Tôi biết đến địa danh Đông Hà từ thuở lon ton chạy theo mẹ gánh mớ rau tập tàng từ làng lên chợ huyện bán. Bàn chân trần quen với lối mòn chênh vênh, lơm nhơm đá sỏi của vùng quê bán sơn địa lần đầu đặt lên mặt đường nhựa phẳng lì êm mát vào một sáng mai thu. Cảm giác mơn man lan từ gan bàn chân lên con tim bổi hổi bồi hồi như sắp đi vào chốn địa đàng. Có thể nói đó cũng là lần đầu tiên trong đời tôi thụ hưởng sản phẩm của nền văn minh công nghiệp.
Cuối làng tôi nơi con đường quốc lộ 1A chạy qua, có một cột cây số. Tôi khó khăn lắm mới đọc hiểu được mấy chữ: Đông Hà 31km. Mẹ tôi bảo: “Từ làng mình mà xuất phát đi bộ lúc sáu giờ sáng thì khoảng mười một giờ trưa sẽ tới Đông Hà”. Hồi ấy tôi không có khái niệm về khoảng cách, thời gian, chỉ nghe người lớn nói rằng: Từ làng tôi sáng đi bộ vô Đông Hà thì chiều cũng kịp trở về làng. Nhưng lúc đó, tôi không thể tiên lượng được điều này: Để đi hết được đoạn đường ba mươi mốt cây số ấy, cả dân tộc phải liên tục hành quân hai mươi mốt năm ròng với bao máu xương phải đổ...
Chẵn mười năm sau ngày lần đầu lên chợ huyện, tôi mới chạm mặt Đông Hà. Mùa hè năm 1972, từ hướng Gio Linh tôi cùng đồng đội tiến vào Đông Hà dưới màn mưa bom, trọng pháo của Mỹ và quân đội Sài Gòn. Cây cầu đường bộ duy nhất bắc qua sông Hiếu đã bị đối phương đánh sập. Đầu cầu phía Bắc trơ một tấm biển bằng sắt nham nhở vết đạn nhưng vẫn đọc được dòng chữ tiếng Anh: “Dong Ha 1969 - major construction project for MCB-62” (Dự án xây dựng cầu Đông Hà do Tiểu đoàn 62 - Công binh Hải quân Hoa Kỳ thực hiện năm 1969). Chúng tôi rẽ trái xuống làng An Lạc xã Cam Giang. Trong bản đồ quân sự UTM của Mỹ do Cục bản đồ Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam chụp in lại, từng nóc nhà của làng An Lạc được thể hiện bằng những ô vuông đen xúm xít gần nhau mách bảo một làng quê trù phú có cư dân đông đúc ven bờ sông Hiếu. Thế nhưng trên thực địa, tại thời điểm đó, làng xóm tan hoang, cây cối tiêu điều, nham nhở vết đạn bom, không một nóc nhà nào trong xóm còn nguyên vẹn... Trước một ngôi nhà mái lợp tôn bị mảnh bom, pháo băm nát, tôi nhìn thấy một cây khế ngọt bị tiện ngang thân, ngay dưới vết cắt toe xơ, một chùm quả xanh còn đeo lại trên mỏm cành cụt khẳng khiu và một chùm hoa tím đã kịp nhú ra mỡ màng đầy sức sống...
Bom B52 nổ dựng những màn khói hình chữ nhật như những bức tường đen kịt từ làng Tân Vĩnh bên sông Vĩnh Phước kéo dài sang làng Tây Trì ở bờ nam sông Hiếu. Hình như ngày nào cũng thế, đêm nào cũng thế cả một vùng đồi phía Tây nam Đông Hà bom và pháo cần mẫn cày xới, không chừa chỗ nào rộng quá vuông sân.
Rồi thì Hiệp định hòa bình Paris được ký kết tháng Giêng năm 1973...
Chính quyền Sài Gòn chọn bãi cát Diên Sanh xây dựng tiểu khu mới, Tiểu khu Quân sự kiêm Trung tâm hành chính tỉnh, quản lý 15% đất đai chiếm lại được của tỉnh Quảng Trị giải phóng sau nỗ lực máu xương đến kiệt quệ của hai sư đoàn tổng trừ bị chiến lược là sư đoàn dù và sư đoàn thủy quân lục chiến suốt cả năm 1972.
