Bảy mươi lăm tuổi và câu chuyện cuộc đời được tái hiện trên bản tóm tắt thành tích đề nghị tặng thưởng Huân chương Lao động lưu trong hồ sơ gia đình của ông nhanh chóng đưa tôi đến với sức thuyết phục của câu danh ngôn ‘‘Lao động khai phá con đường dẫn tới vinh quang” (X.Publilus). Đấy là lúc ông lão Đinh Tấn Vĩnh có gương mặt hồng hào và mái tóc trắng như cước bồi hồi kể về những dòng nước thủy lợi bao năm nay tưới xanh mát đất đai, đồng ruộng, cây cối và dung mạo cuộc sống trên một vùng Bến Hải thuở trước và hai huyện Vĩnh Linh, Gio Linh ngày nay. Trong những chiều cảm nhận của mình, bất giác tôi hiểu rằng bắt đầu từ hơn năm mươi bốn năm về trước, cuộc đời ông là một bài ca thủy lợi chỉ bởi ông là con người của những dòng kênh…
Nhiều người thuộc thế hệ công dân đặc khu Vĩnh Linh vẫn nhớ: Tuổi xuân của thân thể, tuổi xuân của tâm hồn và tuổi xuân của trí tuệ của ông Đinh Tấn Vĩnh gắn với thủy lợi. Làm công nhân xây dựng công trình thủy lợi từ tháng 4 đến tháng 8 năm 1961, nhiệt tình của người thanh niên hai mươi tuổi Đinh Tấn Vĩnh cuộn chảy theo chuỗi ngày góp sức trẻ xây dựng đập Rú Lịnh, khôi phục các đập Bến Tám, Bến Tranh và cống cầu Trìa... Người nào người nấy đều dùng một đầm để đầm đất nhưng anh công nhân Đinh Tấn Vĩnh đầm đất bằng hai tay hai đầm. Ngày nào cũng hăng hái, miệt mài với hai tay hai đầm và năng suất lao động gấp đôi người khác nên chàng trai Đinh Tấn Vĩnh đã được Ty Thủy lợi - kiến trúc khu vực Vĩnh Linh chọn đi học khóa Sơ cấp Kế hoạch tại trường Kế hoạch nghiệp vụ của Bộ Thủy lợi từ tháng 9 năm 1961 đến tháng 8 năm 1962. Sau thời gian lĩnh hội kiến thức cơ bản trong ngành thủy lợi cùng giá trị hiệu dụng của các công trình thủy lợi bằng cả tư tưởng và tình cảm trong con người công dân của mình, anh thanh niên Đinh Tấn Vĩnh trở thành cán bộ thủy lợi của đặc khu Vĩnh Linh. Bây giờ, trong lớp lớp ký ức của ông lão Đinh Tấn Vĩnh thường phải cần được thầy thuốc điều trị các chứng bệnh của tuổi tác vẫn còn dư vang của những ngày nâng cấp hồ chứa nước La Ngà để khôi phục và nâng cao khả năng tưới trên một vùng Lâm - Sơn - Thủy của đặc khu Vĩnh Linh trong thời điểm đế quốc Mỹ bắt đầu chiến lược chiến tranh phá hoại miền Bắc xã hội chủ nghĩa (1964 - 1965). Hào hứng với dòng chảy của ký ức làm thủy lợi, ông thôi kể chuyện theo thứ tự thời gian của mỗi công trình khi nói về việc xây dựng hồ thủy lợi Kinh Môn để tưới chống hạn, đưa ruộng một vụ thành hai vụ trên địa bàn xã Trung Sơn, xã Trung Hải, xã Gio Phong ở phía Bắc huyện Gio Linh rồi xây đập Hà Thượng cũng trong địa phận của huyện Gio Linh. Đặc biệt, một niềm phấn khích làm ông như trẻ lại trong những phút kể về những ngày tháng cùng nhân dân ba xã Vĩnh Hòa, Vĩnh Hiền, Vĩnh Thành làm trạm bơm Châu Thị. Thuở ấy, ông là một trong những con người sống và lao động với bao cơm quả cà và tấm lòng Cộng sản để xây dựng quê hương sau chiến tranh nên đã dồn hết tâm sức huy động sức dân ở phía Bắc sông Bến Hải chưa có công trình thủy lợi làm trạm bơm Châu Thị không ngoài mục đích đó
