Giữa bộn bề tất bật của cuộc sống, những người anh hùng một thời trận mạc vẫn lặng lẽ làm lụng, nuôi nấng con cháu, xây đắp cuộc sống gia đình. Gặp họ giữa đời thường, ít ai biết rằng một thời họ đã sống, chiến đấu và yêu cũng hết mình. Cùng như bao người, họ vốn là những nông dân chân đất đi ra từ những làng quê bình dị của mảnh đất Quảng Trị anh hùng.
Tình yêu của người anh hùng
Hôm ấy bỗng dưng thị xã cúp điện. Đã hẹn trước nên tôi với anh bạn đồng nghiệp đến thăm vợ chồng anh hùng Nguyễn Chí Phi ở căn nhà nhỏ nằm bên con đường 9 (nay là đường Lê Quý Đôn, thành phố Đông Hà). Ông chậm rãi, từ tốn mời khách vào nhà. Dưới ánh đèn dầu vừa đủ sáng, ông rót nước mời, rồi như là người đã thân quen từ lâu, câu chuyện tự nhiên bắt đầu. Vợ ông, anh hùng Nguyễn Thị Thanh ngồi ở phía đầu giường thi thoảng góp thêm cho chúng tôi vài câu chuyện, vui nhất là chuyện bà học được vài câu tiếng Mỹ để đối phó với chúng khi đi đầu trong đội quân tóc dài ngày ấy.
Sinh ra và lớn lên ở làng Thủy Bạn, Trung Giang, Gio Linh, Quảng Trị, thuở thiếu thời Nguyễn Chí Phi là cậu bé lam lũ với kiếp sống đi ở đợ cho nhà giàu trong làng, mãi cho đến năm hòa bình lập lại (1954) mới được trở về nhà. Mười bốn tuổi, với bầu máu nóng sục sôi, Phi gia nhập Đoàn thanh niên trung kiên, bước đầu hoạt động cách mạng. Bị quân đội chính quyền Sài Gòn bắt, Phi đã chịu đựng cảnh tù đày, tra tấn. Khi được thả về, anh đã tìm đường vượt sông Bến Hải ra Bắc. Một thời gian sau anh tình nguyện trở lại chiến trường miền Nam. Ban đầu anh được biên chế vào đơn vị 55 bộ đội chủ lực Quảng Trị, tham gia những mũi phá kềm. Ít lâu sau anh được điều qua đơn vị đặc công thuộc Tiểu đoàn 10 Quảng Trị. Thời kỳ này anh tham gia đánh hơn 15 trận phá kềm và hơn 50 trận đặc công, lập nhiều chiến công vang dội ở các trận đánh như tấn công tiêu diệt đồn bảo an ở Cam Nghĩa (Cam Lộ), đánh đồn Tân Lệ, La Vang, Ái Tử, tấn công quận lỵ Triệu Phong, căn cứ của đối phương ở Cồn Tiên, Dốc Miếu…
Với những chiến công oai hùng đã lập nên, Nguyễn Chí Phi được kết nạp Đảng ngay trên chiến trường lửa đạn. Năm 1969, anh được Nhà nước tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và được cấp trên cử ra Bắc theo học Học viện Chính trị ở Vĩnh Phú. Chính tại nơi này, anh đã gặp gỡ chị Nguyễn Thị Thanh, là nữ anh hùng lực lượng vũ trang quê ở Điện Hòa, Điện Bàn, Quảng Nam rồi nên duyên chồng vợ.
Ngày còn theo học Học viện Chính trị, anh thanh niên người Quảng Trị lên về quãng đường Hà Nội - Việt Trì và gặp gỡ nhiều cô gái trẻ, đẹp, duyên dáng, nhưng hình như tình yêu có quy luật riêng, chỉ có mình chị Thanh người Quảng Nam là để lại trong anh nhiều ấn tượng. Cùng học lớp với anh, chị Thanh có hoàn cảnh đặc biệt. Đang độ tuổi thanh xuân nhưng ánh mắt chị đẫm buồn. Chồng chị đã hy sinh trong kháng chiến để lại hai đứa con thơ. Khi hiểu được nỗi lòng của người bạn gái cùng học, anh đã đem lòng yêu thương. Được bạn bè cũng như cấp trên động viên giúp đỡ, anh mạnh dạn thổ lộ lòng mình với chị, muốn được làm cha hai đứa con của người đồng đội đã hy sinh. Đồng cảm với anh, người anh hùng trẻ tuổi có cuộc đời chìm nổi, chị Thanh đã đón nhận tình cảm của anh. Đám cưới của anh chị có đông đủ bạn bè, đồng đội, đều là con em miền Nam ra học tập đến dự. Thế rồi không bao lâu sau, Nguyễn Chí Phi lại chia tay người vợ mới cưới lên đường vào Nam thực hiện nhiệm vụ mới, tham gia chiến đấu để giải phóng quê hương.
