|
N |
ăm 2004, bộ phim tâm lý xã hội “Mùa mưa ở Băng Cốc” của đạo diễn Trương Hiểu Quang được chiếu dài tập trên VTV3. Ngoại cảnh chính của bộ phim quay ở Thái Lan với những khuôn hình thật đẹp và đúng như tên gọi, thi thoảng mưa trên đất Thái làm cho bối cảnh nhuốm một màu sắc lãng mạn, u hoài. Khi tôi đến Băng Cốc lần này, cũng vào mùa mưa, nhưng những cơn mưa thường bất chợt về đêm, còn ban ngày, nắng rực rỡ, vàng thắm cả đất trời. Từ Udon Thani giáp với Viêng Chăn (Lào) đến Khon Kaen, thủ phủ của vùng đông bắc Thái; từ Ubon Ratchathani đến Nakhon Ratchasima rồi xuôi về Băng Cốc, Pattaya... dọc đường thiên lý, cỏ cây bừng dậy sau giấc ngủ dài khô kiệt nắng lửa. Những cơn mưa thong thả buổi chiều tối đã trả lại cho vạn vật màu xanh hút tắp chân trời.
Đại bản doanh của Khu phức hợp công nghiệp Maptaphut tại tỉnh Rayong, nơi chúng tôi đến thăm, nằm giữa một khu vườn tĩnh lặng, xanh um cây cối. Ở đây, nếu tinh ý, người ta chỉ có thể nghe tiếng gõ bàn phím lách cách của những nhân viên mẫn cán và tiếng chim ríu rít chuyền cành. Là doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ Công nghiệp Thái Lan, hình thành từ năm 1981, khu phức hợp Maptaphut hiện là khu công nghiệp lớn nhất tập trung các ngành công nghiệp nặng, năng lượng và hóa dầu tại Thái Lan, thu hút rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài đến triển khai các dự án liên doanh và đầu tư trực tiếp.
Trả lời câu hỏi của tôi về mối liên kết và sự cần thiết phải triển khai đồng bộ nhiều hạng mục công trình với nhiều công năng khác nhau trong khu phức hợp, ông Chamruts Nenthong, đại diện Ban quản lý khu phức hợp công nghiệp nặng Maptaphut khái quát: “Không có cảng biển thì có thể không có khu phức hợp Maptaphut, nhưng không có khí thiên nhiên từ vịnh Thái Lan đưa vào bờ thì càng không thể có khu phức hợp Maptaphut”. Tôi hiểu ý ông muốn nhấn mạnh đến vai trò đặc biệt quan trọng của nguồn năng lượng này khi được biết, tại khu phức hợp quy mô vào bậc nhất Thái Lan như Maptaphut, có đến 80% doanh nghiệp sử dụng nhiên liệu khí để hoạt động.
Trong một sự liên tưởng rốt ráo, tôi chợt nghĩ về Mỹ Thủy, Hải Lăng, Quảng Trị với niềm hứng khởi trong lòng. Đi tìm sự lý giải cơ duyên nào khiến những năm trở lại đây, trên 20.000 ha đất cát ở mảnh đất hẻo lánh thuộc vùng bãi ngang khó nghèo Hải Lăng lại được “chọn mặt gửi vàng”, gánh vác trọng trách lớn là tâm điểm quy hoạch Khu kinh tế Đông Nam của tỉnh, tôi hướng câu trả lời về sự hiện diện của mỏ khí Báo Vàng ngoài khơi Quảng Trị.