Giờ đây, khi quê nhà đã qua mấy đợt nắng hạn gay gắt trên diện rộng diễn ra trong mùa Hè năm 2015 bởi hiện tượng El Nino mạnh và kéo dài, màu tóc bạc óng ánh trên mái đầu khả kính của ông lão Đinh Tấn Vĩnh tựa như màu của dòng nước lấp lóa dưới ánh nắng đang thong thả chảy qua cầu Châu Thị trong buổi sáng thái hòa này. Vậy mà trong thời gian xây dựng trạm bơm Châu Thị với sự ủng hộ triệt để của nhân dân các xã Vĩnh Thành, Vĩnh Hiền, Vĩnh Hòa thì người dân hai xã Vĩnh Nam, Vĩnh Lâm đã phản đối kịch liệt khi trạm bơm chưa hoàn thành có lúc nước dâng làm ảnh hưởng đến diện tích ruộng sâu trên địa bàn. Người dân xã Vĩnh Nam khi đó đã nói trại đập Châu Thị thành đập ‘‘tự thị” và tổ chức đấu tranh đòi ngừng xây dựng, thậm chí phá bỏ đập Châu Thị,... Là người trực tiếp huy động mọi tầng lớp nhân dân, kể cả học sinh, phụ lão, hưu trí và trực tiếp chỉ đạo, tham gia làm đập Châu Thị, anh cán bộ thủy lợi Đinh Tấn Vĩnh đã kiên nhẫn với công tác tư tưởng, giải quyết những thắc mắc, khiếu kiện cho đến lúc người dân thông suốt và hoàn thành công trình. Lúc dòng nước của công trình thủy lợi Châu Thị chảy ngoan hiền giữa hai bờ kênh, máng đập là lúc trong lòng những con người hôm qua vừa gọi tên ông thành Đinh Tấn Phỉnh đã bừng tỏ niềm tin ruộng đồng hương hỏa của họ sẽ nên bờ xôi ruộng mật làm thỏa mơ ước no ấm và trả lại ông cái tên mang ý nghĩa tốt đẹp đã được Mẹ, Cha đặt là Đinh Tấn Vĩnh. Với ông, lòng dân khi ấy là một phép thử để mài giũa ý chí làm giảm vất vả của nhân dân và tích lũy kinh nghiệm, phương cách đưa những ngày tháng xây dựng công trình thủy lợi thành những ngày hội của cuộc đời.
Trên dòng chảy thời gian gần trọn đời người của ông lão Đinh Tấn Vĩnh có tiếng vang của nhận thức rằng ý nghĩa thực tiễn của các công trình thủy lợi cùng niềm vui làm thủy lợi như làm nên ngày hội của cuộc đời đã dẫn ông tới những thành công và vinh dự. Năng lực công tác và nền tảng đạo đức giúp ông làm Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Bến Hải của tỉnh Bình Trị Thiên từ năm 1982, trở thành Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Bến Hải vào năm 1986, là Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Vĩnh Linh trực thuộc tỉnh Quảng Trị từ năm 1989 đến năm 1991. Chính trong hơn mười năm này, mảng công tác mà ông tâm đắc nhất, dồn nhiều nhiệt huyết nhất là xây dựng các công trình thủy lợi trên địa bàn mình trực tiếp quản lý. Khi đó là còn trong thời kỳ bao cấp và chịu ảnh hưởng từ sức ỳ của thời bao cấp, hệ thống tiêu nước ở Trung Hải, Trung Sơn hoặc Cao Xá của Gio Linh được làm bằng sức lao động nghĩa vụ của người dân tham gia vừa để đồng ruộng không còn bị ngập, úng vừa để có gạo PAM theo tiêu chuẩn gạo làm thủy lợi của tỉnh Bình Trị Thiên do nước ngoài viện trợ. - Làm thủy lợi có lợi như vậy nên thời đó mọi người đốt đuốc làm cả đêm trên công trường thủy lợi, trong giọng kể của ông có nỗi bùi