Ngày ấy mỗi cuộc chia ly để vào chiến trường tưởng khó có ngày gặp lại, nào ngờ năm 1972 khi Quảng Trị được giải phóng, họ lại gặp nhau trong niềm vui nước mắt dâng trào. Trên mảnh đất vừa mới giải phóng còn bao công việc bộn bề, anh hùng Nguyễn Chí Phi được cử làm Chỉ huy trưởng Thị đội Đông Hà, sau đó lần lượt đảm nhận các chức vụ Phó Chủ tịch, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã Đông Hà. Mặc dù trải qua nhiều cương vị lãnh đạo, nhưng bao giờ cũng thế, anh vẫn sống một cuộc sống bình dị, sáng trong. Với nhiệm vụ được giao, anh là người đi đầu, gương mẫu, với gia đình anh là người chồng, người cha tận tụy, thủy chung, hết mực yêu thương vợ con. Khi về nghỉ hưu, chị Thanh quyết định ở lại quê chồng dù hoàn cảnh gia đình lúc đó gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn. Ngày về với đời thường, gia đình anh chị chẳng có gì ngoài đôi bàn tay cần mẫn và nguyên vẹn một tình yêu thương gắn bó của cái thuở ban đầu.
Anh hùng Nguyễn Thị Thanh nhớ lại, hồi đầu mới giải phóng Đông Hà, chị mang thai cháu bé, rất thèm ăn các chất đạm nhưng không có tiền. Có lần đại úy Thanh (hồi đó chị mang quân hàm đại úy) đi công tác vùng biển lên ghé ngang qua chợ Đông Hà, thấy hàng cá bày la liệt, chị cứ đi qua đi lại lật xem nhưng không mua. Một chị bán cá thấy vậy liền bảo nếu chị muốn mua, chị ta bán rẻ cho. Chị Thanh nói thật là muốn ăn cá nhưng không có tiền. Thông cảm với khó khăn của chị bộ đội thật thà, không nói không rằng, chị bán cá lấy bao ni-lon đổ mớ cá biếu không bảo chị đem về làm ăn cho có sức nuôi đứa con trong bụng. Không biết nói gì hơn, chị cầm lấy mớ cá người ta cho mà nước mắt chảy dài và nói lời cảm ơn. Đồng đội của chị thời đó cuộc sống cũng rất khó khăn, thấy chị mang thai mà xanh xao gầy gò rất thương, thỉnh thoảng dành dụm gói cho chị ít đường, sữa, cứ thế chị qua được thời buổi khó, sinh nở mẹ tròn con vuông.
Anh hùng Nguyễn Chí Phi chìm vào ký ức, những năm đầu tám mươi (của thế kỷ XX) khi về nghỉ hưu, cuộc sống gia đình rất khó khăn. Hiểu rõ hoàn cảnh gia đình của họ, nhiều anh em đồng đội đã giúp đỡ, người cho mấy tấm tôn, người cho ít gỗ, anh chị dựng được căn nhà nhỏ ở tạm bên con đường 9. Để nuôi các con ăn học, hai vợ chồng bàn nhau rồi bắt tay vào làm công việc xay bột sắn, lọc lấy bột đem bán ở chợ. Ngày ngày thấy anh hùng Phi cùng vợ còng lưng chở sắn đi qua các ngã đường, nhiều người khuyên vợ chồng anh tìm một công việc nhẹ nhàng hơn, “sang trọng” hơn, bởi dù sao thì anh chị cũng là người anh hùng và anh từng một thời làm đến chức Chủ tịch thị xã. Nghe vậy, anh chỉ cười, nói rằng làm gì mà chính đáng để nuôi vợ con, không làm ảnh hưởng đến thanh danh là được, kể chi công việc nặng nhọc, lam lũ. Một thời như thế cho đến những năm sau này khi thấy công việc này thu nhập quá thấp, vợ chồng anh xoay chạy bạn bè mượn được năm chỉ vàng, đích thân anh vào Đà Nẵng học nghề làm nước đá. Với nghề này, khi về làm ở vùng đất gió nắng Đông Hà, hai vợ chồng kiếm được ít tiền trả nợ và trang trải cuộc sống gia đình.