Cơ hội “cất cánh” của Mỹ Thủy khởi đầu bằng một tin hết sức tốt lành. Ngày 30/3/2011, tại Quyết định số 459/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp khí Việt Nam giai đoạn 2015, định hướng đến năm 2025. Theo Quyết định, tại lô 112, 113, 111/04 vị trí các mỏ Báo Vàng, Báo Trắng có trữ lượng 30 tỷ m3 sẽ được quy hoạch đưa vào đất liền. Ở mỏ Báo Vàng có trữ lượng khoảng 13 tỷ m3 sẽ đưa vào Quảng Trị để khai thác, sử dụng. Việc triển khai xây dựng đường ống dẫn khí ngoài khơi từ mỏ Báo Vàng vào Quảng Trị và xây dựng nhà máy xử lý khí tại Quảng Trị (giai đoạn từ 2014-2017) có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát triển các dự án và các ngành công nghiệp sử dụng khí tại Khu kinh tế Đông Nam Quảng Trị và kết nối năng lượng giữa các nước ASEAN qua tuyến Quốc lộ 9. Ngày 27/6/2011, Tổng Công ty khí Việt Nam (Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam) có buổi làm việc với UBND tỉnh Quảng Trị về khả năng đưa khí đốt từ mỏ Báo Vàng vào địa bàn tỉnh. Theo đó, các nhà quy hoạch đã quyết định chọn vùng biển Mỹ Thủy cho dự án này. Tổng Công ty khí Việt Nam được giao nhiệm vụ khảo sát xây dựng dự án đưa khí vào bờ với đường ống từ mỏ Báo Vàng (lô 113) vào Quảng Trị dài 120 km, có công suất thiết kế từ 1-3 tỷ m3/năm. Sau đó tùy thuộc vào chất lượng khí để quyết định đầu tư nhà máy chế biến hay trạm xử lý khí tại điểm tập kết khí từ ngoài biển vào. Tại đây tùy thuộc vào nhu cầu khách hàng sử dụng để xây dựng đường ống dẫn khí với vị trí dưới 50 km, nếu chiều dài từ nhà máy chế biến đến nơi sử dụng dài trên 50 km sẽ cung cấp theo hình thức khí nén chở bằng xe bồn. Việc đưa khí vào Quảng Trị được xây dựng theo 2 phương án tùy thuộc vào nhu cầu sử dụng của khách hàng. Nếu nhu cầu lớn cần xây dựng cảng nhập LNG (1) có khả năng tiếp nhận tàu LNG đến 80.000 tấn/năm. Tuy nhiên theo tính toán sơ bộ, phương án cung cấp bằng đường ống là phù hợp với yêu cầu trước mắt và có tính khả thi hơn, dự kiến đến năm 2016 khí đốt từ mỏ Báo Vàng sẽ được đưa vào Quảng Trị. Theo đánh giá của các nhà chuyên môn, việc đưa khí đốt từ mỏ Báo Vàng vào Quảng Trị sẽ góp phần quan trọng vào quá trình phát triển mạng lưới năng lượng bền vững trên Hành lang kinh tế Đông Tây thông qua các điểm đầu mối: Quảng Trị (Việt Nam), Savannakhet (Lào), Khonkaen, Phinasoulok, Rayong (Thái Lan). Đây là sáng kiến của Viện Năng lượng và các nhà doanh nghiệp Thái Lan góp phần xây dựng mạng lưới, kiến trúc năng lượng mới (tam giác năng lượng phía Đông) cho khu vực ASEAN theo hướng kết hợp các nguồn dầu khí tại vịnh Thái Lan, Myanmar, thềm lục địa Việt Nam và thủy điện tại Lào nhằm thực hiện chương trình năng lượng bền vững. Một cột mốc đóng vai trò đặc biệt quan trọng nữa là từ năm 2008, đề xuất của tỉnh Quảng Trị về việc đầu tư xây dựng cảng biển Mỹ Thủy và Khu kinh tế Đông Nam của tỉnh đã được Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng đồng ý cho bổ sung vào quy hoạch hệ thống cảng biển Việt Nam tại Thông báo số 272/TB-VPCP ngày 24/9/2008. Theo dự án này, vị trí quy hoạch cảng biển Mỹ Thủy thuộc địa bàn hai xã Hải An, Hải Khê, huyện Hải Lăng, nằm trong nhóm cảng biển Trung Trung bộ, phục vụ trong nước và liên kết với các nước trên Hành lang kinh tế Đông Tây (gồm Việt Nam, Lào, Thái Lan và Myanmar). Phương án được chọn là cảng đào sâu vào trong đất liền với diện tích khoảng 1.000 ha, tổng kinh phí đầu tư khoảng 20.000 tỷ đồng.