ngùi và sự hoài nhớ trước khi nói rằng khoảng thời gian từ năm 1982 đến năm 1990 là giai đoạn ông tự hào nhất về con người mình bởi đã sống và làm việc với trọn vẹn tình cảm, trách nhiệm cùng những phấn khởi, sự hăng hái mang lại nhiều ý nghĩa nhất. Làm Phó Chủ tịch thường trực rồi Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Bến Hải đến Chủ tịch Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Vĩnh Linh, ông dành nhiều tâm sức nghiên cứu, đề xuất, xúc tiến và trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng các công trình thủy lợi ở Gio Linh, Vĩnh Linh thời ấy trong điều kiện gian nan, khó khăn bậc nhất. Làm thủy lợi dựa vào sức dân và điều thôi thúc ông thực hiện chính là thực tế chỉ với một vài công trình thủy lợi nhỏ có khả năng tưới tiêu thấp nên người dân Vĩnh Linh, Gio Linh làm nông nghiệp đổ nhiều công sức trên diện tích đất chịu nhiều hậu quả nặng nề của chiến tranh mà thu họach không đủ ăn và huyện Bến Hải thuộc diện nghèo nhất, nhì tỉnh Bình Trị Thiên, huyện Gio Linh cùng huyện Vĩnh Linh đều ở trong nhóm huyện nghèo của tỉnh Quảng Trị trong những năm đầu lập lại tỉnh. Theo lời dạy truyền đời của tiền nhân là ‘‘nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” trong sản xuất nông nghiệp, người cán bộ lãnh đạo trọng nông nghiệp và quý sức dân là ông đã nhất quyết làm các công trình thủy lợi mà công trình này chuẩn bị xong thì đã lên kế hoạch xây dựng công trình kế tiếp,... Và, tuy là cán bộ lãnh đạo cấp huyện nhưng ông ở công trường thủy lợi nhiều hơn ở văn phòng cũng như ở nhà. Trong ký ức về người cha của mình, con gái thứ nhất của ông - Đinh Thị Hà, từ lúc cô lên tám đến mười sáu tuổi thì năm mẹ con của cô không mấy khi được ăn cơm cùng ông ở nhà vì ông luôn bận việc tại công trường thủy lợi. Đối với ông, làm thủy lợi là niềm say mê lớn bởi ý nghĩa hữu ích đồng thời ông có điều tương ngộ với quan điểm ‘‘mục đích duy nhất của khoa học là làm giảm vất vả cho nhân loại” (Bleiste) nên trong những ngày tháng vừa làm thủy lợi vừa huy động lương thực ở Vĩnh Sơn, có lần từ ô tô bước xuống thì một chiếc hóp tre đâm qua dép, xuyên thủng bàn chân của ông. Đến trạm y tế để được sơ cứu và băng bó vết thương, hôm sau ông lên công trường thủy lợi động viên cán bộ và người dân với bàn chân trắng toát màu băng y tế. Hay trong thời gian hoàn chỉnh công trình thủy lợi Kinh Môn thì kênh Bắc Dốc Miếu không có trong bản thiết kế được duyệt nên Ủy ban Nhân dân huyện Bến Hải phải tự bổ sung, tự đầu tư xây dựng hệ thống kênh này. Một thử thách nữa lại đến khi đặc điểm địa chất ở Bắc Dốc Miếu rất phức tạp nên việc đào kênh gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí có nguy cơ không thành công. Vậy là ông tiếp tục huy động sức dân và trí tuệ của đội ngũ kỹ sư, công nhân thủy lợi cùng hợp sức đến ngày hoàn thành công trình với hiệu quả thiết thực nhất là tăng diện tích đất nông nghiệp được tưới nước, trong đó có hàng trăm hecta ruộng dân ở xã Gio Phong.
