|
C |
òn nhớ, trong những ngày vật vã, đau đớn của nước Nga sau khi Liên bang Xô Viết tan rã, nhà văn hóa lớn Đimitri Likhachov đã nói thật chí lý rằng: “Trong ba chiều của thời gian, quan trọng nhất là hiện tại, hấp dẫn nhất là tương lai, phong phú nhất là quá khứ”.
Quả thực, có lâu đài nào của hôm nay lại không được xây trên cái nền của quá khứ và có con người nào lại không sống trong cả ba chiều của thời gian. Trong chuỗi dài quá khứ có những ký ức như là một cột mốc thật sự đậm nét và và có sức lan tỏa lớn trong cả chặng đường tiếp theo. Với tôi (và chắc chắn không chỉ riêng tôi), ký ức về ngày tái lập Tỉnh là một cột mốc lớn như vậy. Mượn cách nói của nhà văn hóa Nga, có thể nói: Trong 25 năm qua chúng ta đã sống, làm việc đầy nỗ lực cho cái “quan trọng nhất”, trong lòng luôn ôm ấp cái “hấp dẫn nhất” và ngày lại ngày được cổ vũ, thúc giục bởi cái “phong phú nhất” đó. Ký ức về ngày 1 tháng 7 khi Tỉnh được tái lập quả là đặc biệt, nó đã neo chặt trong lòng và chắc chắn sẽ đi theo chúng tôi đến cuối đời.
Năm 1976, chúng tôi từ Quảng Trị vào Huế theo Quyết định nhập tỉnh Bình Trị Thiên. Đây là một quyết định từ một động cơ tốt đẹp (để hy vọng có một quy mô đủ lớn đi vào sản xuất lớn) nhưng thật thiếu thực tế với một đất nước hoang tàn sau 30 năm chiến tranh.
Ngày 01/07/1989, chúng tôi trở về Đông Hà theo Quyết định tái lập tỉnh Quảng Trị. Mọi người đã đón nhận quyết định hợp lý này với niềm phấn khởi lớn lao. Bởi vì, đây là điều kiện khả thi nhất để phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng và nâng cao chất lượng sống cho nhân dân trong điều kiện cụ thể còn rất khó của địa phương. Với riêng những người con Quảng Trị như chúng tôi còn thêm một hạnh phúc là được trở về quê hương yêu dấu của mình.
75 năm trước, tôi được sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nghèo: Triệu Độ, Triệu Phong. Quê tôi không kỳ vỹ và thơ mộng như các địa danh nổi tiếng nhưng với chúng tôi đó là vùng quê yên ả, hiền hòa, đầy ắp những kỷ niệm để thương, để nhớ. Với mỗi người, quê hương hiện lên với những đặc trưng khác nhau. Với Đỗ Trung Quân đó là “đường đi học”, là “mẹ về nón lá nghiêng che”. Với Chế Lan Viên là: “Gió Lào” là “những ruộng đói mùa, những đồng đói cỏ” và “rừng sim không đủ quả nuôi người”. Với nhà báo Phan Quang là: “tiếng hò khi nồng thắm thiết tha, khi dồn dập tiết tấu cần lao”. Còn với tôi đó là nơi “chôn nhau cắt rốn”, là những ngày chăn trâu đầy ắp kỷ niệm đầu đời và sự thiêng liêng gắn với tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Từ năm 1953 tôi đã xa quê theo con đường học hành ở các vùng đất xa xôi. Trong 20 năm ấy quê hương vẫn hiện hữu trong lòng tôi với nỗi thương nhớ thường trực. Nhưng đến năm 1973 trở về tất cả những gì tôi đã hình dung đều đã bị bom đạn làm tan nát, cả quê tôi bị bom cày đạn xới. Ngôi chùa và mấy cây cổ thụ đầu làng đã bị đổ gãy. Nhà của ông bà, cha mẹ tôi đã bị bom đánh tan tành. Chị tôi đã gần 70 tuổi và đứa cháu tật nguyền phải dùng mấy cọc sắt và mấy tấm tôn rách che tạm một cái lều 6 mét vuông để ở. Cả làng không còn một ngôi nhà nào tử tế. Nước mắt tôi cứ trào ra khi không tìm được chỗ để cắm hương cho tổ tiên, ông bà. Xót xa trước cảnh đau thương của quê nhà và sự thê thảm của người thân như một phản lực tự nhiên, tình cảm quê hương trong tâm thức của tôi đã giục giã tôi hành động. Hành động thiết thực cho quê hương mà mình trân trọng, yêu thương và gắn bó gần nửa đời. Tôi thành thực nghĩ rằng: Cái cụ thể có thể khác nhau nhưng trên tổng thể hầu hết những người Quảng Trị đều có chung một dạng mà người ta thường khái quát là tình cảm quê hương đã hóa thành trách nhiệm.