Nhiều nhà đầu tư cho rằng, trong liên kết phát triển kinh tế, nếu không có tiền, đối tác có thể cho vay vốn; nếu không có công nghệ, đối tác có thể chuyển giao; nếu không có nhân lực, đối tác có thể giúp đào tạo, huy động... nhưng nếu không xác lập được niềm tin với nhau, thì chắc chắn tất cả những dự định tốt đẹp đều không thể trở thành hiện thực.
Để xác lập niềm tin vững chắc với đối tác, trong chuyến thăm và làm việc tại Vương quốc Thái Lan từ ngày 20/5 đến ngày 27/5/2012, lãnh đạo UBND tỉnh Quảng Trị và lãnh đạo Công ty One Asean Development (Thái Lan) đã ký kết Biên bản ghi nhớ về việc phát triển Khu kinh tế Đông Nam Quảng Trị theo hướng kết hợp giữa dự án xây dựng cảng biển nước sâu Mỹ Thủy với nhà máy nhiệt điện than 1.200 MW, đồng thời thảo luận phần trách nhiệm của mỗi bên trong quá trình thực hiện biên bản ghi nhớ. Theo kế hoạch, Công ty One Asean Development sẽ chịu trách nhiệm xây dựng các dự án tiền khả thi đối với các hạng mục dự án: nhà máy lọc dầu, nhà máy chế biến khí đốt thiên nhiên, khu phức hợp hóa dầu tổng hợp, các ngành nghề thiết yếu và cơ sở hạ tầng, trung tâm hậu cần, trung tâm phân phối sản phẩm dầu, khu phức hợp kho hàng, vận chuyển hàng, khu công nghiệp đa ngành, khu chế xuất và các khu vui chơi giải trí/ tái định cư/ thương mại tổng hợp... UBND huyện Hải Lăng cũng đã có kế hoạch số 341/KH-UBND ngày 26/7/2013 triển khai công việc thực hiện Biên bản ghi nhớ giữa UBND huyện Hải Lăng với Công ty One Asean Development về việc phối hợp giải phóng mặt bằng, tái định cư Khu kinh tế Đông Nam. Theo đó, nội dung công việc hoàn thành và sẽ có báo cáo chính thức trước ngày 30/3/2014.
Chúng tôi qua Thái Lan khi một sự kiện làm “dậy sóng” cả vùng quê nghèo Hải Lăng vẫn đang cộng hưởng, lan tỏa, thu hút sự quan tâm của dư luận. Vào công cụ tìm kiếm Google, gõ thông tin: “Thái Lan đầu tư nhà máy nhiệt điện tại Quảng Trị”, sẽ có trên 528.000 kết quả trong vòng 0,48 giây. Theo đó, ngày 21/8/2013, Công ty Điện lực Thái Lan (EGATI), đại diện Công ty One Asean Development (Thái Lan) tiến hành làm việc với UBND tỉnh Quảng Trị về dự án xây dựng Nhà máy nhiệt điện 1.200 MW tại Khu kinh tế Đông Nam Quảng Trị. Tại cuộc làm việc, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị Nguyễn Đức Cường đã công bố chủ trương của Chính phủ Việt Nam về việc đồng ý cho EGATI làm chủ đầu tư Nhà máy nhiệt điện tại Khu kinh tế Đông Nam Quảng Trị. Dự án Nhà máy nhiệt điện Quảng Trị do Công ty CP tư vấn xây dựng Điện 3 xây dựng đã được Bộ Công thương phê duyệt tại địa điểm xã Hải Khê, huyện Hải Lăng, trong quy hoạch xây dựng Khu kinh tế Đông Nam Quảng Trị. Tổng diện tích đất xây dựng dự án là 450 ha, trong đó có 50 ha nằm ở ngoài biển. Công suất điện khoảng 1.200 MW gồm 2 tổ máy, mỗi tổ 600 MW. Sản lượng điện thương phẩm hàng năm khoảng 7,25 tỷ KWh. Dự án triển khai theo hình thức BOT(2) với thời gian hợp đồng khoảng 25 năm sau đó bàn giao không hoàn lại cho Chính phủ Việt Nam. Tổng mức đầu tư của dự án ước tính khoảng 2,26 tỷ USD. Sau khi công bố quyết định chấp thuận đầu tư, phía EGATI và UBND tỉnh Quảng Trị đã thảo luận về kế hoạch thực hiện dự án tiếp theo gồm các phần việc tiếp theo và cam kết sẽ tích cực hợp tác với EGATI quyết tâm tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện để dự án được triển khai đạt hiệu quả cao.
