Mỗi năm vài ba lần tôi có dịp đi lại trên cung đường ngang qua xã Hải Thái, lúc trở về tiện thể ghé thăm nhà một vài người bạn ở đây. Lần nào cũng vậy, tôi có cảm giác vừa quen vừa lạ. Quen thì một lẽ đã đành, lạ bởi bất ngờ trước sự đổi thay nhanh chóng của một vùng quê đang thời kì sung sức. Tôi say sưa đứng ngắm những vườn tiêu sây quả. Những cánh rừng cao su xanh tốt tràn trề nhựa sống xếp hàng thẳng tắp đến ngút ngàn. Rồi đi một vòng trên những tuyến đường bê tông, qua các xóm thôn trù phú để tận mắt chứng kiến những thành tựu của một xã đang trên đà phát triển. Hệ thống cơ sở hạ tầng, điện lưới, đường giao thông, trường học, trạm xá, các công trình thủy lợi, công sở, nhà dân… đa số đều được kiên cố và cao tầng hóa. Niềm khát vọng thái hòa ấm no hạnh phúc đã và đang từng bước trở thành hiện thực. Người đi xa trở về không khỏi ngỡ ngàng trước bao sự đổi thay. Khách xa đến nhìn “cả cái cơ ngơi này” thật khó tin nổi “nơi đây đã từng là một bãi chiến trường”. Nhưng đó là sự thật. Ý chí và sự quyết tâm cùng máu và mồ hôi của các thế hệ cán bộ và nhân dân xã Hải Thái đã làm nên điều kì diệu đó.
Ngày ấy…
Sau ngày 30/04/1975, nhà nước có chủ trương đưa dân đi xây dựng vùng “kinh tế mới”. Hàng trăm gia đình ở huyện Hải Lăng tình nguyện lên miền Tây Gio Linh lập nghiệp. Họ mang theo niềm tin khát vọng được đổi đời, một cuộc sống an lành, ấm no hạnh phúc. “Thái” ghép với tên quê cũ “Hải” thành tên quê mới “Hải Thái”.
Bốn mươi năm, quãng thời gian hơn nửa đời người, những cư dân đầu tiên của xã Hải Thái đã cùng thời gian đi xa lắm! Có người đã trở về “cát bụi”, người còn cũng qua cái tuổi “cổ lai hy” nhưng những kỷ niệm buồn và ký ức về một thời gian nan vẫn còn nguyên trong tâm khảm.
Anh Trần Nam Dũng nguyên cán bộ nông trường Cồn Tiên có mặt và gắn bó với mảnh đất này từ 1972 đến giờ nhớ lại: Buổi đầu bà con Hải Lăng lên đây vô cùng gian khổ, cơm không đủ no, nhà chưa có ở, cơn gió Lào khô rát và cái nắng miền Tây Gio Linh cháy bỏng da người, không khí oi nồng mùi cỏ cháy. Nhìn cảnh tượng đó không ít người nản chí nhìn nhau lắc đầu ngao ngán, dõi mắt trông theo đoàn xe vừa chở họ lên đây đang trở về xuôi mà lòng bồi hồi lưu luyến.
Thế rồi cũng tập làm quen dần để thích nghi với hoàn cảnh. Vài chục hộ hợp lại thành một thôn. Công việc đầu tiên là bứt tranh, vào rừng đốn cây dựng nhà, tìm nguồn nước uống, mở những con đường mòn để đi lại. Cấp trên điều Tiểu đoàn công binh K8 về hỗ trợ, lực lượng dân quân rà phá bom mìn giúp dân có đất sản xuất. Với phương châm “lấy ngắn nuôi dài, rà phá bom mìn đến đâu khai hoang và gieo trồng đến đó” để kịp thời có cái ăn khi hết tiêu chuẩn nhà nước hỗ trợ sáu tháng lương thực ban đầu. Cứ thế, vườn nhà phủ xanh hoa màu, khoai sắn vươn dần ra các sườn đồi. Nhưng bấy giờ, phương tiện rà phá bom mìn quá thô sơ, diện tích hàng ngàn hecta và mật độ bom mìn dày đặc, bình quân mỗi ngày phát hiện, vô hiệu hóa, thu gom và tiêu hủy hơn hai tấn. Nhưng dù có cẩn thận và kĩ lưỡng đến đâu cũng không tránh được tổn thất. Số bom mìn nằm sâu hơn còn sót lại, thời gian sau lại tiếp tục gây tai họa. Cuộc chiến đấu với kẻ thù giấu mặt trong lòng đất vô cùng nguy hiểm. Cái giá phải trả cho “vùng đất chết” hồi sinh bằng hàng trăm sinh mạng của đồng bào và chiến sĩ. Nhiều nhân chứng hồi đó cho biết: Từ năm 1975 đến 1977, Tiểu đoàn công binh K8 đã có khoảng ba mươi chiến sĩ hi sinh, lực lượng dân quân cũng bị thương hàng chục người, hầu hết các thôn trong xã đều có người chết và bị thương, mỗi thôn có từ hai đến ba chục người chết, có nhiều vụ tai nạn kinh hoàng, thảm khốc mà nỗi đau hằn sâu vào kí ức đến giờ chưa thể nguôi ngoai. Đó là vụ ở thôn 7, một quả đạn pháo nổ làm chết năm người; vụ bà con ở thôn 3 cuốc phải mìn chống tăng làm chết sáu người, hầu như hồi đó ngày nào cũng có người chết và bị thương do bom mìn. Cái chết luôn rình rập ở đâu đó từ góc vườn, đường đi, nương rẫy… sự mất mát và nỗi đau dai dẳng trong nhiều năm.