Phía Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam chọn Đông Hà làm tỉnh lỵ cho tỉnh Quảng Trị mới giải phóng.
Thị trấn Đông Hà ngày ấy chỉ còn lại ba thứ có độ cao nhô lên giữa đống đổ nát tan hoang: Thứ nhất là nhà Vòm trên sân bay Đông Hà, thứ hai là lô cốt cao nơi khúc cua đường số 9 cũ đối diện với Trung tâm Viễn thông hiện nay trên đường Trần Hưng Đạo, lô cốt này do Pháp xây để lại nay đã bị đập bỏ và thứ ba là một ngôi nhà hai tầng mang đầy thương tích trên đường Phan Bội Châu gần cửa chợ Đông Hà cũ, ngôi nhà này được chọn đặt làm Trung tâm Bưu điện Đông Hà.
Hồi đó nhà Vòm như là đặc điểm nhận dạng riêng của Đông Hà, đứng xa cả chục cây số vẫn nhìn thấy cái “ga ra tàu bay” nổi bật giữa không gian thông thoáng do bom đạn phát quang thành bình địa. Lô cốt cao giữa lòng thị trấn như khẳng định Đông Hà vốn là cứ điểm quân sự xuyên qua hai cuộc chiến tranh ác liệt. Trên đỉnh lô cốt cao lúc mới giải phóng cắm lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam nửa xanh, nửa đỏ giữa là ngôi sao vàng năm cánh như khẳng định ý chí quyết chiến quyết thắng. Lá cờ mà khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam mới ra đời được giải thích rằng:
“Nửa cờ mát rượi màu xanh
Hòa bình vốn giấc mộng lành chúng ta
Nửa cờ đỏ thắm màu hoa
Ngôi sao rọi lối đường xa cho mình...”
Sau khi Hiệp định Paris có hiệu lực, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam cho xây lắp phía sau lô cốt một cột cờ bằng ống thép tương tự như cột cờ ở giới tuyến quân sự tạm thời Hiền Lương và treo lên đó lá cờ bằng lụa to hơn. Lá cờ này đứng trong Thành Cổ Quảng Trị nhìn ra vẫn thấy rõ.
Ngay sau lưng lô cốt cao là cụm máy phát điện Diesel. Cũng sau khi Hiệp định Paris có hiệu lực, tháng 5 năm 1973, Bộ Điện than lúc bấy giờ đã thành lập đoàn công tác Đ73 vào Quảng Trị để tiếp quản, khôi phục và phát triển hệ thống điện trên vùng đất mới giải phóng mà chủ yếu là tập trung vào việc cấp điện ánh sáng sinh hoạt cho một số cơ quan tại khu vực Đông Hà. Tôi nhớ không nhầm, giám đốc cụm điện là bác Văn Giai, bác này rất hay vào chơi với các sếp tiểu đoàn tôi, từ chỗ quen thân như người nhà nên bác ấy đồng ý cho đơn vị câu điện từ trạm biến áp của bác ấy vào thắp sáng trong đơn vị. Cột điện thì cán bộ chiến sĩ kiếm các cây gỗ dầu trong căn cứ quân sự quân đội Sài Gòn xẻ thành thân 20x20cm, dài 5 mét rồi đem chôn xuống đất. Dây tải điện thì lính ta lấy các cuộn dây thép gai mới của quân đội Sài Gòn bỏ lại trong kho, dùng kìm tháo các gai sắt ngang, lấy các cặp dây kim loại nối thành dây dẫn dài hơn 1km. Có điện, cuộc sống sinh hoạt của đơn vị tươi mới rõ rệt. Có thể nói cụm Diesel này là khởi thủy của Sở Điện lực Quảng Trị sau này.
Cũng tại dưới chân lô cốt cao này, tháng 9 năm 1973, Chủ tịch nước Cộng hòa Cu Ba Fidel Castro khi đến thăm vùng giải phóng Quảng Trị đã dừng chân đứng ngắm đống xác xe tăng M48, M41 và cứu nạn chiến xa hiện đại nhất của quân đội Mỹ viện trợ cho quân đội Sài Gòn thời điểm đó, một cách thích thú.
