1. Cứ mỗi lần ra Cồn Cỏ tôi lại cứ nghe âm vọng trong tiếng sóng nhịp vỗ rộn ràng của bài ca về con cua đá. Đất nước có muôn ngàn hòn đảo, cua đá không phải là hiếm hoi trên những hòn đảo nước Việt, nhưng chỉ riêng ở Cồn Cỏ con cua đá mới đi vào nghệ thuật với bài ca đậm chất lính, giai điệu rộn ràng tươi vui và lạc quan hồn hậu. Cồn Cỏ có con cá đua là con cua đá/ nó nằm trong đá/ nó nằm trong khe/ nó có tám cái que có hai cái càng/ Trời về tối, ấy lính ta rất mê/ đi mò bên khe, rúc ra mà rúc rích/ lính ta mà rất thích nghe cua đi rào rào/ chộp ngay bỏ vào là con cua đá. Bài hát vang lên giữa sóng gió trùng khơi, như mang theo niềm lạc quan từ hòn đảo nhỏ bên vĩ tuyến 17 ra với đại dương. Có những ngày bị đánh rát quá, lính trên đảo thiếu gạo, thiếu nước ngọt... nguồn sống của anh em chính là con cua đá.
Đêm nằm ở bến Nghè, mấy anh em rì rầm nói chuyện con cua đá, chuyện chính quyền huyện đảo chỉ đạo cua để bảo tồn “linh vật” ở vọng gác tiền tiêu này. Từ con cua đá của bài ca những năm kháng chiến, tôi lại nhận ra hình như lịch sử vẫn luôn gửi gắm những ngụ ngôn của mình vào nghệ thuật, như bài hát con cua đá ở Cồn Cỏ này cũng thế! Ở một hòn đảo mà con cua nhỏ bé cũng được ghi công, hẳn hòn đảo ấy sẽ trĩu nặng ân tình biết mấy! Con cua đá ngọt bát canh người lính đủ sức đánh giặc gợi nhớ đến bát canh cà nuôi Thánh Gióng của bà mẹ làng Phù Đổng trong thần thoại ngàn xưa, tất cả là một sự trao truyền và tiếp nối cho một sứ mệnh giữ gìn đất nước, bảo vệ chủ quyền. Biển đảo Việt Nam những tháng năm này luôn sục sôi giông bão, và với Quảng Trị quê nhà, Cồn Cỏ là một vọng gác trên biển Đông, thao thức giữa ngàn trùng sóng gió.
Không nhớ hết mình đã đi qua bao nhiêu hòn đảo giữa trùng dương Tổ quốc. Từ Bạch Long Vỹ mịt mờ sóng, bạo liệt gió ở Vịnh Bắc Bộ, mấy chục điểm đảo của quần đảo Trường Sa và DK1 cũng đã có vài ba chuyến đi đi về về... Lúc lang thang theo anh em hải quân Vùng 5 đi xuyên cả vùng biển Tây, từ Phú Quốc đi ra tít Thổ Chu, rồi Nam Du, Hòn Khoai, quần đảo Hải Tặc, bao giờ cũng thế, vẫn như thấy Cồn Cỏ quê nhà ở đó. Bất ngờ nhất là chuyến ra Trường Sa lần đầu, trên con tàu HQ 957, tôi ở cùng phòng với Thiếu tá Bùi Văn Khương ở Ban Tuyên huấn Vùng 4 Hải quân, Khương hát cho tôi nghe một bài hát với nội dung như là sự nối dài của câu chuyện con cua đá: Trường Sa có con còng gió, như xưa Cồn Cỏ có con cua đá/ Cồn Cỏ một thời đã qua/ Cồn Cỏ một thời đánh Mỹ, bát canh chiến sĩ thành câu ca đến bây giờ/ Tuổi thơ, tuổi thơ ta đã đi qua, tiếp bước cha anh ra nơi đảo xa/ Trường Sa một trời nắng đỏ, bát canh còng gió vài ngọn rau xanh trồng trên đất Mẹ/ lính ta san sẻ anh chan em húp/ bát canh còng gió ngọt vùng đảo xa... Ra Trường Sa, nghe anh em lính đảo vỗ tay nhịp hát bài ca về bát canh còng gió, thấy cả một quá khứ Cồn Cỏ hiện về, vang động!
