TCCV Online - Hồi nhỏ, nói đến Tết, lũ trẻ con chúng tôi thích lắm. Nhìn lên bờ rào, hễ thấy cây xương rồng ăn Tết là chúng tôi lại kháo nhau: “Sắp đến Tết rồi đấy”. Thực ra theo lẽ tự nhiên, cứ sắp tới mùa xuân, cây cỏ hoa lá đều tưng bừng trổ hoa nảy lộc. Cây xương rồng cũng vậy, những dịp ấy, trên mỗi nách gai, xương rồng lại nhú ra một “mâm xôi” - cái nụ hoa bé xíu tròn như mâm xôi, chúng tôi đinh ninh đấy là cây xương rồng ăn Tết, và có nghĩa là, sắp đến Tết của con người, rồi mách nhau một câu đầy háo hức “Sắp đến Tết rồi đấy” - dịp ấy thường là vào khoảng ngoài rằm tháng Chạp ta.
Lớp trẻ sau này nghe đến câu “hàng Tết phân phối” thì lạ lắm, chả hiểu mô tê gì. Nhưng lứa chúng tôi thì thấm thía lắm. Đó là những kỷ niệm không thể mờ phai trong ký ức.
Thường là mỗi khi Tết đến, mỗi hộ gia đình xã viên lại được mua một số hàng hóa thiết yếu để ăn Tết, đó là hàng phân phối. Danh sách hộ gia đình được đội sản xuất đưa lên hợp tác xã, hợp tác xã đưa sang ủy ban duyệt, đóng dấu rồi chuyển cho cửa hàng hợp tác xã mua bán. Chị nhân viên bán hàng cứ theo danh sách đó mà bán, đố ai có thể mua đến hai lần hoặc mua hơn. Hàng Tết được mua gồm: Hai gói chè Hồng Đào, một gói thuốc lá Sầm Sơn, hai bao diêm Thống Nhất, nửa chai dầu hỏa dùng để thắp đèn, một chai nước mắm và một chai rượu mía. Rượu mía là thứ rượu được làm từ bã mía do nhà máy đường thải ra, uống thấy toàn mùi mía.
Dân gian có câu chuyện ngụ ngôn chế giễu ông thày bói nói dựa “Chiều ba mươi Tết thịt treo trong nhà”, nói cái điều hiển nhiên, chiều ba mươi Tết nhà nào chả có đôi ba cây giò nạc, giò thủ, thịt luộc... treo trong nhà. Ấy, cái điều tưởng đương nhiên, cứ đến rằm là trăng tròn, thế mà Tết năm ấy, cho đến chiều ba mươi Tết khi cả làng, cả xóm đã rộn rịp dỡ nồi bánh chưng, quây quần bên mâm cỗ tất niên mà bếp nhà tôi vẫn cứ lạnh tanh.
Thường thì cứ đến Tết, hợp tác xã lại mổ lợn và chia cho xã viên theo nhân khẩu, mỗi khẩu được độ hai đến ba lạng. Nhà đông người năm, sáu nhân khẩu thì được cân, hơn cân. Nhà neo người, chỉ hai ông bà già chẳng hạn thì được một miếng vừa lòng bàn tay, đủ để rằm mắm. Nhưng hợp tác cũng chỉ bán cho những hộ nào đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với tập thể. Ví như mỗi năm một lao động chính phải có đủ một trăm tám hay hai trăm ngày công gì đấy làm công điểm ở hợp tác xã, rồi mỗi hộ lại phải đóng cho nhà nước hai mươi lăm cân thực phẩm, chủ yếu là thịt lợn, hoặc ngan, gà quy đổi. Gia đình tôi thuộc diện neo người. Mẹ tôi mất từ lúc tôi mới đầy tuổi, chị lớn tôi thì đi lấy chồng xa tỉnh bên, anh trai lớn thì đi thanh niên xung phong đang ở tuyến lửa Quảng Bình. Ở nhà còn ba bố con, tôi và anh kế tôi thì đang tuổi trẻ con nghịch đất lê la. Thày tôi do bị sức ép của bom Mỹ đau yếu quanh năm nên cũng không được hưởng cái quyền lợi được chia mấy lạng thịt lợn để ăn Tết của hợp tác xã.
Chiều ba mươi năm ấy, tôi thấy thày cứ đi một lúc lại về ngồi thừ ra. Một lúc lại đi... (toàn đi bộ chứ làm gì có xe đạp). Nhá nhem rồi mà thày vẫn chưa về, hai anh em đành thắp đèn dọn bữa cơm lèo tèo mấy miếng su hào luộc chấm mắm ăn bữa tất niên. Mãi đến gần chín giờ đêm thày mới về. Thày ngả cái mẹt ra ném xuống xâu thịt lợn độ bốn năm lạng. Thày lúi húi thái thái, chặt chặt. Ánh đèn và ánh lửa bếp hắt lên, gương mặt thày vẻ rạng rỡ hẳn. Hai anh em chúng tôi ngồi săn quanh, háo hức lắm. Thày khẽ nhắc: “Ngồi xê ra kẻo che hết ánh đèn”. Thế là nhà tôi có Tết...