Trên lô cốt này, từ xuân 1974 treo một tấm pano tranh cổ động to “tầm cỡ quốc gia” mang bốn câu thơ của ông Lê Đức Thọ:
“Xuân về trên đồi cũ
Phấp phới ngọn cờ hồng
Cả hai tên xâm lược
Chôn một nấm mồ chung”...
Đông Hà sau Hiệp định Paris có hai nơi đông vui đó là chợ và cảng. Chợ Đông Hà hội đủ ba yếu tố giao thương: “cận lộ, cận thị và cận thủy”. Chợ Đông Hà đúng là trên bến dưới thuyền. Từ Cửa Việt, Cam Lộ, Gio Linh người đến chợ Đông Hà bằng thuyền máy, bằng xe cộ, bằng đôi chân trần... mang đến chợ những sản vật quê hương: tiêu chè xứ Cùa, rau liệt Gio An, môn khoai Gio Linh, gạo ngon Triệu Phong mới thu hoạch từ những cánh đồng còn khê nồng khói đạn. Có thể cho đến bây giờ những ai đi chợ Đông Hà ngày ấy đều không thể quên hương vị kem Đông Hà mà nhiều người vì yêu mến mà phong lên thành thương hiệu kem Đông Hà ngon nhất Đông Dương.
Cảng Đông Hà ngày đêm tấp nập đón những chuyến tàu phà sông biển chở hàng hóa từ miền Bắc chi viện chiến trường và nhận những sản phẩm được làm ra trong vùng giải phóng như mủ cao su sơ chế tận miền Đông Nam Bộ và các loại gỗ quý từ rừng già Tây Nguyên...
Rồi non sông quy về một mối. Tỉnh lỵ của Bình Trị Thiên hợp nhất được chuyển về Huế. Đông Hà mới được nâng cấp lên lỵ sở của tỉnh Quảng Trị chưa lâu lại trở về vị trí thị xã ngã ba đường khuất lấp trong nhọc nhằn bươn chải cùng cả nước chống giặc Bắc, giặc Tây Nam và oằn mình băng bó vết thương chiến tranh còn rỉ máu trong vòng vây o ép cấm vận.
Kỷ niệm đáng yêu nhất của tôi trong mười ba năm Đông Hà là thị xã thuộc tỉnh lớn Bình Trị Thiên đó là một kỷ niệm bi thương và lãng mạn. Vào khoảng tháng 2 năm 1976, đơn vị tôi vừa làm kiểm soát quân sự ở Đông Hà vừa tham gia dò gỡ bom mìn tại khu vực chùa Tám Mái, phía sau Sở Điện lực Quảng Trị hiện nay. Bãi mìn tây bắc chùa Tám Mái là một trong những bãi mìn hỗn hợp chống bộ binh thuộc diện dày đặc nhất để phòng thủ Đông Hà của quân đội Sài Gòn. Không sơ đồ bố trí, không phương tiện dò gỡ hiện đại, đơn vị hoàn toàn làm công việc bằng thủ công với những dụng cụ hết sức thô sơ.
Một buổi chiều, do sơ suất không đáng có, một quả mìn M14, lính ta gọi mìn RIP, bất ngờ phát nổ, ba người bị thương phải đưa đi Viện dân y Đông Hà cấp cứu. Đơn vị cử tôi và mấy anh em khác đến khoa ngoại giúp phục vụ chăm sóc những đồng đội bị thương, cho ổn định trước khi chuyển sang Quân y viện 88.
Trong phòng bệnh có một thanh niên trẻ, có vẻ là một giáo viên hay viên chức của một cơ quan nào đó, anh gãy xương tay hở đến điều trị. Anh có cô người yêu cũng trẻ và khá xinh. Có thể là giáo sinh Trường Sư phạm cấp tốc dưới Đông Giang. Chiều nào cũng thế, sau giờ làm việc là cô ấy xuất hiện trong phòng bệnh. Sau khi thăm hỏi một vòng những người cùng buồng bệnh, cô ấy cho anh người yêu ăn chiều rồi rút trong túi xách ra cuốn tiểu thuyết “Mẫn và tôi” của nhà văn Phan Tứ, thong thả đọc cho anh ấy nghe.