2. Năm giờ sáng, khi kẻng tập thể dục của anh em trong doanh trại tiểu đoàn Cồn Cỏ vang lên thì tôi cũng trở dậy để đi “săn” bình minh trên đảo. Thay vì ra phía bến Nghè, tôi ngược lối mòn phía sau doanh trại đi lên “đồi Hải Phòng”- tức cao điểm 63, ở đó, đèn biển Cồn Cỏ vẫn đang quay vòng chớp sáng. Cồn Cỏ có hai điểm cao, điểm cao nhất, nơi đặt hải đăng này gọi là “đồi Hải Phòng” bởi thời chiến tranh, không hiểu từ đâu, trên cái hòn đảo chỉ hơn hai cây số vuông (220 hecta) này, có địa danh của nhiều miền đất nước, giờ anh em vẫn gọi theo tên đó, ngoài đồi Hải Phòng có “trận địa Hà Nội” - khu vực bây giờ là Bộ chỉ huy quân sự huyện đảo. Từ khu trung tâm “Hà Nội” này, các nhánh đường dẫn tới các khu “Nam Hà”, khu “Hà Tây”, khu “Quảng Ninh”… rồi bãi “Hương Giang”, bãi “Hiron” (tên một bãi biển ở Cuba) - ở phía Đông và Đông Bắc đảo. Những địa danh rất quen trên đảo từ nửa thế kỷ trước, bây giờ gọi lên dễ gợi bao sự tò mò bởi chỉ ở đây, cả nước hầu như được “điểm danh”.
Hải đăng Cồn Cỏ tọa lạc ở vị trí 1709’27” vĩ độ Bắc và 107020’18” kinh độ Đông. Nếu không nằm chếch qua phía Bắc vĩ tuyến 17 chỉ với 9’29” mà thay vào đó, vĩ tuyến 17 chạy cắt ngang qua trung tâm hòn đảo nhỏ, như đã cắt đôi dòng sông Bến Hải, có lẽ số phận Cồn Cỏ sẽ khác đi, đảo nhỏ này có lẽ cũng được chia ra hai phần Nam đảo và Bắc đảo, đường phân tuyến sẽ chạy dài cắt từ âu thuyền phía Tây về tận bãi Hiron phía Đông!
Vì nằm chếch lên phía Bắc một chút xíu ấy, nên Cồn Cỏ thuộc về phần lãnh thổ của miền Bắc theo hiệp định Genève. Sáng ngày 8 - 8 - 1959, một trung đội của trung đoàn bảo vệ giới tuyến được lệnh ra cắm cờ trên đảo, hai tiếng đồng hồ sau đó, hải quân của chính quyền Sài Gòn cũng dong tàu ra tiếp cận đảo, nhưng đã chậm chân. Từ ngày đó, Cồn Cỏ đón nhận một sứ mệnh lịch sử: vọng gác tiền tiêu của miền Bắc. Bao nhiêu đạn bom đã trút xuống, bao nhiêu chuyến thuyền tiếp vận cảm tử và cả trăm con người đã nằm lại trên hành trình bất khuất của hòn đảo nhỏ.
