Lạ thế, biết con gái, con rể và các cháu ở Thủ đô không thiếu gì cách làm mát mà mạ vẫn gửi ra chiếc quạt mo cau. Mo cau này chắc chắn rụng xuống trên đất đỏ bazan Cùa, thung lũng nổi tiếng gần xa với tiêu nồng, mít ngọt, chè chát. Những hương vị cây trái đầy vơi ngấm vào tôi trong suốt hai mươi năm trời gắn bó cùng Quảng Trị.
Hai mươi năm, đời lính lăn lóc với gió Lào thổi như bão khan, hừng hực hơi nóng mặt trời. Cái thứ gió chao ơi là gió, hào phóng tràn xuống từ trập trùng Trường Sơn, khô rong róc, nóng hầm hập, hút cạn mồ hôi người tới gần nửa năm trời. Mùa khô. Rướn rập đạp xe ngược đường Chín lên Cam Lộ, vô Cùa chiều thứ bảy thăm vợ con như một ám ảnh khó phai nhòa của một thời khốn khó. Thời ấy, bộ đội như bọn tôi cũng phải nhai sắn lát, bo bo trẹo cả quai hàm; dân Quảng Trị cơ cực hơn, bữa đói nhiều hơn bữa no, các cuộc cưới nhà quê còn dọn món nộm thân chuối non thái mỏng. Thịt cá, đường sữa xứng danh là thực phẩm ngon hiếm. Mùa mưa. Nước từ trời đổ xuống tầm tã hết ngày đến đêm từ đêm sang ngày, dân bảo mưa “thúi đất, thúi đai” chẳng ngoa chút nào. Củ sắn trên đồi, trong vườn ngâm mưa, màu trắng chuyển sang vàng nâu, thoảng mùi xâm xẩm. Nhà vợ chồng tôi ở Cùa, mái tranh vách đất, mưa tạt lở trước lở sau, sân đóng rêu xanh rờn trơn nhẫy. Cứ nơm nớp nỗi lo con trẻ hấp tấp chạy bị trượt ngã.
Khộ! Dân miềng không phát âm đúng từ khổ. Chẳng sao cả, khộ cũng được, không dấu hỏi thì dấu nặng, có can chi mô hè. Từ khộ này, chắc chắn có liên quan tới món quà của mạ gửi từ Quảng Trị ra cho tôi rồi. Chiếc quạt mo cau. Tôi cầm món quà Quảng Trị trên tay, cảm thấy như vừa nhẹ vừa nặng, vừa xa vừa gần, vừa hở vừa kín. Phất phất quạt, từng cơn gió nhỏ nhoi phả mát lên mặt, lùa mát vào lòng. Cơn gió mo cau như hồi niệm lùa về, cái thời ai cũng khộ, cơm không đủ ăn, áo chẳng đủ mặc, lấy đâu ra quạt máy, phòng điều hòa nhiệt độ như bây giờ.
Mình khộ một thì mạ khộ mười. Lớp người như mạ phải chịu hai cuộc chiến tranh bi tráng không kể xiết. Chín năm chống giặc Pháp. Hai mươi năm chống giặc Mỹ. Thuở chín năm, Quảng Trị có chiến khu Cùa, chiến khu Ba Lòng… Đò em lên xuống Ba Lòng/ Đưa người cán bộ qua vùng chiến khu/ Ngày đông sóng cả nước to/ Mong trời thuận gió lên cho kịp về… Chắc nhiều người biết đấy là thơ Lương An, bài này đã được đưa vào sách giáo khoa, thời tôi đi học còn đọc thuộc lòng. May mà thơ ca còn lặng thầm lưu giữ lại cho đời sau những đêm mưa mù mịt khó chèo thuở chín năm ấy, khi mạ còn là cô gái chưa chồng đã biết bới cơm cho cán bộ bí mật nằm rừng, cận kề dấu tích căn cứ Tân Sở được xây đắp nên từ thời vua Hàm Nghi trước phong trào Cần Vương. Lòng yêu nước không của riêng ai, không phân chia đẳng cấp, tầng lớp. Giá trị lòng yêu Tổ quốc của một ông vua ghét giặc xâm lăng và mạ, một thôn nữ sinh ra giữa thung lũng Cùa, mồ côi cha mẹ từ nhỏ, vốn liếng văn hóa chỉ có dăm ba chữ bình dân học vụ là như nhau, hoàn toàn giống nhau. Thời chống Mỹ, Quảng Trị luôn được nhắc đến với nỗi đau chia cắt non sông mang tên cầu Hiền Lương sông Bến Hải. Tại sao thời đoạn Ngày Bắc đêm
