Cái rét Giêng, Hai vẫn còn ngọt. Nhưng khi tiếng trống vừa vang lên từ phía cánh đồng làng là người dân phường 3 đã theo nhau tới tham dự lễ cầu an của làng. Từ bao đời nay, người dân phường 3 luôn tự hào, làng Đông Hà xưa - phường 3 ngày nay là do một bộ phận dân cư người Việt ở miền Bắc vào dựng nhà lập làng mà thành nên những nét văn hóa thuần Việt như cúng giỗ ông bà tổ tiên, lễ tế Thành hoàng và các vị có công với nước với dân ở đình làng, miếu mạo luôn được làng gìn giữ, bảo tồn.
Trong âm vang của lời chiếu cáo được các bô lão đọc ở các lễ cúng, các thế hệ con cháu của làng Đông Hà trước đây hiểu rằng: Cùng với cuộc tình duyên lịch sử nhuốm màu sắc huyền thoại của công chúa nhà Trần là Huyền Trân với vị vua Champa Chế Mân vào năm 1306, bờ cõi của nước Đại Việt đã có thêm hai châu Ô, châu Lý. Năm 1307, nhà Trần đã đổi tên châu Ô thành châu Thuận và châu Lý thành châu Hóa và từ đây đã có những đợt người dân vùng Thanh Hóa-Nghệ An vào lập làng trên miền đất mới. Ở phía Nam sông Hiếu, làng Đông Hà thuộc châu Thuận. Đến cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI, nhiều người dân miền Bắc theo chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào Đàng Trong lập nghiệp. Sách sử ghi rằng: Trên đường đi tìm đất lập làng, vợ chồng ông bà Nguyễn Đăng Danh và tiếp đó là vợ chồng ông Hoàng Văn Bao (về sau đổi thành họ Nguyễn Văn) gặp một cánh đồng trù phú sát bờ Nam sông Hiếu rất thuận lợi để trồng cấy, chăn nuôi và sự thịnh vượng về sau nên đã quyết định dừng chân, dựng nhà lập làng tại đây. Đất lành chim đậu, người tiếp người, họ nối họ, làng Đông Hà được hình thành, có thêm hơn mười họ tộc từ các miền đến sinh sống và dân làng tôn thờ ông Nguyễn Đăng Danh là vị tiền khai khẩn, ông Hoàng Văn Bao là vị hậu khai khẩn. Theo sách Phủ biên tạp lục được nhà bác học Lê Quý Đôn viết vào năm 1776, làng Đông Hà thuộc tổng An Lạc, huyện Đăng Xương, phủ Triệu Phong. Ghi nhận công lao khai hoang lập làng của hai vị tiền và hậu khai khẩn làng Đông Hà, triều đình nhà Nguyễn đã nhiều lần sắc phong, ban thưởng. Đến thế kỷ XVIII, làng Đông Hà có khoảng hai trăm người sinh sống trên một diện tích chưa tới 50 hecta và quá trình xây dựng, mở mang, phát triển làng Đông Hà thành phường 3 hiện nay đã đưa diện tích tự nhiên của phường lên tới 1.919 hecta, gấp bốn mươi lần diện tích làng Đông Hà thời nhà Nguyễn.