Ngay khi có công văn thông báo chủ đầu tư, công bố quy hoạch địa điểm triển khai dự án Nhà máy nhiệt điện Khu kinh tế Đông Nam Quảng Trị, UBND huyện Hải Lăng đã tổ chức bàn giao mốc giới thực địa. Tổng diện tích mặt bằng trên đất liền được xác định là 392,5 ha nằm trên diện tích đất của 4 xã là Hải Khê: 264,4 ha; Hải Quế: 68,8 ha; Hải Dương: 56 ha và Hải An: 3,3 ha. Ngoài 4 cột mốc chính đã được xác định tọa độ ở ranh giới của 4 xã, huyện cũng đã có chủ trương cắm mốc tăng dày thêm 49 mốc phụ ranh giới tiếp giáp giữa các xã Hải Khê, Hải Dương và Hải Quế.
Xác định việc hình thành và phát triển Khu kinh tế Đông Nam có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh Quảng Trị nói chung, huyện Hải Lăng nói riêng nên trong thời gian qua, huyện Hải Lăng đã tích cực phối hợp với các sở, ban, ngành của tỉnh, các nhà đầu tư trong và ngoài nước trong việc triển khai công tác khảo sát, quy hoạch và chuẩn bị các điều kiện để từng bước khởi động Khu kinh tế Đông Nam. UBND huyện đã chỉ đạo các ban, ngành, các xã trong vùng dự án triển khai công tác thống kê về thực trạng dân cư, lao động, việc làm, đất đai, nhà cửa, vật kiến trúc, cây cối, mồ mả khu vực dự kiến quy hoạch (khoảng 4.000 ha thuộc các xã Hải An, Hải Khê, Hải Ba, Hải Dương, Hải Quế), điều tra xã hội học về ý kiến, nguyện vọng của nhân dân liên quan đến việc di dời nhà cửa, mồ mả, những vấn đề đặt ra về đời sống, việc làm khi đến nơi ở mới. Điều đáng mừng là tuy khối lượng nhà cửa, mồ mả dự kiến di dời khá lớn (riêng mồ mả đã lên đến trên 36.600 ngôi) nhưng đại đa số nhân dân đồng tình cao với chủ trương của tỉnh về xây dựng Khu kinh tế Đông Nam. Về phía huyện, bước đầu cũng đã hoàn thành sơ bộ quy hoạch các khu tái định cư, các khu nghĩa địa mới phục vụ việc di dời, phối hợp đơn vị tư vấn quy hoạch địa điểm các khu nhà ở phục vụ chuyên gia đến làm việc, đầu tư tại Khu kinh tế. Thực hiện Quyết định số 4751/QĐ-BCT ngày 9/7/2013 của Bộ Công thương về phê duyệt quy hoạch địa điểm và công văn số 2645/ UBND-CN ngày 19/8/2013 của UBND tỉnh về việc công bố quy hoạch địa điểm Trung tâm Điện lực Quảng Trị, UBND huyện đã phối hợp với Sở Công thương công bố quy hoạch, cắm mốc chỉ giới, tiến hành lập biên bản bàn giao mốc giới quy hoạch cho các xã liên quan, tiến hành quay phim tư liệu hiện trạng khu vực quy hoạch, ban hành các văn bản quy định tạm thời về việc quản lý đất đai và xây dựng trong khu vực quy hoạch. Huyện Hải Lăng cũng đã tổ chức các đoàn tham quan học tập kinh nghiệm về công tác quy hoạch, giải phóng mặt bằng, đào tạo nguồn nhân lực tại Khu kinh tế Vũng Áng (Hà Tĩnh), tổ chức cho lãnh đạo huyện và lãnh đạo các xã trong vùng dự án tham quan thực tế các cảng biển Maptaphut và Leamchabang (Thái Lan), đây là các cảng biển nước sâu nhân tạo được xây dựng trên vùng biển bãi ngang có quy mô và tính chất tương tự như cảng Mỹ Thủy trong tương lai. UBND huyện cũng đang triển khai các thiết kế mẫu, quy hoạch mẫu các khu nghĩa địa lấy ý kiến tham gia của nhân dân để từng bước triển khai thực hiện