Chính vì vậy, tất cả những người Quảng Trị trở về quê ngày 01/07/1989, ở các cơ quan, lãnh đạo tỉnh cũng như các ban, ngành, đoàn thể dù đã ý thức đầy đủ về những khó khăn, thách thức phía trước mà trong lòng vẫn đầy ắp những rạo rực, hăm hở, phấn chấn. Mười tám người trong đoàn cán bộ giáo dục chúng tôi trên xe trở về cũng sống trong tâm trạng náo nức đó. Bản thân tôi, dù đã hai lần xa cách vợ con (do đi chiến trường B và K trước đây) và giờ đây trong lần chia xa thứ ba này vẫn thấy lòng lâng lâng một hứng khởi. Ai đã từng sống ở quê nhà trong những ngày ấy đều dễ dàng cảm nhận được không khí và tình cảm rất đặc biệt này. Từ trong các hội nghị lớn của Tỉnh, của ngành đến hội nghị triển khai thực hiện ở cơ sở, đâu đâu cũng sôi nổi một ý chí quyết tâm xây dựng lại quê hương. Trên các phương tiện truyền thông đại chúng (Tạp chí Cửa Việt, Báo Quảng Trị, Đài phát thanh truyền hình), cho đến các buổi gặp gỡ, giao lưu bạn bè hoặc gia đình, chúng ta thường xuyên gặp những nỗi niềm đầy ắp xúc cảm từ tình sâu nghĩa nặng với quê nhà. Sự phấn khích về tình cảm có lúc dẫn đến quá đà và có lẽ đó là một trong những nguyên do giải thích việc chưa bao giờ các cuộc “nhậu” rất bình dân đã diễn ra khá rầm rộ và khắp nơi. Tôi là người huyết áp cao nên không dám dùng bia rượu nhưng nể bạn bè nên có vài lần tham gia. Tại đây, nếu loại trừ các chi tiết có phần bốc đồng, thiếu kiềm chế thì lắng lại đó là một tình cảm thật đẹp đối với quê hương mà không ai quên được. Có lẽ do đồng cảm xúc như thế nên tuần trước một người bạn thân từ thời ấy tâm sự với tôi: “Đã 25 năm rồi mà mình vẫn thấy nóng hổi cảm xúc những ngày đầu lập lại Tỉnh. Có lẽ trong gian khó con người ta dễ xích lại gần nhau hơn, yêu thương và gắn bó với nhau hơn, mình nhớ mãi cái không khí và tình cảm của những ngày đó”. Tôi hiểu đó không phải là cảm nhận của anh ấy, của tôi mà còn của rất nhiều người về những ngày đầu lập lại Tỉnh.
Ấn tượng đậm nét thứ hai trong tôi về những ngày ấy là ý chí vượt khó, sáng tạo để vươn lên của mọi người trong thời điểm đầy thách thức lúc đó.