L.B
YÊN MÃ SƠN
Chia lộc ngày xuân
Mùa xuân với gió se se lạnh, có chút nắng vàng âm ấm khiến mỗi con người nghĩ về một “miền hoan hĩ”, ở đó có chút từ tâm, chút sẻ chia không vụ lợi để nhận lấy một niềm vui dù chỉ là cái mỉm cười của ai đó.
Tôi đã đón những cái tết như thế mà theo mẹ, đó là những cái tết chia sẻ để biết được giá trị của sự cho và nhận.
Nằm ở thung lũng bao quanh núi cao, quê tôi được biết đến là vùng đất khắc nghiệt nổi tiếng trong lịch sử. Đó là vùng đất kinh tế mới mà đại đa số là người đồng bằng lên khai hoang, xây dựng. Người dân quê tôi có một tập tục đẹp là mỗi lần tết đến họ làm thật nhiều thức ăn, sắm nhiều bánh trái để sáng mùng một chờ những người Vân Kiều đầu tiên xuống núi cùng ăn tết và biếu mang về.
Những cụ cao niên trong làng kể lại rằng, ngày xưa dân kinh tế mới đói lắm. Nhà nước cấp gạo ăn định kỳ, ăn hết gạo mà lúa, sắn vẫn chưa lên kịp nên đói kém là điều tất nhiên. Cũng may có đồng bào người Vân Kiều, họ đùm bọc, cho vay gạo, sắn cho dân miền xuôi sống qua ngày.
Còn mẹ tôi thì kể rằng, đã có những cái tết mà cả làng chẳng sắm sửa được gì cho dăm ba ngày vui. Nhà nào có người thân từ dưới đồng bằng lên thì có vài cân gạo, ít đậu lạc, đậu xanh…để ăn tết, số còn lại phải đi vay gạo. Mẹ tôi kể rằng chiều ba mươi tết chạy đôn chạy đáo vay vài lon gạo để nấu bữa cơm tinh (cơm không độn khoai độn sắn) để cúng ông bà tổ tiên.
Cuộc sống ngày càng đi lên, người dân kinh tế mới ổn định dần và có của ăn của để, chuyện áo cơm ngày thường vẫn làm mỗi người vắt kiệt lực để có nhưng với ngày tết, họ không còn cảnh vay mượn. Thế nên mỗi mùa xuân đến là điều kiện để những người như gia đình tôi làm nhiều thực phẩm để “đền ơn”. Ban đầu việc “đền ơn” chỉ diễn ra một vài nhà, lâu dần trở thành một phong trào và có người đã ví nó là một thứ văn hóa. Văn hóa cho và nhận trong ngày tết.
Tôi còn nhớ, cứ đến ngày 25 tháng chạp là mẹ tôi giục hai anh em lội qua sông Sê Pôn để hái lá chuối, chặt nứa về chẻ lạt để gói bánh chưng. Tối đến cả nhà hì hục gói. Ngoài gói phần của mình còn gói để dành cho những người sẽ đến ăn tết cùng gia đình vào những ngày đầu năm. Bánh chưng, bánh bột lộc gói, chè đậu đỗ là những thứ không thể thiếu mà người lạ khi đến thấy công tác chuẩn bị, có lẽ sẽ rất ngạc nhiên bằng câu: “thực phẩm nhiều thế này chắc sẽ ăn tết đến giêng hai”.
Sáng đầu năm, nắng vùng cao Lao Bảo hanh hoang, vàng óng chứ không rét mướt như đồng bằng. Các chị, mẹ cùng các em người Vân Kiều từ bản Ka Tang, Ka Tup ở chênh vênh lưng núi xuống phố đi vào từng nhà để ăn tết và nhận quà biếu đem về nhà. Tôi thường được mẹ bảo bế cái mâm chè cúng đầu năm cho những đứa trẻ hiếu kỳ. Thằng út thường thì dành phần đi phát kẹo cho những đứa ngang lứa. Đám con nít vừa ăn vừa khoe nhau coi túi ai nhiều kẹo
Những nụ cười, niềm vui cứ hiện lên trong từng khuôn mặt. Câu chúc tết vụng về, câu được câu mất mà sao chân thật, đáng nhớ. Còn chúng tôi, sau khi chia lộc cho từng người hành khất bất đắc dĩ ấy, lại thấy mình bặt gặp chút hạnh phúc, ấm áp sau nụ cười chào tạm biệt.
Đó là chút hoan lạc, tinh tấn mà mỗi con người cần đón nhận trong một ngày đầu năm mới.