Những người muôn năm cũ của Đông Hà hôm nay vẫn nhớ, họ đã từng được biết: Từ khi thành lập đến năm 1945, thị trấn Đông Hà chỉ có hai phường với tên gọi là phường Đệ nhất và phường Đệ nhị và tổng diện tích chỉ khoảng 1km², dân cư gần 2.000 người sống trong hơn 300 hộ gia đình. Sau cách mạng Tháng Tám, Đông Hà thành đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh. Trong suốt thời gian cùng dân tộc đánh đuổi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Đông Hà có nhiều sự thay đổi về mặt hành chính, địa giới và với Hiệp định Paris được ký kết vào ngày 27/1/1973, Đông Hà thuộc vùng giải phóng đồng thời được chọn làm tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Trị - là trung tâm chính trị, quân sự, ngoại giao của một tỉnh đầu tiên ở miền Nam Việt Nam được hoàn toàn giải phóng. Quyết định tạm thời thành lập thị xã Đông Hà của Tỉnh ủy Quảng Trị được ký vào ngày 9/8/1973 đã xác định phạm vi đất đai của thị xã Đông Hà, trong đó vẫn có các phường, vạn của Đông Hà cũ và các thôn Tây Trì, làng Đông Hà, làng Điếu Ngao. Tiếp sau đó, ngày 15/8/1973, UBND cách mạng tỉnh Quảng Trị ra quyết định thành lập thị xã Đông Hà với ba tiểu khu hành chính là tiểu khu 1, tiểu khu 2, tiểu khu 3. Từ năm 1976, Đông Hà trực thuộc tỉnh Bình Trị Thiên và chuyển 2.181 người dân của 341 hộ gia đình trong khu vực vạn chài lên định cư trên đất liền và cùng người dân làng Thiết Tràng ở phía Tây-nam lập thành phường 4 đồng thời đón nhận một bộ phận dân cư của xã Triệu Lương, huyện Triệu Phong lập nên tiểu khu 5. Từ năm 1977, tên gọi tiểu khu được đổi thành phường và việc điều chỉnh, phân định lại trong năm 1981 mang về Đông Hà thêm hai xã Triệu Lương, Triệu Lễ. Theo sự chia tách tỉnh Bình Trị Thiên, ngày 1/7/1989, tỉnh Quảng Trị được lập lại và một lần nữa Đông Hà trở thành thị xã tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Trị. Tháng 10/1991, hai phường Đông Thanh và Đông Giang được thành lập, trực thuộc thị xã Đông Hà. Đến tháng 3/1999, hai phường Đông Lễ và Đông Lương ra đời trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của hai xã Triệu Lễ, Triệu Lương. Mười năm sau, ngày 11/8/2009, thị xã Đông Hà trở thành thành phố - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Quảng Trị trên cơ sở toàn bộ 7.295 hecta diện tích đất tự nhiên, 80.000 nhân khẩu, 83 khu dân cư và 9 phường.
Trên địa hình như một mặt cầu mở rộng ra hai phía Nam, Bắc của Quốc lộ 1A, nghiêng và thấp dần từ Tây sang Đông, có đồi núi, có rừng và được bao bọc ba phía bởi ba con sông Thạch Hãn, sông Hiếu, sông Vĩnh Phước, từ thuở mới hình thành làng - xã, người Đông Hà đã tổ chức đời sống kinh tế - xã hội dựa trên nền nông nghiệp lúa nước thuần Việt với nghề trồng trọt ruộng vườn, chăn nuôi với những phương thức, kỹ thuật, tri thức canh tác được mang theo từ đất Bắc và chài lưới, làm rừng, săn bắn đã từng tạo nên đời sống nhân văn hết sức tốt đẹp như học giả Dương Văn An đã mô tả trong Ô châu cận lục: “Làng An Lạc cỏ nước tốt tươi, súc vật phồn thịnh”. Các yếu tố tự nhiên đã tạo cho Đông Hà nhiều phong cảnh đẹp như: “Dọc hai bờ sông Hiếu có ruộng vườn trù phú, sản vật đa dạng”. Với cảnh sắc non nước hữu tình ở vùng hạ lưu sông Hiếu, tác giả của sách Ô châu cận lục đã có những dòng cảm tác thật hay, thật súc tích: “Thượng Độ, Hạ Độ trăng dát bạc trên sông”, “Thượng Độ, Hạ Độ núi lộ ngoài mây xanh biếc”, “Chiều bến Hạ Độ, cánh vạc thu bay về”, “Thuyền Hạ Độ lẻ loi chở khách”. Ngoài ra, theo nhu cầu của cuộc sống, ở Đông Hà đã xuất hiện và phát triển các nghề mộc, nghề rèn, làm gạch ngói làm nên rất nhiều ý nghĩa, giá trị trong đời sống vật chất và đời sống văn hóa của người dân đồng thời góp sức chiến đấu và đi đến thắng lợi hoàn toàn của đất nước, của dân tộc trong hơn bảy trăm năm qua.