sau khi UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch chung Khu Đông Nam nhằm giảm thiểu chi phí di dời giải phóng mặt bằng (GPMB) sau này; phối hợp các sở, ngành liên quan hoàn chỉnh hồ sơ trình UBND tỉnh bổ sung quy hoạch khu du lịch biển Hải Khê, đồng thời triển khai thử nghiệm các mô hình sản xuất mới có hiệu quả cao trên vùng đất cát để góp phần tạo việc làm và ổn định cuộc sống của nhân dân khi đến nơi ở mới. Được sự đồng ý của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, huyện Hải Lăng cũng đang gấp rút hoàn thành xây dựng đề án mở rộng địa giới hành chính thị trấn Hải Lăng. Với vị trí chỉ cách cảng Mỹ Thủy- "trái tim" của Khu kinh tế Đông Nam 12 km, thị trấn Hải Lăng sau khi mở rộng sẽ là khu hậu cần quan trọng, phục vụ và hỗ trợ cho Khu kinh tế Đông Nam. Trong quy hoạch xây dựng nông thôn mới các xã, huyện cũng đã tính toán dành quỹ đất cho các khu chăn nuôi tập trung, các khu sản xuất nông nghiệp áp dụng công nghệ cao để sản xuất các sản phẩm sạch, sản phẩm an toàn, đáp ứng nhu cầu cung cấp lương thực, thực phẩm cho đội ngũ công nhân và chuyên gia đến làm việc tại Khu kinh tế Đông Nam.
Theo lãnh đạo huyện Hải Lăng, sở dĩ các nhà đầu tư nước ngoài, nhất là các nhà đầu tư Thái Lan dành cho Khu kinh tế Đông Nam Quảng Trị sự quan tâm đặc biệt là bởi mấy lý do: Thứ nhất, vị trí khu vực biển Mỹ Thủy thuận lợi trong việc xây dựng cảng biển nước sâu cho tàu có tải trọng lớn. Hiện nay các cảng biển ở miền Trung như cảng Đà Nẵng, cảng Chân Mây độ sâu chỉ đủ cho tàu có tải trọng tối đa 5 vạn DWT(3). Khu vực ngoài khơi Mỹ Thủy cách bờ chỉ 1 km đã đạt độ sâu 17-18 m, đảm bảo cho tàu có tải trọng 10 vạn DWT cập cảng. Thứ hai, khu vực dự kiến quy hoạch Khu kinh tế Đông Nam có diện tích khá lớn (khoảng 10.000 ha), mật độ dân cư thưa, địa hình bằng phẳng, rất thuận lợi cho quy hoạch và bố trí các dự án, nhất là các dự án có tính chất liên hoàn. Thứ ba, nguồn nhiên liệu khí tự nhiên, đây là nguồn nhiên liệu sạch, các doanh nghiệp Thái Lan đã có thói quen sử dụng cả trong công nghiệp và trong sinh hoạt (tất cả xe taxi tại thủ đô Băng Cốc đều sử dụng khí nén CNG làm nhiên liệu). Tại khu phức hợp khổng lồ như Maptaphut, nơi có đến 147 dự án đầu tư, 80% nhiên liệu sử dụng nguồn khí đốt thiên nhiên. Theo Quyết định số 459/QĐ-TTg ngày 30/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp khí đến năm 2015, định hướng đến năm 2025 đã xác định trong giai đoạn 2014-2016 sẽ xây dựng hệ thống đường ống dẫn khí từ các lô 111/4-112-113 (mỏ Báo Vàng) vào Quảng Trị với công suất thiết kế khoảng 1-3 tỷ mét khối/năm (do quá trình khoan thăm dò và thẩm định trữ lượng và thành phần khí của liên doanh VIETGAZPROM kéo dài hơn dự kiến nên thời gian đưa khí vào bờ có thể sẽ phải chậm lại một vài năm). Thứ tư, các nhà đầu tư đánh giá cao lợi thế của Quảng Trị về nguồn nhân công giá rẻ (tiền lương công nhân may tại Quảng Trị hiện nay chỉ khoảng 140 USD/tháng trong khi tại Thái Lan khoảng 250 USD/tháng) và nguồn nguyên liệu tại chỗ, nhất là nguồn cát