VŨ THỊ HUYỀN TRANG
Đung đưa ngó Tết
Ở cái xứ này đàn bà rảnh nhất chỉ vài ba ngày Tết. Quanh năm làm lụng đầu tắt mặt tối, lúc ngồi vào mâm cơm còn chân quần thấp chân quần cao. Ấy thế nhưng cứ đến Tết là mọi thứ phải đâu vào đấy, kể cả chưa xong xuôi cũng dẹp bỏ một bên. Để phụ nữ trong nhà rủ nhau ra hiên ngồi đung đưa chải tóc, hong vai. Tiện thể ngó ông chồng nhậu say về tựa cột nhà ngủ ngáy. Quần áo thì không mới nhưng được cái thơm tho. Vẫn là bàn chân lội bùn đấy thôi nhưng đã thơm hương chanh kỳ cọ nhức xót từng kẽ nẻ. Móng tay cũng sạch màu váng sắt, thiếu nữ thì quệt thêm lớp nhũ bóng ghé môi thổi cho khô. Đàn bà nghĩ vẩn vơ trách chồng cả năm chê mình lôi thôi mà có lúc tinh tươm lại chẳng thèm ngó nghê gì tới. Chỉn chu vậy cũng chỉ để phụ nữ trong nhà ngắm nhau chơi, tự an ủi nhau rằng hóa ra đời chúng mình cũng đâu có cực. Vỏ hạt dưa nhấm vứt vương vãi dưới sân, thêm chút mứt gừng ngậm cho ấm cổ. Họ ngồi cho đến khi thấy mùi rượu của ông chồng phả át cả mùi hương tóc thì mới dáo dác nhìn nhau thương lắm phận mình…
Đàn ông mấy ngày Tết không có việc gì ngoài rủ nhau nhậu nhẹt. Nhậu từ hôm 23 tháng Chạp cho đến mồng sáu tháng Giêng. Nhậu từ năm cũ say ngất ngư vắt qua năm mới. Tiện đâu nhậu đấy, tối đàn bà không thấy chồng về thì thôi đung đưa chân trước thềm nhà để đi từ đầu làng đến cuối xóm tìm chồng. Dìu được ông chồng về nhà thì mau đi pha nước cam, trải lại đệm chăn, buông màn cho chồng ngủ. Còn mình thì đi lau lại nhà, bưng đổ thau nôn, đốt thêm chút bồ kết vừa chống cảm cúm vừa át cái mùi men rượu. Đi ra cài cổng nhà mình thấy đàn bà nhà khác cũng đang chênh chao một bóng. Người vắt áo phơi đêm, người thu chăn thu chiếu, người lụi cụi hè bếp cho mấy con chó nhỏ ăn thêm. Tóc ai cũng đã búi gọn, tay áo xắn cao cho đỡ vướng. Gót chân chắc đã hết mùi hương chanh, móng tay mới sơn có khi đã xước. Mà thôi kệ, họ tắt điện quay vào nằm bên cạnh ông chồng đang ngủ mơ nói nhảm: “tôi chấp ông cả chục chén này, xem ai gục trước ai”. Đàn bà thở dài mà còn không biết là mình vừa thở dài nữa đấy.
Trẻ con thì vui rồi, chúng túm năm tụm ba chìa cho nhau xem xấp lì xì màu đỏ. Miệng ngậm đầy kẹo, quần áo rực rỡ, chúng thoăn thoắt chạy nhảy luồn lách khắp nơi. Làng có đền, trong đền người ta bày bán vô số đồ chơi dụ tiền con nít. Mấy ông thanh niên ở tận đẩu đâu cũng tìm đến, dựng tạm bợ cái lều, bày các trò ăn may có thưởng. Bọn trẻ ban đầu còn ngấp nghé đứng vòng ngoài xem, tay giữ khư khư nắm tiền phát vốn. Sau thì mê quá, vỏ lì xì xé vứt đầy cổng đền, có bao nhiêu tiền chúng chơi bằng hết. Đôi khi chỉ mang về được khẩu súng nước, con rô bốt xanh lè hay quả bóng nhựa vài nghìn bạc. Vậy mà khoái chí, khoe nhau suốt cả đoạn đường về. Chơi chán chúng về nhà gọi “mẹ ơi con đói”. Đàn bà đứng dậy, vào bếp nấu nướng cho con. Chưa kịp ngồi xuống mâm thì thấy chồng dẫn thêm về vài vị khách. Ai chồng cũng bảo khách quý, thôi thì nhà có gì cứ bày biện hết ra. Đàn bà nấu nướng đầu bù tóc rối, rồi lại ra hiên ngồi đung đưa chờ cho khách giải tán thì vào dọn dẹp. Nhưng phải chờ đến lúc rượu vào lời ra, hát hò ngâm thơ đủ kiểu họ mới dặt dẹo dắt nhau đi. Thế rồi cũng hết vài ngày Tết. Đàn ông tỉnh rượu như tỉnh cơn mơ hỏi cửa nhà sao vắng hoe vắng hoắt. Thì trẻ con đi học, đàn bà ra đồng từ mờ sớm nên cả căn nhà chỉ còn thoáng chút hương nhang đốt cho ấm lòng tổ tiên. Đàn ông ngồi trên giường bo trán nghĩ lại xem không biết mình làm được những việc gì mà Tết đã vội hết nhanh đến thế…
V.T.H.T