Chao ôi, cái khộ của Quảng Trị đã trở thành niềm thương nỗi nhớ của cả nước. Có lẽ thế. Ai nhắc đến vùng đất Quảng Trị với các địa danh Vịnh Mốc, Cồn Cỏ, Dốc Miếu, Cồn Tiên, Thành Cổ, Đông Hà, Cam Lộ, Khe Sanh, Cửa Việt, Đường Chín… mà chẳng chạnh lòng nghĩ tới số phận dân tộc mình, hết cuộc chiến tranh này đến cuộc chiến tranh khác, giặc này vừa cuốn gói thì thù khác đã thế chân, dấu giày viễn chinh chồng lấn lên nhau, chẳng khác gì bão nối bão, lũ tiếp lũ hành hạ dân mình. Chiến thắng mang khuôn mặt cùng cực khổ đau, đấy là câu thơ của một thi sĩ Nga viết sau Thế chiến II mà sao vận vào số phận dân tộc Việt
Cứ miên man như đang cùng mạ, cùng Quảng Trị đi về dĩ vãng chưa xa ngái mấy. Dĩ vãng niềm tự hào cao rộng như núi như biển và nỗi đau cũng mang tầm kích như thế. Ta đã nói nhiều tới điều này trong thời hậu chiến nhưng hình như chưa đủ, chưa sâu. Chưa đi hết cái thấm thía chất náu trong trầm tích Quảng Trị. Kỳ tích và mất mát của một dải đất mỏng, neo bám vào Trường Sơn và trông ra biển cả bao la. Tôi nghĩ, Cửa Việt có một nội hàm bát ngát hơn là địa danh chỉ nơi đổ ra đại dương của một con sông không lớn của miền Trung.
Mạ của riêng tôi, mạ của nhiều người, mạ Quảng Trị chẳng hề nói dài, nói nhiều như ta đâu. Mạ nói: Sông Hiền Lương bên bồi bên lở/ Cầu Hiền Lương bên nhớ bên thương/ Bao giờ giặc Mỹ hết phương/ Bắc
Trong tôi đầy đặn một Quảng Trị quê hương thứ hai, quê ngoại của các con tôi; gần gũi một Quảng Trị thời trai trẻ được xác nhận bởi gió Lào, bão lũ; dấu yêu một Quảng Trị bạn bè rượu sắn lạc rang cho thơ xuôi sông Hiếu, sông Thạch Hãn rồi ra biển Cửa Việt mênh mang; thương lắm một Quảng Trị có em má lúm đồng tiền vừa làm cô giáo vừa mài bột sắn bán chợ nghèo; ân nghĩa một Quảng Trị nâng dìu tôi chập chững bước vào thơ ca để có những bài thơ định mệnh như Bông huệ trắng, Khát vọng Trường Sơn… Tôi muốn được nhắc lại rằng bài thơ Bông huệ trắng của tôi trước khi được Tạp chí Văn nghệ Quân đội tặng thưởng thơ hay nhất năm 1995 đã được in trên Tạp chí Cửa Việt. Những thi ảnh này đã hiện lên trong tôi sau khi đi viếng Nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn về: Những người lính trở về têm cho mẹ miếng trầu cay/ giấc mơ mẹ đỏ tươi từng giọt máu/ những người lính trở về xòe tay trên bếp khói/ giấc mơ mẹ mình đơm óng ả hạt mùa chiêm/ Những người lính trở về đánh rạ dọn rơm/ giấc mơ mẹ bay là dòng sữa trắng/ những người lính trở về cười ngượng nghịu/ giấc mơ người bật dậy tiếng oa oa…
Chiếc quạt mo cau, khộ! Một sự nhắc nhở nhẹ nhàng của mạ chăng? Ra chốn phồn hoa đô hội, lại có chút danh tiếng, biết đâu… Con người vốn dĩ hay quên, chắc mạ thầm lo thế. Mạ, đi đâu, ở đâu con vẫn mang hình bóng Quảng Trị trong lòng như mang câu ca dao xứ sở gió Lào nắng lửa: Cây cao bóng cả chẳng ngồi/ Lại ngồi trửa nắng trách trời không dim. Tôi ngắm nghía chiếc mo cau của mạ, lòng bâng khuâng thấy Quảng Trị rất gần; tháng năm xưa hiện về mồn một với những thương mến chân thành mà vùng đất ấy đã dành cho tôi. Không hoàn toàn mỹ mãn, trọn vẹn nhưng những tháng năm tôi sống ở Quảng Trị là vô cùng ý nghĩa. Cả những ai đó đã ứng xử không phải với mình, tôi cũng không còn băn khoăn nữa. Người Quảng Trị sống chân mộc, có trước có sau, không hề cực đoan và cũng không đãi bôi là cảm nhận bao quát trong tôi. Tôi trân trọng và yêu quý điều đó.