Hơn mười năm đối mặt với hiểm nguy và vật lộn với đói nghèo, Hải Thái vẫn chưa thoát khỏi cảnh “gánh cực mà đổ lên non…”, nhiều hộ gia đình không trụ nổi đã bỏ quê tìm đường vào Nam sinh sống. Nhưng nhiều người vẫn nặng tình với đất, mảnh đất đã thấm máu của bà con và của chính bản thân mình, cũng như cái cuống rốn của thế hệ thứ hai đã hòa tan vào mảnh đất này nên ra đi không đứt.
Người không phụ đất, đất chẳng phụ lòng người, “từ trong cái khó đã ló cái khôn”, những hướng đi mới đã mở ra: Chính sách về nông dân, nông nghiệp, nông thôn đã có sự đổi mới. Cơ chế thông thoáng, Nhà nước quan tâm tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích kinh tế hộ gia đình phát triển, người dân được giao đất, giao rừng để sản xuất. Xã đã có chủ trương, kế sách kịp thời, phù hợp với tình hình qua từng giai đoạn đã mang lại kết quả bước đầu khả quan.
Từ đó, Hải Thái đã thực sự phát huy thế mạnh kinh tế vùng gò đồi, khuyến khích người dân trồng rừng, mở rộng diện tích trồng rừng và bảo vệ rừng. Cây cao su được trồng thử nghiệm thành công. Hồ tiêu vốn là “cây bản địa” thay dần vườn tạp. Nhờ có kinh nghiệm và chăm sóc tốt nên năng suất cao. Căn cứ vào thổ nhưỡng, địa hình mà bố trí cây trồng, vật nuôi phù hợp, đa dạng hóa nông nghiệp đi đôi với các loại hình kinh tế phi nông nghiệp, các ngành nghề thương mại, tiểu thủ công nghiệp ra đời. Hải Thái đã có những bước đi đúng hướng. Màu xanh tin yêu, hi vọng đã nẩy lộc đâm chồi trên vùng đất một thời khó nghèo và tang tóc.
… Bây giờ
Đầu tháng 6, tôi lại có dịp về Hải Thái. Vẫn như mọi khi, cảm giác vừa quen vừa lạ, quen với những nụ cười cởi mở, những cái bắt tay thân thiện, lạ bởi bất ngờ trước bao điều mới: Đại hội Đảng bộ xã vừa thành công tốt đẹp, các mục tiêu kinh tế chủ yếu hết sức khả quan: Tổng giá trị sản xuất tăng 14- 15%/ năm; Cơ cấu kinh tế đến 2020: nông lâm nghiệp 50%, thương mại dịch vụ 36%, tiểu thủ công nghiệp 14%; Tỉ lệ độ che phủ rừng 70%; Thu nhập bình quânđầu người từ 34 – 35 triệu đồng/năm, tăng gấp 2 lần so với nhệm kì trước (gấp 3 lần mức lương cơ bản bây giờ).