Mặt khác, ở khu vực hẹp nhất của miền Trung, Đông Hà có khí hậu nhiệt đới gió mùa và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của gió phơn Tây - Nam nên khí hậu chia làm hai mùa mưa và mùa khô nóng một cách rõ rệt. Những yếu tố tiêu cực của khí hậu đem lại không ít trở ngại, khó khăn đối với đời sống sản xuất nông nghiệp cũng như đời sống sinh hoạt của các cộng đồng dân cư trên vùng đất Đông Hà. Bên cạnh đó, ở vị trí giữa chiều dài của đất nước trên trục giao thông Bắc - Nam, trên tuyến đường xuyên Á và có đường thủy nối liền cảng Cửa Việt đồng thời là vùng đất từng được coi là phên dậu, là tiêu điểm của một số cuộc tranh chấp giữa các thế lực chính trị, là nơi giao tranh giữa các thế lực phong kiến Đại Việt và được lịch sử chọn làm chiến trường khốc liệt trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Đông Hà vừa giữ vai trò là một địa bàn xung yếu vừa là một vùng đất lửa. Tất cả các yếu tố tự nhiên và lịch sử đó đã tạo cho người Đông Hà những tính cách rất có giá trị như: “Người từng truyền kẻ sĩ Điếu Ngao”, “Người Nghĩa An biết thẹn điều ác, tính người đều đủ”, “Người Lai Phước biết lòng người dễ cảm”, “Làng Vĩnh Phước cửa nhà mãi mãi phước đức”, “Làng An Lạc bô lão vui ca” (Ô châu cận lục),... Cảnh ấy, tình ấy đã từng bước đắp bồi nên vùng đất và con người Đông Hà có những giá trị nhân văn, giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú với truyền thống lịch sử, văn hóa khá sinh động; lối sống thoáng, mở và phong tục, tập quán không nặng nề; những mối quan hệ thân tộc bền chặt, tình làng nghĩa xóm chan hòa; tri thức bản địa phong phú giàu tính hiếu học; tính cách bình dị, khẳng khái, kiên cường và rất mực thủy chung...
Trong hơn bảy trăm năm kể từ sau cuộc hôn nhân của Huyền Trân công chúa và vua Chế Mân, Đông Hà đã trải qua nhiều giai đoạn định hình, xây dựng, chuyển đổi, khôi phục, tái thiết và phát triển. Người Đông Hà với tâm lý cởi mở, tính cần cù, trí thông minh, sức sáng tạo đã cùng nhau tạo dựng những làng xã ngay từ thuở ra đời trên miền đất sính lễ có ý nghĩa mở mang bờ cõi nước Đại Việt, quả cảm vượt lên đạn bom ác liệt để giành lại độc lập và tự do đến hàn gắn và xoa dịu những vết thương của chiến tranh, mở cửa, hội nhập để phát triển đô thị trong hòa bình. Từ bình minh lịch sử của mình - một bình minh từ tình duyên của nàng công chúa được xem là huyền sử, đất và người Đông Hà không ngừng vun đắp cuộc sống bằng chính khát vọng xây những tầng cao cao mãi ở hai bờ của dòng sông Hiếu mãi ngân vang những chiến công oanh liệt và vẻ vang trong đánh đuổi giặc thù và dựng xây quê nhà. Và, từ những ngôi làng cổ thuần Việt bình dị bên sông Hiếu rợp bóng cây xanh, Đông Hà đã từng bước vươn mình lớn dậy với muôn vàn đổi thay tốt đẹp để chuyển mình thành thị trấn, thị xã rồi trở thành thành phố trẻ năng động trên hành lang kinh tế Đông - Tây và đang trên đà trở nên một thành phố sầm uất.
N.B.N