trắng có hàm lượng SiO2 cao (trên 99%) và trữ lượng lớn (trữ lượng tài nguyên dự báo trên 55 triệu tấn), thuận lợi cho việc sản xuất thủy tinh cao cấp, đặc biệt là các sản phẩm công nghệ cao như sợi thủy tinh, sứ thủy tinh cách điện, kính float, men frit, vật liệu composite, các tấm panen pin mặt trời... Các nhà đầu tư Thái Lan cũng đánh giá cao nguồn nhân lực “nói tiếng Thái” mà tỉnh Quảng Trị đã quan tâm đào tạo từ nhiều năm qua. Thứ năm, nguồn nước ngọt cho sản xuất. Theo thiết kế, hồ Sông Nhùng sau khi được xây dựng có dung tích hồ chứa trên 35 triệu mét khối, đáp ứng về cơ bản nhu cầu cung cấp nước ngọt cho các dự án sản xuất và sinh hoạt tại Khu kinh tế Đông Nam. Ngoài ra, nguồn nước từ hệ thống thủy lợi Nam Thạch Hãn và các sông Ô Lâu, Ô Giang trên địa bàn Hải Lăng là lợi thế được các nhà đầu tư đánh giá cao. Thứ sáu, đón đầu các cơ hội khi Hiệp định Thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) được ký kết và Cộng đồng kinh tế ASEAN trở thành hiện thực, theo đó hàng hóa do các doanh nghiệp Thái Lan sản xuất tại KKT Đông Nam xuất khẩu sang Mỹ, EU sẽ được hưởng mức thuế ưu đãi như xuất khẩu từ Thái Lan hiện nay. Mặt khác, khi Cộng đồng kinh tế ASEAN có hiệu lực hoàn toàn, các hàng rào thuế quan và cả phi thuế quan (như kiểm dịch động, thực vật) được dỡ bỏ, dòng chảy hàng hóa hai chiều trên tuyến Quốc lộ 9 sẽ gia tăng, cảng Mỹ Thủy trở thành cửa ngỏ ra Thái Bình Dương của các quốc gia trên Hành lang kinh tế Đông - Tây (EWEC), đầu mối trung chuyển hàng hóa giữa các nước ASEAN + 3 (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc). Các hoạt động logictics, gia công tái chế tại KKT Đông Nam sẽ có điều kiện phát triển, đây là lý do mà các nhà đầu tư hạ tầng Thái Lan quan tâm. Thứ bảy, Khu kinh tế Đông Nam có vai trò quan trọng trong chiến lược kết nối năng lượng Việt Nam- Lào - Thái Lan. Đất nước Thái Lan được xếp vào các nước nghèo về tài nguyên dầu mỏ và khí đốt, tiềm năng về thủy điện và than cũng rất hạn chế. Hiện nay, khoảng 70% lượng khí thiên nhiên phục vụ phát điện ở Thái Lan nhập từ Myanmar. Tuy nhiên giá khí đốt nhập khẩu đang tăng dần và dự báo sau năm 2020 nguồn cung từ Myanmar sẽ khó khăn.
Với nhu cầu năng lượng tăng trưởng trên 10% /năm, từ sau năm 2015, cả Việt Nam và Thái Lan đều phải gia tăng nguồn than nhập khẩu. Lợi thế về độ sâu của cảng biển Mỹ Thủy và thuận lợi của tuyến đường xuyên Á đã trở thành mối quan tâm của các nhà hoạch định chính sách năng lượng Chính phủ và các doanh nghiệp Thái Lan. Một kế hoạch kết nối năng lượng trên EWEC đã được phía Thái Lan tính toán. Theo đó, các doanh nghiệp Thái Lan sẽ đầu tư các nhà máy nhiệt điện than tại KKT Đông Nam Quảng Trị và xây dựng đường dây 500 KVA để chuyển tải qua vùng Đông Bắc Thái Lan. Trong chuyến thăm và làm việc tại Quảng Trị ngày 12/3/2014, Tập đoàn Điện lực KEEPCO (Hàn Quốc) đã trình bày dự định đầu tư dự án sản xuất than hóa khí (từ than đá sản xuất khí hóa lỏng SNG) tại Khu kinh tế Đông Nam với định hướng thị trường tiêu thụ chủ yếu là Thái Lan.