Nhưng đó là câu chuyện của họ mấy chục năm về trước, còn khi chúng tôi đến thăm thì anh hùng Nguyễn Chí Phi, người anh hùng lừng lẫy một thời đã trở thành ông già chuẩn bị bước sang tuổi lục tuần, còn anh hùng Nguyễn Thị Thanh, người đi đầu trong đội quân tóc dài xứ Quảng năm xưa cũng đã lên lão đang tất bật với bao công việc đời thường. Họ có với nhau bốn người con đã khôn lớn, gia đình sống êm ấm, hạnh phúc. Dù trải qua bao gian khó đời thường, đi đâu, về đâu, làm gì họ vẫn có nhau. Tình yêu thương gắn bó sẻ chia vợ chồng luôn nâng bước họ vượt qua khó khăn. Những người con của họ cũng theo gương cha mẹ học hành, làm ăn tiến bộ, tự khẳng định mình trong cuộc sống. Năm ấy, một niềm vui đến với gia đình anh hùng Nguyễn Chí Phi khi Chủ tịch Cuba Fidel Castro, người đã gặp gỡ và tỏ lòng khâm phục tính cách của vợ chồng anh hùng Phi trong lần đến thăm Đông Hà năm 1973 vẫn nhớ và cử Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Cuba tại Việt Nam đến thăm, tặng quà. Đó là niềm hạnh phúc lớn lao động viên hai vợ chồng người anh hùng khi trở lại đời thường.
Người anh hùng và đàn cò trắng
Thật kỳ lạ, ngay trên vùng đất ngập tràn gió nắng vào mùa hè, mưa trắng đất, trắng trời vào mùa mưa Quảng Trị bỗng dưng xuất hiện một đàn cò trắng “định cư” trong một mảnh vườn mà người rủ rê, chăm sóc chúng không ai khác là người anh hùng một thời trận mạc năm xưa - anh hùng Đào Xuân Hướng, người trở về từ núi rừng Trường Sơn. Từ Truông Nhà Hồ mà bây giờ là đoạn Quốc lộ 1 đi qua xã Vĩnh Chấp, Vĩnh Linh, Quảng Trị phủ đầy màu xanh của những rặng trâm bầu, bạch đàn ngược lên khoảng ba cây số là đến thôn Bạc Phú, một mảnh đất thân thương với những nếp nhà đơn sơ bao bọc bởi lũy tre làng, và ngoài kia là cánh đồng mà tầm mắt chạy tít tắp chân trời.
Vườn chim, mà chủ yếu là cò trắng đã đến với ông Hướng cách nay đã lâu lắm rồi. Đó là vào một đêm hè năm 1991, ban đầu chỉ có vài trăm con cò, ngày đi kiếm ăn ở cánh đồng xa, đêm về trú ngụ ở khu vườn nhà ông. Thấy cò về, ông thương chúng lắm, việc đầu tiên là ông rào vườn để bảo vệ cho chúng, ngăn những tay súng săn đang ngày đêm lùng sục để chúng được yên giấc trên những rặng cây. Chuyện “đất lành chim đậu” đang diễn ra yên ấm thì đùng một cái, vợ ông - bà Hồ Thị Điệp - ngã bệnh. Tức tối vì việc bị ông ngăn không cho bắn đàn cò để giết thịt, có kẻ liền tung tin: “Chim sa cá lụy. Chim sa xuống vườn nhà ông là mang tai họa đến nhà ông”. Ông không tin nhưng hoàn cảnh lúc đó khó quá. Ba mươi năm làm người lính biên phòng từng ngang dọc ở núi rừng Trường Sơn, rồi chuyển công tác về vùng biển cả của quê hương cho đến khi về nghỉ hưu, ông vẫn trắng tay, chẳng có của nả gì trong nhà ngoài ngôi nhà cấp bốn. Biết lấy tiền đâu để cứu chữa cho vợ đây? Chọn lựa cuối cùng của ông là phải chặt bớt cây bạch đàn, dương liễu trong vườn để bán lấy tiền thuốc thang cho vợ.
