thông mở ra thuận tiện và êm thuận đến đâu, ánh sáng văn minh sẽ soi rọi đến đó. Hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống điện lưới, nước sạch... đã theo những con đường về tận các vùng nông thôn, cải thiện đáng kể đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Nông sản của nhân dân làm ra đã thông thương với thị trường, có nơi tiêu thụ ổn định. Việc đến trường của con em thuận lợi hơn. Công tác chăm sóc sức khỏe và các chương trình an sinh xã hội dễ dàng tiếp cận với những vùng nông thôn xa xôi, hẻo lánh. Những năm qua, hệ thống giao thông thuận lợi đã góp phần thúc đẩy nền kinh tế huyện Cam Lộ phát triển khá toàn diện. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng định hướng, góp phần chủ động hơn trong công tác quy hoạch, kế hoạch để huy động các nguồn lực đầu tư cho phát triển. Hệ thống giao thông thuận lợi cũng sẽ là điều kiện quan trọng để thu hút đầu tư vào các cụm, điểm công nghiệp, thương mại, dịch vụ, làng nghề như: Tân Trang, Tân Định, Cam Tuyền, Cam Hiếu, Ngã Tư Sòng... thúc đẩy các ngành nghề mà Cam Lộ đang có lợi thế như khai thác chế biến khoáng sản, vật liệu xây dựng, chế biến nông sản thực phẩm, chế biến gỗ... phát triển hơn trong tương lai gần...
Tôi đưa Xuân đến một khu vườn đang mùa hoa trái sum suê cách điểm cao 241 không xa và đợi em lấy mẫu đất vùng bán sơn địa. Em giảng giải với tôi rằng loại đất trồng trọt có các hạt vừa phải, nhờ đó mới có thể giữ nước, giữ thức ăn, giữ không khí trong đất, người ta gọi đó là đất có cấu tượng. Để có các hạt đất như vậy, cần có sự hoạt động liên tục của vi sinh vật qua hàng nghìn năm để tạo ra được chất mùn làm liên kết các hạt đất lại thành đất có cấu tượng. Đất có cấu tượng chính là đất mà nông dân ta vẫn gọi là bờ xôi, ruộng mật. Có nguồn đất đai như vậy, lại thêm con người dày công khai phá, chăm bẵm, nên chi vùng đất này nhìn đâu cũng thấy lấp lánh sự no đủ, sung túc, cái sự giàu có bắt đầu neo lại đất này bởi sự cần cù, chịu thương, chịu khó...
Xuân quan tâm nhiều đến cấu trúc từng hạt đất, nhưng khi tôi dẫn em đến dấu tích còn cắm đầy vết chân nhang và thoang thoảng mùi trầm hương từ khu vườn kế bên lan tỏa, Xuân bỗng lặng người, vẻ hồn nhiên như khỏa lấp sau quầng mắt đẫm nước. Tôi đã kể cho em nghe nơi em đang đứng đây, vào một ngày cách nay hơn bốn năm, trong lúc làm vườn người dân đã tình cờ phát hiện và sau đó lực lượng quân đội đã khai quật, tìm được 74 hài cốt liệt sĩ trong một mộ chôn tập thể. Theo tài liệu của Hội Cựu binh Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam cung cấp và tài liệu của ta thu thập được từ nhiều năm nay, đã đối chiếu và xác định được 97 bộ hồ sơ nhân thân trong tổng số 158 chiến sĩ bộ đội đặc công thuộc Tiểu đoàn 7, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 64, Sư đoàn 320A, Quân đoàn 3 hy sinh trên mặt trận đường 9 vào ngày 27/1/1968 khi đang tiến đánh các cứ điểm của Mỹ - ngụy tại đây. Lễ truy điệu, an táng hài cốt các anh hùng liệt sĩ tìm thấy đã được tổ chức trang trọng tại Nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia Đường 9.
- Em hiểu rồi anh ạ, trong sâu thẳm mạch nguồn đất đai Cam Lộ, đã thấm máu biết bao thế hệ cứu nước. Người ta nói, ở đâu có rất nhiều người nằm lại để giành lấy độc lập, tự do cho đất nước, ở đó đất sẽ tốt tươi hơn trong ngày hòa bình, phải không anh?
Tôi đưa Xuân đến Nghĩa trang liệt sĩ huyện Cam Lộ cạnh bên con đường 9, trước mặt là đèo Cùa uy nghi, sau lưng, xa tít tắp là sông Hiếu lững lờ cuộn chảy. Xuân đầu trần giữa chang chang nắng, lần từng hàng mộ chí để đọc cho rõ tên các liệt sĩ an nghỉ nơi đây và bật khóc khi đứng trước bia mộ liệt sĩ hầm lán, nấm mồ chung cho cả 25 liệt sĩ. Tấm bia ghi lại rằng, ngày 23/11/1972, UBND cách mạng xã Cam Mỹ, huyện Cam Lộ tổ chức họp tại hầm lán (khu phố An Hưng, thị trấn Cam Lộ hiện nay) để bàn công tác cứu tế cho nhân dân thì bị bom Mỹ sát hại, toàn bộ 25 cán bộ dự họp đã anh dũng hy sinh. Đây là một tổn thất vô cùng to lớn trong những ngày đầu quê hương Cam Lộ giải phóng. Nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng huyện Cam Lộ 2/4 (1972 - 2012), huyện đã triển khai cuộc vận động đóng góp kinh phí tôn tạo nghĩa trang liệt sĩ huyện và đã thu được trên 1 tỷ đồng, đầu tư xây dựng nhà bia liệt sĩ hầm lán, tháp chuông, đúc “đại hồng chung” cung tiến và đặt tại nghĩa trang. Đến Nghĩa trang liệt sĩ huyện Cam Lộ bây giờ như đi giữa một khu tưởng niệm tĩnh lặng, tươm tất, thành kính và gần gũi, từ giữa hàng hàng mộ chí, tượng đài vút lên cao xanh như nối liền mạch giữa khát vọng siêu thoát với đất và trời quê hương. Xuân thắp một nén hương và tần ngần thật lâu nơi nhà bia, đọc thật kỹ những tên liệt sĩ khắc vào tấm bia đá đang ngời lên trong ánh nắng đổ dài xuống thị trấn vào một buổi chiều yên ả. Nhiều người trong các anh trạc tuổi như Xuân bây giờ đã nằm lại đất này, hóa thân vào đất đai Cam Lộ cho cuộc sống bình yên, sôi động và náo nức bây giờ...
Xuân về bên đồng bãi quê tôi dọc triền sông Hiếu, lấy tiếp những mẫu đất nơi bờ xôi ruộng mật từng nuôi dưỡng biết bao thế hệ con dân trong làng đã sống, làm lụng và lặng thầm hy sinh cho quê hương, đất nước. Đất tơi xốp quá, mặn mòi quá, nhân hậu quá, mà nhìn vào đâu cũng thấy rưng rưng...
Đ.T.T