Tuy hiện nay Chính phủ chưa ban hành quyết định về việc thành lập Khu kinh tế Đông Nam do chủ trương tạm dừng thành lập mới để rà soát, đánh giá hiệu quả các Khu kinh tế, Khu công nghiệp hiện có, nhưng tính khả thi và khả năng đáp ứng các điều kiện thành lập Khu kinh tế đã được Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các bộ, ngành Trung ương ghi nhận và đánh giá “đã đáp ứng phần lớn các tiêu chí đặt ra” (Văn bản số 4798/BKHĐT-QLKKT ngày 22/7/2011 của Bộ KH&ĐT gửi Thủ tướng Chính phủ). Chính phủ cũng đã có văn bản đồng ý cho phép Công ty Điện lực quốc tế Thái Lan ( EGATI) làm chủ đầu tư dự án nhiệt điện than 1.200 MW. UBND tỉnh sắp ban hành quyết định phê duyệt Quy hoạch chung Khu Đông Nam sau khi được Bộ Xây dựng tham gia ý kiến. Đây là những thuận lợi cơ bản cho việc thu hút và triển khai các dự án đầu tư tại Khu Đông Nam. Những công việc cần làm, huyện Hải Lăng đã và đang tích cực triển khai thực hiện. Sắp tới huyện cũng sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành của tỉnh và các nhà đầu tư trong việc tháo gỡ các vướng mắc phát sinh, tạo điều kiện cho các dự án động lực sớm được khởi công. Trong định hướng thu hút các dự án đầu tư tại Khu kinh tế Đông Nam, theo lãnh đạo huyện Hải Lăng, cần tập trung ưu tiên xúc tiến đầu tư các dự án thuộc lĩnh vực năng lượng (nhiệt điện than, than hóa khí, lọc hóa dầu...), vì đây là các dự án có quy mô lớn, tạo nguồn hàng chủ lực trong giai đoạn đầu cho cảng biển Mỹ Thủy (dự án nhiệt điện than 1.200 MW có vốn đầu tư khoảng 2,26 tỷ USD, lượng than nhập khẩu khoảng 3,5 triệu tấn năm; dự án sản xuất Methane Gas - than hóa khí công suất 1 triệu tấn SNG cần 5 triệu tấn than, vốn đầu tư khoảng 2,5 tỷ USD) và chúng ta có lợi thế so sánh.
Các nhà đầu tư quan niệm, một khu công nghiệp thường được sinh ra chứ không phải được làm ra. Một khu công nghiệp ra đời là bởi sự thúc bách từ chính tiềm năng, thế mạnh nơi địa bàn mà nó đứng chân, là kết quả của sự gặp gỡ, thấu hiểu, đồng lòng, đồng sức tạo lập niềm tin cậy giữa những con người cùng tâm huyết, cùng khát vọng, cùng hướng về phía trước...
Niềm tin đã được nhen nhóm lên bắt đầu từ ngày hôm nay. Hy vọng vùng cát khó nghèo Hải Lăng rồi sẽ bước sang trang mới từ những niềm tin cậy, hợp tác, phát triển và giữ niềm tin như giữ lửa trên hành trình đi đến tương lai...
Đ.T.T
___________________
(1): LNG (viết tắt của: Liquefied Natural Gas) là khí thiên nhiên được hóa lỏng.
(2): BOT (viết tắt của: Built-Operation-Transfer) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng (Built), kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định (Operation); hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao (Transfer) không bồi hoàn công trình đó cho nhà nước.
(3): DWT (viết tắt của: deadweight tonnage) là đơn vị đo năng lực vận tải an toàn của tàu thủy tính bằng tấn (1 DWT tương đương 1 tấn).