Từ trên đỉnh hải đăng, nhìn về vị trí có độ cao thứ hai trên đảo, tức điểm cao 37, sẽ thấy tượng đài tưởng niệm các liệt sĩ vút cao, im lặng giữa nền trời buổi bình minh. Hai cao điểm của đảo, một điểm để xây dựng hải đăng, điểm kia dựng đài tưởng niệm. Tôi nhìn lên quầng sáng của đèn biển vẫn loang loáng những vòng quay 3600 miệt mài dẫn đường cho các con tàu trên biển Đông và liên tưởng đến đài tưởng niệm ở đồi 37. Hiểu theo một nghĩa nào đấy, đó cũng là một ngọn hải đăng khác để chỉ đường cho những người đang sống hôm nay về giá trị của độc lập và tự do, cái giá được trả bằng máu xương và sự can trường hiếm có. Khi ghé thăm phòng truyền thống huyện đảo, tôi đã lặng người trước những tấm hình trắng đen được phóng lớn treo trên tường. Ngay chỗ tôi đang đứng, trên vị trí của đèn biển Cồn Cỏ này, mấy chục năm trước là cái chòi quan sát dựng bằng cách ghép những thân cây đã bị bom phạt ngang ngọn, anh em bắc một chiếc thang lên tới chạc ba trên đỉnh, và từ đây, với chiếc ống nhòm và trần thân ra giữa đạn bom, người lính Cồn Cỏ quan sát hoạt động của máy bay, tàu chiến báo cáo về sở chỉ huy. Người lính kiên cường trên cái chòi quan sát này, quanh mình là bom đạn tơi bời, khi bị thương vẫn không rời chòi, những câu chuyện bây giờ nghe kể lại thật khó hình dung, nhưng trên bức tường của phòng truyền thống huyện đảo, tấm ảnh đen trắng chụp người anh hùng Thái Văn A với chiếc ống nhòm trên đài quan sát hướng ra biển khơi vẫn đủ sức dựng lại cả một quá khứ tháng năm bi hùng của đảo. Thái Văn A, người chiến sĩ trinh sát trên đảo Cồn Cỏ ngày ấy được phong vào năm 1967, là một trong sáu anh hùng của đảo, cùng với Nguyễn Tăng Mật, Cao Văn Khang, Lê Văn Ban, Cao Tất Đắc, Bùi Hạnh. Có lẽ không có hòn đảo nào trên đất nước này có “mật độ” anh hùng như Cồn Cỏ, bởi chính hòn đảo này cũng đã hai lần được phong danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân”. Anh hùng của những năm tháng đó không chỉ là chuyện vinh danh, bản thân danh hiệu ấy đã nói thêm về những gì khốc liệt nhất của cuộc chiến.
Nhưng ân tình đáp đền cho những máu xương đổ xuống Cồn Cỏ không phải đến ngay sau ngày hòa bình. Từ năm 1975 đến cuối thế kỷ XX, đảo vẫn là đảo quân sự với những giới hạn nghiêm khắc. Năm 1990, tôi may mắn theo đoàn đại biểu tỉnh Quảng Trị ra thăm và chúc tết anh em bộ đội trên đảo, nhiều khu vực vẫn bị giới hạn đi lại. Chạy từ Cửa Tùng ra tới đảo mất hơn bốn tiếng đồng hồ trên chiếc thuyền gỗ, muốn vào đảo, chúng tôi phải “tăng bo” lên những chiếc thuyền thúng cho anh em chèo vào. Đêm ở lại đầu tiên trên đảo, tôi ngủ chung với một anh lính trẻ nhớ mãi câu chuyện kể về dạo mùa hè, cả đảo khô cạn, thuyền chở nước ngọt trong những can nhựa 20 lít từ Cửa Tùng ra tiếp tế cho đảo, lúc chuyển nước từ thuyền lên đơn vị, loay hoay thế nào, Thành làm rơi vỡ cái can nhựa 20 lít nước, bị chỉ huy phê bình, Thành òa khóc, không phải khóc vì bị phê bình mà vì tiếc 20 lít nước ngọt chở từ đất liền ra! Ám ảnh nước ngọt có lẽ không riêng một hòn đảo nào, và con đường đi tới tương lai của Cồn Cỏ cũng bắt đầu từ việc tìm ra nguồn nước.
Tháng 3 năm 2002, tôi lại ra Cồn Cỏ cùng với 43 đoàn viên Thanh niên xung phong ra xây dựng đảo. Chuyến xuất phát ra đảo ấy khó ai quên vì những cơn sóng cấp 5 cấp 6 đã quăng quật chiếc tàu gỗ như chiếc lá, ra tới đảo có nhiều nữ đoàn viên phải đưa lên trạm xá bộ đội để truyền dịch cấp cứu. Những Thanh niên xung phong có mặt trên đảo là bước đệm để “dân sự hóa” đảo Cồn Cỏ để ngày 1 – 10 - 2004 Thủ tướng Chính phủ ký nghị định 174/2004/NĐ-CP thành lập huyện đảo Cồn Cỏ với định hướng nơi đây trở thành một “huyện đảo du lịch”.