Còn nhớ, năm 1972 khi Quảng Trị được giải phóng, báo chí phương Tây đã viết “Quảng Trị bị tàn phá 200%”, rồi “Quảng Trị phải đi lên từ số âm”. Điều tra xã hội học cho thấy trên mảnh đất này mỗi người dân bình quân phải chịu hơn 5 tấn bom đạn và cứ năm người dân thì có một người chết hoặc thương tật bởi chiến tranh. Còn giờ đây khi khởi động cho một giai đoạn phát triển mới thì lại bắt đầu từ một điểm xuất phát cực kỳ thấp trong khi các yêu cầu lại quá nhiều lại đều ở dạng bức bách. Từ đời sống của nhân dân, cơ sở hạ tầng, sức sản xuất, chất lượng nguồn nhân lực đến môi trường sống… đều hết sức khó khăn. Ngay trước mắt từ cơ quan lãnh đạo cao nhất trở xuống đều chưa có trụ sở và thiếu thốn điều kiện, phương tiện làm việc. Riêng ngành Giáo dục: quy mô vẫn còn nhỏ, cả tỉnh không có một trường nào là kiên cố “đạt chuẩn”, việc thiếu trường, thiếu lớp phổ biến và nguy cơ hư hỏng do thiên tai hiện hữu với không ít trường. Gần 9.000 cán bộ giáo viên đời sống vẫn khó khăn, riêng bộ phận ở miền núi càng khó hơn khi chưa có nhà công vụ và ốm đau thường xuyên… Bản thân cơ quan Sở phải xin UBND Thị xã Đông Hà nhượng lại phòng giáo dục để làm việc. Đồng chí Hồ Sỹ Nguyên Phó Chủ tịch UBND Thị xã về làm Phó Giám đốc Sở đã rất nỗ lực để thu xếp những khó khăn ban đầu này. Đội ngũ cán bộ thì số đông gia đình còn ở Huế phải sống trong cảnh “cơm tập thể, giường cá nhân”. Dù phải khắc phục nhiều khó khăn, thiếu thốn về điều kiện nhưng anh chị em vẫn hăng say làm việc cả ngày (không ít ngày phải làm cả buổi tối) để chủ nhật lại vào thăm nhà và đúng 7 giờ sáng thứ hai có mặt làm việc tại cơ quan. Phải nói rằng điều kiện thực tế với thật nhiều khó khăn như vậy nhưng chưa bao giờ thấy một ai kêu ca, phàn nàn, đòi hỏi. Vì vậy, ký ức về những ngày đầy ý chí vượt khó ấy là một kỷ niệm thật đẹp. Tôi còn nhớ, trong những ngày ấy Bộ trưởng Bộ GDĐT Trần Hồng Quân đã vào thăm và ở lại với Sở gần hai ngày. Tận mắt chứng kiến sự nỗ lực cao từ Sở đến cơ sở, trực tiếp nhìn những bữa ăn đạm bạc ở bếp tập thể cũng như tận mắt thấy những thiếu thốn, vất vả thường nhật của mọi người, anh rất xúc động. Là một người bạn gần gũi từ nhiều năm trước, đêm đó anh đã nói với tôi, với tất cả sự chân thành: “Mình thương và thật sự xúc động vì khó khăn như vậy mà anh chị em vẫn tận tụy và hăng say cống hiến”. Rồi anh lại hỏi tôi: “Theo cậu động lực nào đã tạo nên ý chí đó?”. Tôi thành thực đáp rằng: “Anh ạ, khi cái khó của mình cũng là cái khó của nhiều người thì người ta chịu đựng một cách thanh thản và cũng vượt qua một cách dễ dàng hơn. Còn trong trường hợp của chúng tôi ngoài cái chung, là trách nhiệm nghề nghiệp còn là tình yêu và trách nhiệm thực sự đối với quê hương đã quá đau thương của mình”. Anh trầm ngâm một lúc rồi thong thả nói: “Chắc là vậy, mình hiểu và sẽ ủng hộ các cậu tối đa”. Tôi cảm ơn không phải vì lời khen mà bởi sự thấu hiểu và sẻ chia chân thành của anh.
Nhưng thách thức lớn hơn nhiều là công việc. Chúng tôi xác định với nhau rằng: Trong bối cảnh có biến động lớn về tổ chức này, phải làm sao để sự nghiệp giáo dục của Tỉnh không bị chững lại, càng không thể đi xuống mà phải ổn định, tiếp tục phát triển và cố gắng tạo được một số “bứt phá” cần thiết để có thể đi nhanh. Không thể kể ra đây một cách dài dòng, xin được ghi lại thật tóm tắt một số việc chính mà ngành đã đồng sức, đồng lòng thực hiện.
Một là: Tổ chức lại hệ thống. Từ hệ thống giáo dục của bốn huyện độc lập thuộc Bình Trị Thiên nay phải tổ chức lại một cách thống nhất trong một tỉnh độc lập. Vì vậy, từ cơ quan sở, phòng huyện đến các trường học đã được điều chỉnh sáp nhập hoặc thành lập mới để tương thích với yêu cầu.
Hai là: Phát triển ngành trong mối quan hệ biện chứng giữa “đại trà”, “phổ cập” và “mũi nhọn”, có tính “đỉnh cao”. Để có “nền” phải tận lực phát triển hệ thống giáo dục ở làng, xã, huyện. Tập trung phổ cập mẫu giáo 5 tuổi và nỗ lực cao nhất để đẩy nhanh tiến độ phổ cập tiểu học (kể cả việc dùng sức mạnh tổng hợp của toàn tỉnh, toàn huyện giúp các vùng khó miền núi đi nhanh). Về “mũi nhọn”: sớm hình thành trường chuyên Tỉnh (thời Bình Trị Thiên, Triệu Hải là “cái nôi” của học sinh giỏi cấp 1, cấp 2). Củng cố và phát huy vai trò điển hình tiên tiến (thuận lợi là: thời Bình Trị Thiên nhiều điển hình của Tỉnh được hình thành ở Quảng Trị). Đặc biệt mạnh dạn đưa tin học vào nhà trường (trung tâm tin học thuộc ngành được hình thành sớm nhất cả nước).