Làm công nhân thủy lợi từ tuổi hai mươi, tham gia xây dựng các công trình thủy lợi lớn, nhỏ đến năm năm mươi tuổi, người công dân và người cán bộ lãnh đạo Đinh Tấn Vĩnh đã sử dụng thời gian của đời mình thật tốt để hoàn thiện bản thân về cả đạo đức, thẩm mỹ và để có những thành công tốt đẹp. Dường như những hoạt động không quản ngại đào những dòng kênh, xây mương dẫn nước vào đồng ruộng chính là cách để ông khai phá con đường đạt tới những thành công trong sự nghiệp của một con người đã phải nghỉ học khi vừa hết cấp một do mất bố vào năm lên bảy rồi vừa lao động hợp tác xã vừa học bổ túc cấp hai... Hiểu rằng học là điều kiện không thể thiếu để làm việc tốt hơn, cống hiến nhiều hơn, ông đã học bổ túc văn hóa trong năm 1967, học dự bị đại học vào năm 1968 và học khoa Kế hoạch của trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội trong các năm 1968 - 1972 với luận văn tốt nghiệp môn kinh tế chính trị đạt điểm 5 - mức điểm cao nhất thời đó. Để rồi sự học và cách phục vụ người dân xây dựng quê nhà bằng những bận rộn không ngừng đưa nước về mát rượi những cánh đồng ươm trồng giấc mơ no ấm, hạnh phúc, đẹp giàu đã đưa ông tới với Huy chương Vì sự nghiệp Thủy lợi, Huân chương Lao động hạng Nhì, nhiều bằng khen của Nhà nước... Cũng với sự học ấy cộng thêm sự chặt chẽ của người lãnh đạo chính quyền, ông đã lập nhiều kế hoạch xây dựng công trình thủy lợi mà không kế hoạch nào không được cấp trên thông qua. Mà để nhận được những ý kiến chuyên môn đối với các kế hoạch xây dựng công trình thủy lợi đã được ông cùng đồng sự lập nên thì chính ông là người biết bao lần gõ cửa Ty Thủy lợi tỉnh Bình Trị Thiên đóng ở thành phố Huế, cách nơi ông sống và làm việc hơn trăm cây số. Thời ông làm thủy lợi, trong năm năm cuối của thời bao cấp và năm năm đầu của Đổi mới, điều kiện thông tin liên lạc còn khó khăn, muốn nhận được chỉ đạo của cấp trên từ thành phố Huế thì phải đợi đến hết ngày và mỗi khi có tin khẩn, điện khẩn thì cán bộ văn phòng cử người ra công trường hoặc đồng ruộng tìm ông đang chỉ đạo, chỉ huy, giám sát thi công kênh, mương, hồ, đập để báo. Khi được dẫn về đồng xa ruộng gần, dòng nước thủy lợi ngọt mát đã giúp Gio Linh, Vĩnh Linh phát triển sản xuất nông nghiệp với tốc độ ngày càng nhanh, năng suất ngày một cao bởi ruộng một vụ đã thành ruộng hai vụ, những vùng trước đó bị úng lụt vì không tiêu được nước thành ruộng hai vụ cho năng suất cao, diện tích không gieo cấy được được thu hẹp đến mức thấp nhất... Từ một nền sản xuất nông nghiệp yếu kém mang lại thu nhập thấp, Gio Linh và Vĩnh Linh đã bước vào giai đoạn phát triển toàn diện nền nông nghiệp với sự góp sức từng phút từng giờ của thủy lợi. Trồng lúa hai vụ và trồng hoa màu, trồng cây lạc, trồng cây cao su, trồng cây hồ tiêu, chăn nuôi gia súc và gia cầm bằng giống mới, kỹ thuật canh tác mới trong điều kiện tưới nước, tiêu nước thuận lợi hơn trước rất nhiều, năng suất và sản lượng tăng gấp hai, gấp ba làm đời sống nông nghiệp và nông thôn nói riêng, đời sống kinh tế - xã hội nói chung ở Vĩnh Linh, Gio Linh trong những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 bắt đầu có thêm nhiều màu xanh, ánh sáng và niềm vui đổi sắc thay da,...