Ban đầu, có lẽ sợ ảnh hưởng đến những người xung quanh, cô chỉ đọc nhỏ đủ cho anh ấy nghe. Nhưng về sau nghe câu chuyện hấp dẫn và thú vị với giọng đọc ấm áp truyền cảm của cô nên những người bệnh xung quanh và những người đến phục vụ yêu cầu cô đọc to lên cùng nghe. Mỗi tối cô ấy đọc một chương, đến gần 21 giờ thì cô ấy gấp trang sách làm dấu rồi lễ phép chào cả phòng ra về, và hôm sau, “đến hẹn lại lên”...
Sau hai tuần thì tôi cũng được nghe đọc xong cuốn tiểu thuyết và những đồng đội tôi cũng chuyển viện. Cả ba người đồng đội của tôi đều bị thương vào mắt và bị băng kín nên khi chuyển viện ai cũng tiếc là không được nhìn thấy cô ấy một lần... Bốn mươi lăm năm nay nếu ai hỏi tôi nhớ đến Đông Hà, ngoài những thành tựu về kinh tế xã hội, tôi nhớ đến điều gì, tôi sẽ không ngần ngại trả lời: Tôi nhớ đến tình yêu của cặp đôi ấy. Một tình yêu bình dị, nhân văn và nồng nàn, chân thành và lãng mạn ở một thị xã ngã ba đường mới hồi sinh còn ngổn ngang nhiều việc phải làm. Đó cũng là tín hiệu của một sự trỗi dậy mãnh liệt của cuộc sống.
Nhập rồi chia tách, rồi lần thứ hai trong vòng chưa đầy hai mươi năm, Đông Hà thay thị xã Quảng Trị trở lại gánh vác nhiệm vụ lỵ sở của tỉnh.
Tôi ngồi tỉ mẩn tính rằng: Phải mất hơn 400 năm để cái làng nhỏ mang tên Đông Hà hình thành trên bước đường thiên di về phía Nam của cha ông dừng lại bên bờ sông Hiếu, chuyển mình từ làng lên thị trấn. Mất 60 năm đầy biến động để thị trấn Đông Hà nhận lãnh sứ mạng thị xã tỉnh lỵ và mất 20 năm để từ thị xã tỉnh lỵ vươn lên cấp thành phố đô thị loại ba và đang đứng trước mục tiêu trở thành đô thị loại hai trước năm 2020. Nghĩa là tốc độ thăng tiến, lên cấp của Đông Hà càng về sau càng ngắn dần mà bây giờ người ta gọi là tốc độ đô thị hóa nhanh.
Tôi cũng lan man rằng: Trong 5 con đường ngang nối quốc lộ 1A ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam với đường 13 dọc theo nước Lào thì đường số 9 có một vị trí quan trọng và thuận lợi nhất. Đường số 9 có những ưu điểm mà đường số 6, số 7, số 8 và số 12 không có. Vì thế không phải ngẫu nhiên mà năm 1998, Hội nghị Bộ trưởng Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng lần thứ 8 tổ chức tại Manila (Philippines) quyết định thống nhất thành lập “Hành lang kinh tế Đông Tây” mà điểm đầu ở phía Đông là thành phố Đà Nẵng của Việt Nam nằm bên bờ Tây Thái Bình Dương và điểm cuối phía Tây là thành phố Mawlamyine nằm bên bờ Đông Vịnh Yangoon biển Đại Tây Dương của Myanma, nhằm thúc đẩy phát triển và hội nhập kinh tế giữa bốn nước Lào, Myanma, Thái Lan và Việt Nam. Trong đó đường số 9 đi qua tỉnh Savanakhet của Lào và tỉnh Quảng Trị của Việt Nam được chọn trở thành phần phía Đông của Hành lang. Tầm quốc tế thì nó thế, nhưng tôi lại mơ tưởng một ngày nào đó Đông Hà sẽ thay thế Đà Nẵng gánh vác vai trò là điểm đầu phía Đông Hành lang kinh tế