3. Hơn mười năm, câu chuyện đổi thay ở đất liền có thể dễ hình dung hơn ngoài đảo khơi, bởi để đưa được một cân thép, một bao xi măng ra đây là chuyện không dễ. Vậy mà giờ đây, khi đứng trên hải đăng nhìn xuống, cả một quần thể phố phường cảng thị đang hiện ra với những ngôi nhà mái xanh mái đỏ ôm viền quanh đảo từ bến Nghè lên bến Tranh, tới âu thuyền… Hai trục đường trung tâm đảo là trụ sở của các ban ngành giữa trung tâm huyện là một hồ chứa nước vừa tạo cảnh quan môi trường vừa dự trữ nước ngọt cho cả đảo đủ sức dùng quanh năm, cùng với hệ thống giếng bơm nước ngọt có khắp các khu vực đảo. Đêm xuống, hệ thống đèn đường bật lên, từ ngoài khơi nhìn vào, dáng dấp một đô thị của Cồn Cỏ đã hiện ra dưới quầng sáng của đèn đường, của những dãy nhà cao tầng bên thềm đảo.
Tôi lại gặp những “người quen cũ”, những bạn trẻ Thanh niên xung phong ra đảo từ năm 2002, nay đã yên bề gia thất, nhiều người trong số họ đã thành đôi, gắn bó với mảnh đất giữa trùng dương này. Trong quán cà phê của Diệu, tôi nhìn những người khách đang uống cà phê sớm giữa cơn gió biển phóng khoáng ào ạt tràn vào. Mười ba năm trước, khi những đoàn viên Thanh niên xung phong ra đảo gây dựng cơ đồ thì Diệu, khi ấy là bộ đội chuẩn bị xuất ngũ. Vậy rồi trong khoảng thời gian chuẩn bị ra quân ấy, Diệu đã kịp tán “đổ” Hạnh Nhân, một cô gái trong đội Thanh niên xung phong, ngày ra quân, thay vì vác ba lô xuống tàu vào đất liền, Diệu vác ba lô lên căn lán của anh em Thanh niên xung phong “báo cáo lý do” và trở thành một thành viên mới của Tổng đội. Một thời gian sau thì cả hai tổ chức lễ cưới. Mười hai năm qua gắn bó với đảo, nay hai vợ chồng Diệu - Nhân đã có hai cô con gái xinh xắn là Khánh Huyền và Hương Giang. Hạnh Nhân bây giờ là kế toán của Ban quản lý cảng cá, Diệu vừa chạy hàng buôn bán, vừa hợp đồng bảo vệ cho cơ quan huyện đảo. Có mười một cặp vợ chồng trẻ từ thời “tổng đội” nay đang chọn Cồn Cỏ làm quê hương như cặp vợ chồng Lan - Hiển, cả hai cũng là những người ra đảo đợt 2002, Hiển nay là nhân viên Khu bảo tồn biển còn Lan, vợ anh trông coi quán tạp hóa ở nhà, rồi cặp Phong - Nhung, Hiền - Ái, Lịch - Thủy, Quyệt - Bằng, Nga - Vĩnh, Quang - Lam... trong số 43 người ngày đó, với “thành quả” bám trụ như vậy đã là một câu chuyện rất đẹp với Cồn Cỏ. Tìm đến nhà Thánh, chàng đội trưởng đội Thanh niên xung phong ngày đó mới hay bây giờ anh đang là cán bộ của huyện ủy Cồn Cỏ, vợ của anh, chị Duyên đang là nhân viên của phòng Kinh tế - Xã hội huyện đảo. Công việc của chị Duyên khá thú vị. Mấy lần ra Trường Sa, tôi đã thử mang quả bàng vuông về gieo thử nhưng không thấy nảy mầm, còn chị Duyên giờ đang phụ trách vườn ươm giống cây bàng vuông cho phòng Kinh tế - Xã hội. Bên con đường vừa mở của đảo, tôi nhìn thấy mảnh vườn ươm hàng trăm bầu cây đang lên xanh, chị Duyên bảo mỗi cây bàng vuông được bán với giá 60.000 đồng/cây, khách ra đây ai cũng mua vài cây mang về đất liền như có một chút kỷ niệm với đảo xa. Trên những đường phố vừa mở của đảo cũng bắt đầu trồng những cây bàng vuông như thế.
Những cây xanh được gieo ươm, những đứa trẻ lớn lên trên đảo là một cam kết của Cồn Cỏ với Tổ quốc trong những ngày tháng này. Và Cồn Cỏ, với vị trí của mình vẫn luôn là “vọng gác tiền tiêu” trên biển Đông của nước Việt!
L.Đ.D