Vì cuộc sống ấm no của người nông dân mà làm thủy lợi và làm thủy lợi đã trở thành điều kiện không thể thiếu được của cuộc đời của người công dân Đinh Tấn Vĩnh. Qua làm thủy lợi, ông đã cùng những con người như trong câu ca ‘‘Bởi chúng mình thương bao nhiêu mảnh đất cằn/ Mà đời không ngại đào mấy con kênh/ Đắp hồ xây đập, ta đưa dòng nước ngọt/ Để dòng mương nhỏ tắm mát quanh năm/ Ruộng đồng ta thỏa mơ uớc bao ngàn năm” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý góp phần làm nên sự mở rộng và màu mỡ của đồng ruộng, những mùa vàng bội thu và nhiều bước tiến của Gio Linh, Vĩnh Linh từ nguồn lực nông nghiệp và nông thôn. Kể chuyện làm thủy lợi trong hơn ba mươi năm trước, ông vẫn nhớ rất rõ về đội ngũ kỹ sư thủy lợi, kỹ sư thủy nông, kỹ sư kinh tế nông nghiệp, kỹ sư xây dựng của huyện Bến Hải tham gia thiết kế, xây dựng đập Châu Thị, công trình thủy lợi Kinh Môn, kênh Bắc Dốc Miếu như kỹ sư Nhàn, kỹ sư Hương, kỹ sư Minh, kỹ sư Hoàng Thao, ông Nguyễn Hoa Nam... Ông bảo, lúc này đã có không ít người làm thủy lợi thuở ấy đã qua đời nhưng họ chính là những con người đã chứng minh tinh thần minh triết của câu nói ‘‘Qua công việc, qua lao động và sáng tạo, bản chất con người thể hiện rõ hơn cả, cao quý và hoàn hảo hơn cả” (A.Phadeep) và tinh thần ấy của họ đã được các thế hệ nối tiếp làm những công trình thủy lợi trọng yếu trên địa bàn hai huyện Vĩnh Linh, Gio Linh như Bảo Đài, Sa Lung, La Ngà, Trúc Kinh, Hà Thượng để cùng mọi người, mọi nhà đưa những miền đất thân thương của huyện Bến Hải ngày trước ngỡ như được dệt gấm thêu hoa trong hôm nay.
Trên cầu Châu Thị trong tiết Lập Đông giữa đợt El Nino mạnh và kéo dài, một lần nữa tôi được người dẫn đường chỉ tay xuống dòng nước êm đềm, xanh rợi bảo đây là nước từ nguồn đập ông Vĩnh và đây là kênh mương ông Vĩnh. Từ trong âm hưởng của giọng nói mộc mạc mà tràn đầy sự trân trọng ấy, tôi hiểu con người của những dòng kênh như ông lão Đinh Tấn Vĩnh là một trong những nguyên mẫu làm nên sức chinh phục của nhạc phẩm Bài ca thủy lợi: “Dòng nước quê ta trên công trình thủy lợi/ Đưa phù sa lên mát rượi cánh đồng… Tiếng nước hiền hòa như tiếng nhạc tiếng tơ/ Con kênh bao la/ Nghe thỏa từng câu ca ấm no hạnh phúc… Nước thân thương biết một lòng hợp sức/ Với bàn tay giàu sáng tạo của người… Dòng nước cũng theo chân con người thủy lợi/ Dẫn nước về gạn ngăn nước mặn nước chua/ Nông thôn quê ta/ Chân ruộng đồng đi ra vững thêm từng bước/ Ngăn suối trước anh xây hồ chứa nước/ Dắt sông sau tới làm giàu Tổ quốc/ Đó là tay người chống hạn đổi trời/ Nước về theo từng đàn cá vẫy cùng bơi/ Nghe mấy trạm bơm cười vui theo tiếng hát/ Thả dòng nước mát bát ngát đồng xa/ Cuộc đời nở hoa mừng con người mới” (Đỗ Nhuận).
Lập Đông Ất Mùi, 2015
N.B.N