Giữa tiết thu rất đẹp của Hà Nội, thương mến Quảng Trị đã cho tôi bài thơ bé nhỏ này:
Mo cau rụng xuống sân nhà
Mạ ta làm quạt gửi ra Hà thành
Cầm tay, thơm ngát hương lành
Nghe trời Quảng Trị thẳm xanh đáy lòng
Tôi dùng bút dạ ghi bốn câu thơ lên chiếc quạt mo cau của mạ, sau đó chụp ảnh rồi đưa lên trang facebook của mình. Trời ạ, hàng trăm người vào like với nhiều lời bình luận rất cảm động. Tình cảm riêng tư của tôi đã được cộng hưởng mạnh mẽ vào tình cảm của bạn bè gần xa. Sự tương tác trong thế giới ảo ấy không hề lạ lẫm với đời sống nội tâm thực của con người. Tình yêu của tôi đối với Quảng Trị đã nhận được sự chia sẻ của không ít bè bạn. Chiếc quạt mo cau mặc nhiên trở thành biểu tượng tình cảm mạ dành cho tôi. Đơn sơ mà lắng đọng bao nhiêu ý nghĩa tốt đẹp, trong sáng của cuộc sống hướng thiện. Mới hay, giá trị của quà tặng đâu phải phụ thuộc vào sự đắt rẻ, nhiều ít của hiện vật mà nó mặc định bởi tấm lòng người trao. Tấm lòng càng trong sáng, chân thành, giá trị quà tặng càng cao đẹp, vững bền. Nó khác hoàn toàn với những món quà vụ lợi, giữa hai đầu tặng - nhận là sự toan tính cho riêng mình vì chức tước, vì bổng lộc hay vì muôn vàn mục đích khác. Tôi đặt chiếc quạt mo cau ở bàn làm việc để được gần mạ, gần Quảng Trị hơn, để cho lúc nào cũng được nhận về yêu thương của vùng đất khắc bạc mà thiện lành.
Thêm một mùa xuân mới. Mạ đã vượt xa ngưỡng thất thập cổ lai hy, bố cũng hơn tám chục tuổi trời rồi. Con bận việc ít vô, tuần nào cũng vậy, đôi ba lần mạ điện thoại ra hỏi thăm. Ôi, dân Việt thời nào cũng nước mắt chảy xuôi, lo cho con cháu hơn cả bản thân mình. Tôi chợt nhớ mùa xuân đầu tiên làm rể Cùa, sáng mồng hai được mạ dẫn đi chúc Tết mấy nhà bà con. Đường đất đỏ gặp mưa lay phay bùn quết lại dính dẻo như bột lọc. Tôi đi bên mạ, một tay xách dép, một tay chống gậy, nghĩ lại thật buồn cười. Vừa bước vừa lo mình bị trượt ngã vì đường quá trơn. Lúc bấy giờ cả vùng Cùa chưa hề có một mét đường nhựa, điện sáng còn là ước mơ xa tít tắp. Xóm làng chỉ lơ thơ đôi ba ngôi nhà lợp ngói. Giờ đây đã hoàn toàn khác. Đường trục của xã, đường liên thôn đều được nhựa hóa, bê tông hóa gần như toàn bộ. Ngọn đèn dầu chỉ còn trong hoài niệm của người dân. Dù chưa giàu có mấy nhưng khó tìm được một ngôi nhà lợp tranh. Về dự cưới, tôi nhắc lại món nộm thân chuối non mấy bà, mấy cô cười khơ khơ: “Còn mô cái món thời khộ rứa nữa.”
Khộ! Chưa hẳn đã đầy đủ sang giàu nhưng cuộc sống bây giờ so với vài, ba mươi năm về trước quả là một trời một vực. Dẫu vậy, thời rượu sắn hay thời bia Huda thì mỗi độ xuân về hoa mai vẫn rung rinh những cánh vàng như nắng mới trên vùng đất đỏ. Trong mỗi cành mai vươn lên từ giá rét tôi nghe rõ những thầm thì của quá khứ, của vùng đất tôi yêu thương hết lòng. Hèn chi, bạn bè hay bảo tôi là tạng người sống với dĩ vãng.
Tôi tự nhận mình là người của hoài niệm. Khộ! Răng mà thương đến rứa khộ ơi!
Hà Nội, những ngày cuối năm 2015
N.H.Q