Chỉ lấy hai con số tổng kết và kế hoạch của chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người 35 triệu đồng/năm, tôi đã hình dung ra được mức sống của người dân Hải Thái trong vài ba năm tới. Không chỉ riêng tôi mà mọi người chắc chắn cũng tin tưởng vào điều đó. Cán bộ và nhân dân xã Hải Thái nhất định sẽ thực hiện thành công bởi hoàn toàn có cơ sở. Chỉ vài ba năm nữa là năm trăm ba mươi hecta cao su đúng tuổi đưa vào khai thác (hiện tại 231/830 hecta); ba trăm hecta rừng trồng đã khép tán phủ xanh các gò đồi, nhiều diện tích rừng đang chuẩn bị trồng mới; hơn năm mươi mẫu cây hồ tiêu đang thời kì cho quả và đang phát triển tốt; 350 - 350 kg lương thực đầu người/ năm đã đáp ứng đủ lương thực tại chỗ. Dựa vào thế mạnh gò đồi để tăng số lượng và chất lượng vật nuôi như: Nạc hóa đàn lợn, sind hóa đàn bò, nuôi cá nước ngọt… Khi nông lâm nghiệp đi lên sẽ kéo theo các loại hình phi nông nghiệp khác ra đời và phát triển. Việc cân bằng tỉ trọng 50/50 giữa nông nghiệp và phi nông nghiệp là trong tầm tay.
Đang vui câu chuyện với các anh, tôi nói như đùa mà thật: Hải Thái như một “chú Thiên lý mã” sau nhiều năm “dở chứng” ngủ quên, vài chục năm trở lại đây được các “kỵ sĩ” tài hoa đánh thức, đã bước đi những bước ban đầu vững chắc và hiện đang vươn mình chuẩn bị “phi nước đại”. Mọi người cùng cười, những nụ cười đồng tình và tràn trề hi vọng.
Chia tay với các bạn vừa gặp, như một thói quen, tôi và anh Trần Nam Dũng, Võ Duy Viện, Trần Quang Đổng đi tham quan một vòng xung quanh xã rồi rẽ vào ngã ba “xóm mới”. Đúng là “xóm mới”, nhà cửa, đường sá, con người, cái gì cũng mới. Họ thuộc thế hệ thứ hai ở đây, đã được thừa hưởng và kế tục sự nghiệp của lớp cha anh đã, đang và sẽ vươn lên làm giàu chính đáng. Khoảng vài chục căn nhà khang trang đẹp đẽ còn “mới toanh” trị giá từ hai đến ba trăm triệu đồng/căn hộ, là kết quả sau những tháng ngày thủy chung lăn lộn với rừng, với đất. Đất đã “hồi sinh” chẳng phụ lòng người, trả ơn người “rừng vàng biển bạc”. Không phải chỉ riêng ở xóm mới này mà cả xã cũng có hơn chục nhà khá giả có từ bốn mươi đến năm mươi hecta rừng, năm đến bảy hecta cao su, năm mươi con bò… Hồi cao su còn được giá, mỗi tháng thu nhập hàng trăm triệu đồng, còn số “thường thường bậc trung” thu nhập trên dưới một triệu đồng/ngày thì không tính hết. Hộ ít cũng có vài hecta cao su, vài mẫu rừng, một đàn bò, chưa tính các nguồn thu nhập khác cũng đủ sống và tích lũy xây dựng nhà cửa, nuôi con ăn học, mua sắm thêm các phương tiện làm ăn, đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh dịch vụ. Không lâu nữa (cuối năm 2015), chợ Cồn Tiên đưa vào sử dụng sẽ góp phần tích cực nâng cao ngân sách xã và thuận lợi cho việc tiêu dùng tại chỗ, giao thương hàng hóa, giải quyết thêm nhiều công ăn việc làm cho người dân và các vùng phụ cận. Ông bà xưa từng nói, “phi thương bất phú” đó mà.
Đang vui câu chuyện, bỗng tiếng nhạc và giọng hát mượt mà, tình cảm của cô ca sĩ từ quán cà phê đối diện vọng sang: “Hôm nay đứng trên cầu Đông Hà, ngắm nhìn quê hương đổi mới, ta vui sao…” đã níu chân chúng tôi ghé lại. Những câu chuyện bên ly cà phê thật là thú vị, chuyện thời sự, chuyện học hành của con cháu, chuyện “thế thái nhân tình”, rồi qua chuyện “văn chương thi phú”, thôi thì “giấy vắn tình dài”, anh Dũng sực nhớ:
- Kỳ này, xã có ra tập văn mừng sự kiện 40 năm thành lập xã, các anh tham gia viết bài cho vui nghe.
Tôi lưỡng lự: - Già quá rồi, chưa chắc đã cầm nổi bút”.
Đang giữa mùa hè, cơn gió Lào thổi mạnh, vẫn cái nắng miền Tây Gio Linh nhưng không còn khô rát và cháy bỏng da người như thuở ấy! Tôi có cảm giác mát mẻ, dễ chịu ... Thì ra, chúng tôi đang đi dưới tán của những cánh rừng cao su xanh tốt, có những làn hương dịu nhẹ thoảng qua. Hương đất, hương rừng Hải Thái đó chăng...
M.L