Đêm đêm, đàn cò trắng lại rủ rê nhau về ngày càng nhiều, ngoài cò còn có thêm chim diệc, mỏ chao, bìm bịp… Thấy khu vườn thưa vắng cây do ông chặt đem bán, đàn cò bay liệng qua về nuối tiếc đậu vào lùm tre và những cây bạch đàn còn lại, kêu thảm thiết. Ông chạnh lòng, thương đàn cò quá nên thôi không chặt cây đem bán nữa. Cũng may là vợ ông rồi cũng qua khỏi được bệnh, còn đàn cò trắng trong vườn thì ngày một nhiều thêm. Tuần đôi lần, ông bỏ công rào lại mảnh vườn chừng năm sào đất để bảo vệ đàn cò, ngăn những tay súng săn xấu bụng lăm le lúc nào cũng muốn mò vào vườn cò kiếm chác. Cũng lạ, như là sự đền bù công chăm sóc, phân cò, chim ông dùng bón cho cam, bưởi, chanh trong vườn, cây rất sai quả; cho cá nuôi trong hồ ăn, cá mè, cá trắm tăng trọng rất nhanh…
Từ chuyện làm vườn, chuyện đàn cò rồi chuyển sang chuyện về người lính, bên chén trà câu chuyện giữa chúng tôi với ông cứ thế nối dài. Tôi lặng lẽ nhìn ông, mái tóc bạc trắng, khuôn mặt quắc thước. Trải qua bao năm tháng chiến chinh đây đó, khuôn mặt của người cựu chiến binh vẫn mang nét hồn hậu với giọng nói âm vực nằng nặng của người Vĩnh Linh. Năm 1955, khi mới mười tám tuổi, ông Hướng đã xung phong vào quân đội, được biên chế vào lực lượng Công an vũ trang, được cử lên Cù Bai, nơi đầu nguồn sông Bến Hải thuộc huyện Hướng Hóa, là tiền đồn cho quân giải phóng vượt sông Sê Băng Hiêng trên đường Trường Sơn vào Nam. Ngoài công việc làm phiên dịch tiếng Vân Kiều cho chỉ huy (vì ông biết tiếng Vân Kiều), ông còn tham gia đưa cây lúa nước từ đồng bằng lên trồng ở miền núi. Người dân tộc Vân Kiều ban đầu do quan niệm lạc hậu, sợ Trời phạt nhưng rồi khi thấy bộ đội làm hiệu quả đã làm theo. Trong vai trò là người lính, bao nhiêu năm tháng chiến tranh, ông cùng đồng đội lăn lộn trên chiến trường bị bom đạn đối phương quần thảo dữ dội, từ Cù Bai, Ka Tam, dọc sông Sê Băng Hiêng cho đến Cổng Trời, có khi đặt chân đến đất nước bạn Lào, ở đâu, việc gì được cấp trên giao ông đều hoàn thành một cách xuất sắc. Ông vinh dự được sống, chiến đấu ở Đồn Cù Bai, đơn vị hai lần được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (năm 1968 và năm 1972); bản thân ông Đào Xuân Hướng năm 1973 được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng. Đến năm 1985, ông được cấp trên cho về nghỉ hưu với quân hàm thiếu tá. Về địa phương, ông được tín nhiệm làm Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã Vĩnh Chấp.
Nghỉ hưu, ông về lại với làng quê nơi ông đã ra đi. Nhiều người ở Bạc Phú đồn thổi rằng ông có tài “hô mây gọi gió”, bởi thế mà khi ông về, ông còn gọi cả đàn cò trắng và chim chóc về vườn nhà ông ở. Mà nghĩ cũng thật kỳ lạ, ở vùng này có nhiều gia đình có vườn cây đẹp hơn nhà ông, vậy mà hôm nào cũng vậy, đàn cò trắng hàng ngàn con ngày đi ăn ở những cánh đồng xa, xế chiều là sải cánh bay về ngủ ở vườn nhà ông. Ông cho biết mỗi năm chỉ có mấy tháng hè khi ở đồng bằng khô hạn là đàn cò bay về hướng tây, có lẽ chúng qua đất Lào, bởi khi bên này Trường Sơn mùa khô thì bên ấy là mùa mưa. Điều thú vị là dù đi xa lâu ngày nhưng mỗi khi ở đồng bằng những cơn mưa đầu mùa trút xuống là đàn cò trắng lại bay về trú ngụ ở khu vườn nhà ông.
Mải câu chuyện, chiều đã xuống từ bao giờ không hay. Như sợ chúng tôi đợi lâu, ông Đào Xuân Hướng ra bãi đáp của cò ngoài cánh đồng gọi chúng về. Thoáng chốc, đứng ở sân nhà ông, bầu trời đang quang đãng bỗng dưng như tối lại bởi hàng ngàn cánh cò chao liệng trên căn nhà mái ngói của ông. Một lúc sau, những cánh cò lần lượt sà xuống tạo nên một quầng trắng. Những cành tre, bạch đàn trong vườn nhà ông trĩu nặng bởi vô số thân cò. Như sợ làm kinh động, khi màn đêm buông xuống, chúng tôi lặng lẽ chia tay đàn cò, chia tay anh hùng Đào Xuân Hướng. Tôi hẹn với ông có dịp sẽ trở lại thăm ông, thăm đàn cò vào buổi bình minh lên để thấy những cánh cò bay lả bay la trên bầu trời khoáng đạt tỏa đi khắp muôn nơi.
M.T