Ba là: Bằng nhiều cách với nhiều lực lượng để nâng cao chất lượng nhưng đặc biệt chú trọng và khuyến khích việc đề cao vai trò chủ thể, chủ động và sáng tạo của người học. Mọi hoạt động sư phạm hướng vào việc hình thành năng lực tự học tự rèn, tự hoàn thiện của học sinh.
Bốn là: Vừa phát huy tối đa “nội lực” vừa tranh thủ có hiệu quả các nguồn hỗ trợ để phát triển. Để phát huy “nội lực”, đã tổ chức thành công lần đầu tiên mô hình “đại hội giáo dục xã” (điểm mở đầu là xã Triệu Đông được Bí thư Tỉnh ủy đến thăm và động viên), tại đây các vấn đề lớn của nhà trường được đặt ra và được giải quyết ngay với khả năng có thể của địa phương. Cách “Toàn dân làm giáo dục” này trong thực tế đã giải quyết có hiệu quả nhiều khó khăn cho các trường học. Ngành cũng đã tập trung tranh thủ sự đầu tư của Tỉnh, các chương trình của Bộ và sự giúp đỡ của không ít các tổ chức Quốc tế. Chính vì vậy mà khá nhiều trường kiên cố “đạt chuẩn” đã sớm được xây dựng từ đó.
Năm là: Tập trung cho công tác đội ngũ, những người có vai trò quyết định trực tiếp sức sống và sự phát triển của ngành. Rất nhiều vấn đề từ đào tạo, bồi dưỡng, công tác tư tưởng, chăm lo đời sống… đã được đẩy mạnh theo hướng “cách mạng” (ý chí tiến công) và “khoa học” (tuân thủ quy luật).
Với những nỗ lực to lớn này và tiếp đó là những năm tháng cố gắng về sau mà giáo dục Quảng Trị từ một nơi được xem là “vùng trũng”, “vùng khó” đã vững vàng sánh vai cùng các tỉnh thành trong sự phát triển chung.
* * *
Con tàu thời gian vẫn miệt mài lăn bánh về phía trước nhưng trái tim con người nhiều lúc quay lại phía sau. Hai mươi lăm năm là chặng đường của một phần tư thế kỷ. Tỉnh chúng ta nói chung và ngành Giáo dục nói riêng đã có thật nhiều đổi thay trên con đường phát triển. Từ một điểm xuất phát rất thấp của những ngày đầu tái lập, chúng ta đã vượt lên chính mình một cách ngoan cường. Với tất cả những gì đang có là một thành tựu và cũng là niềm tự hào to lớn. Nhưng có thành tựu nào là không chính từ con người làm nên và mỗi người khi hành động có bao giờ lại không bắt đầu bởi một sự thôi thúc, giục giã từ bên trong. Phải chăng tình yêu và trách nhiệm đối với quê hương chính là một trong những động lực quan trọng đó.
Đầu tháng 5/2004, anh Tạ Quang Hưng một trong 18 cán bộ giáo dục trở về Đông Hà ngày 01/07/1989, thân thiết nhắc tôi: “Gì thì gì nhưng phải nhớ tổ chức cuộc gặp nhân 25 năm ngày tái lập Tỉnh nhé. Ngày ấy với thế hệ chúng mình sâu đậm lắm”. Tôi hiểu đó là lòng anh cũng là lòng của bao người khác nữa. Bởi vì khi đã nặng lòng với quê nhà thì ngày 01/07 của 25 năm trước thật sự là ngày đặc biệt. Nghe anh nói, tôi nhớ đến câu thơ của nhà thơ cao tuổi Nguyễn Đức Mậu đã viết thật đúng và thật hay:
“Khi tóc bạc trên đầu trôi dạt mãi
Cội nguồn ơi, chiếc lá lại rơi về”
Xin được cảm ơn nhà thơ đã nói hộ nỗi lòng rất thật của những người Quảng Trị chúng tôi.
Đông Hà, 10 - 6 - 2014
T.S.T