Đông Tây. Cơ sở để tôi mơ tưởng mà không viễn vông đó là Đông Hà cách cảng Cửa Việt chỉ hơn mười cây số, bớt đi 200 km đường bộ, thêm một sân bay quốc tế lưỡng dụng, thêm các cơ sở hạ tầng phục vụ du khách, khai thác hết tiềm năng du lịch các bãi biển sạch đẹp trải trắng muốt cát tinh anh dài hơn 60 km của tỉnh Quảng Trị để du khách ở các tỉnh Đông Bắc Thái Lan, Trung Lào không đắn đo mà chọn đi 300 - 400 km để nhìn thấy biển ở phía Việt Nam thay vì phải đi về phía Tây hơn 1.000 km để cùng một mục đích tương tự... Và một đối tượng du khách không nhỏ là các cựu chiến binh Mỹ có nhu cầu thăm lại chiến trường xưa, vì với họ Quảng Trị là ký ức những tháng năm tuổi trẻ bị căng ra dưới mưa rừng, nắng lửa, bị giam hãm trong chiến hào ẩm ướt, là chết chóc bất ngờ, là bước ngoặt cuộc đời... Với họ, những địa danh mang tên Mỹ trên đất Quảng Trị như: Carroll, Fuler, Nancy, Bacbara, Holecom, Rockpile... Các cuộc hành quân mang tên: Prairie, Deck House Quage, Pegasus (Ngựa bay) Scotland II, chiến dịch Charlie đều đồng nghĩa với sự hãi hùng, nỗi ám ảnh đến cuối đời chẳng thể nào quên.
Chắp nối dòng liên tưởng: Nơi tôi chạm mặt Đông Hà lần đầu tiên và nhìn thấy chùm hoa khế tím nhú ra trên cành vừa bị bom phạt đứt ở thôn An Lạc mùa hè đỏ lửa năm 1972 thì hôm nay đã hiển hiện một làng hoa An Lạc tràn ngập sắc hương, trở thành biểu trưng cho nét văn hóa của thành phố Đông Hà trong hành trình đi tới tương lai. Trùng với vệt bom B52 gây hủy diệt năm xưa, nay là đại lộ Hùng Vương, trục chính định hướng phát triển đô thị văn minh, hiện đại của thành phố Đông Hà hoa lệ...
Tôi có nhiều bạn bè là các cựu chiến binh từng gắn bó với chiến trường Quảng Trị nhiều năm và tham gia chiến dịch giải phóng Đông Hà cuối tháng Tư năm 1972. Năm nào các anh cũng về thăm lại chiến trường xưa. Các anh nói rằng: Hình như cơn gió Lào ở Đông Hà vào mùa hè hiện nay dịu mát hơn những cơn gió Lào hồi chiến tranh. Không chỉ các anh mà ngay cả chúng tôi cũng tự nhận ra điều ấy. Từ một Đông Hà khô cháy khét lẹt, nham nhở bê tông, sắt vụn, gỗ dầu với mặt đất chi chít hố bom, bốn phía bãi mìn với hơn nghìn dân mà phần đông tá túc dưới những mái nhà lợp tấm tôn giấy của “chương trình tái định cư” do Mỹ viện trợ đã hoen ố, nát nhàu vì dỡ ra lợp vào qua nhiều lần di chuyển. Sau 45 năm, kể cả những người có đầu óc lãng mạn nhất cũng không hình dung được thành phố Đông Hà bề thế như hiện nay.
Các nhà quy hoạch đô thị sẽ làm công việc của mình, nhưng tôi cứ ước muốn rằng, vài ba thập kỷ nữa, quy mô thành phố Đông Hà phía Đông sẽ là cảng Cửa Việt, phía Tây là thị trấn Cam Lộ, phía Bắc là thị tứ ngã tư Sòng, phía Nam là đô thị vệ tinh Quảng Trị. Với quy mô ấy, Đông Hà mới tương xứng với tấm áo khoác sang trọng đô thị loại II và vươn xa hơn, phần lục địa Đông Nam Á sẽ nhắc đến Đông Hà trong ánh nhìn háo hức.
H.L





