Không hiểu vì sao, mỗi lần có dịp quay về làng chài Thâm Khê, Mỹ Thủy nằm bên mép nước mặn đến khô khát nơi miền Hải An, Hải Lăng nắng gió, những chi tiết như từng đợt sóng biển thao thức dội vào tâm can trong bút ký “Cát trinh nguyên” của nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh lại hiện lên, tươi rói cảm xúc và chất chứa đau thương, uất hận. Vùng đất duyên hải Đông Nam Quảng Trị là nơi chôn rau cắt rốn của nữ anh hùng liệt sĩ Trần Thị Tâm, lúc bấy giờ mới 24 tuổi đã là Huyện đội phó Hải Lăng, hi sinh trong khi chỉ huy một trận chống càn để bảo vệ quê hương. Trong “Cát trinh nguyên”, Phạm Ngọc Cảnh đã ghi lại những hồi ức bi tráng và lộng lẫy về những ngày dự Đại hội thi đua Quân khu Trị Thiên năm 1970 trên đỉnh Cù Bôi, giữa đại ngàn Trường Sơn. Hôm khai mạc, cả hội trường như nín lặng rồi nấc lên theo từng đoạn kể của Trần Thị Tâm. Giữa năm 1968, Mỹ - ngụy tràn ra khắp vùng ruộng Hải Lăng, Triệu Phong. Chúng phản kích bằng đủ loại vũ khí, phương tiện hiện đại nhất của Mỹ và bằng sự trả thù hèn hạ nhất của con người. Quân chủ lực của ta bị đánh bật về rừng xanh. Các cơ sở Đảng bị xóa trắng. Quê Tâm kẹt giữa hỏa lực Mỹ ở vùng cảng Mỹ Thủy, quân cơ động trên trục tỉnh lộ, các loại phóng pháo, trực thăng bủa kín vòm trời… Trần Thị Tâm là một trong mấy cán bộ cốt cán bám trụ làng Thâm Khê vì ở đó còn gần hai mươi thương binh chưa có liên lạc để cõng cáng lên rừng… Thương binh được giấu ngoài động cát sát mép biển. Hầm đào kề những lăng mộ xây cao, có dứa dại và xương rồng lúp xúp che chở khá an toàn. Tâm nhặt được bộ rằn ri của lính ngụy, đêm mò vào xóm kiếm bất cứ cái gì ăn được để mang về hầm nuôi thương binh. Nguồn lương thực này sớm cạn vì dân chài Thâm Khê quá nghèo. Tâm chỉ cạo vỏ cây xương rồng rồi nhai phần lõi để cầm hơi. Có anh thương binh trẻ bị thương nặng lắm. Đói còn chịu được để chờ Tâm. Khát quá nên anh xỉu đi nhiều lần trong cánh tay Tâm. Đêm ấy, xe xích của lính Mỹ chạy như điên. Đèn pha quét dài mặt cát như trời sắp bão giông. Trần Thị Tâm cuống quýt. Muốn liều chết chạy băng qua động cát tìm lấy vài giọt nước. Bỗng quân thù phát hiện ra điều gì đó và bắn dữ dội. Sợ anh thương binh kêu lên, Tâm mở từng khuy áo mình đang mặc. Cúi sát ngực mình vào khuôn mặt người con trai. Lừa đẩy núm vú khô teo vào đôi môi thương binh bỏng rát vì khô cháy. Chẳng có chuyển động nào trong cơ thể… Sau này, khi có mặt tại Đại hội thi đua Quân khu Trị Thiên năm 1970, Tâm kể xong, úp mặt vào lòng bàn tay rồi xúc động giãi bày với nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh: “Eng Cảnh ơi, có sữa siếc chi mô. Em chưa có chồng”. Chính ủy Thanh Quảng bảo Phạm Ngọc Cảnh, người chấp bút giúp Trần Thị Tâm có bản thành tích để báo cáo trước đại hội: “Thôi, bớt những chi tiết này cũng đã anh hùng rồi!”. Trong bộ tiểu thuyết hai tập “Dưới đám mây màu cánh vạc” của Thu Bồn cũng đã khắc họa khá đậm nét cuộc đời của người anh hùng nơi miền chân sóng và cả cuộc chiến khốc liệt trên vùng cát Hải Lăng những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đau thương mà anh dũng…
Ngược thời gian, cách đây 67 năm trước, năm 1948, vùng quê hiền hòa bên bờ Biển Đông này cũng đã từng xảy ra một cuộc thảm sát giết hơn 500 người dân lành vô tội. Tấm bia đá đặt ngay giữa khuôn viên tưởng niệm nằm bên đường cái quan về cảng Mỹ Thủy có ghi vắn tắt: “Với âm mưu dập tắt lòng yêu nước và phong trào cách mạng của nhân dân Quảng Trị, trong hai ngày 19 - 3 và 8 - 4, quân đội Pháp tổ chức cuộc hành quân quy mô lớn đã càn quét và thảm sát một cách man rợ thôn Mỹ Thủy làm chết 526 thường dân vô tội, trong đó có nhiều người già, phụ nữ và trẻ em. Vụ thảm sát năm 1948 là một trong những tội ác diệt chủng dã man nhất mà quân đội Pháp gây ra trên đất nước Việt Nam”. Lần đôi bàn tay gân guốc trên hàng hàng tên tuổi của những người làng bị thảm sát năm nào tại Khu chứng tích vụ thảm sát Mỹ Thủy, cụ ông Phan Trung Hiếu (nguyên là Trung đội trưởng du kích xã Hải An vào thời điểm xảy ra vụ thảm sát), năm nay đã hơn 87 tuổi, râu tóc bạc trắng bùi ngùi kể: “Không hề muốn kể lại chuyện đau thương này nhưng cứ mỗi lần nhớ lại là tôi không thể nào ngủ yên. Dù vụ thảm sát đã qua lâu lắm rồi nhưng lòng tôi có lẽ chẳng bao giờ nguôi. Những hình ảnh người già, trẻ con, đàn ông, đàn bà co rúm than khóc, la hét đau đớn lần lượt bị thực dân Pháp bạo tàn bắn giết, máu loang lổ trên cát trắng, thây chất thành đống… cứ ám ảnh trong tâm trí tôi cho đến tận bây giờ”. Trong bài thơ nổi tiếng “Tiếng cây dương Mỹ Thủy” của nhà thơ Dương Tường, vụ thảm sát năm xưa ấy vẫn làm quặn thắt lòng người: Trên sóng biển ì ầm/ Ba trăm ngôi mộ mới/ Trong mưa chiều lâm thâm/ Nhà nào vắng đèn nhang/ Đầu nào không khăn trắng...
Trên mảnh đất rực lửa chiến công và chất chồng hy sinh mất mát ấy giờ đang khởi động một dự án đặc biệt quan trọng của tỉnh Quảng Trị như là sự tri ân sâu sắc đối với đất nghèo nuôi những anh hùng nơi vùng Đông Nam Quảng Trị!
Trước thềm Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2015 - 2020, một tin vui đã đến với Đảng bộ và nhân dân Quảng Trị, Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định số 42/2015/QĐ - TTg (ngày 16 - 9 - 2015) về việc thành lập Khu kinh tế Đông Nam Quảng Trị. Đề cập đến sự kiện này, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Đức Chính cho rằng, đây là kết quả của sự nỗ lực, cố gắng hết sức lớn của lãnh đạo tỉnh trong việc tìm hướng phát triển đột phá, cơ bản về kinh tế; là cơ sở, điều kiện quan trọng để phát triển công nghiệp quy mô, công nghiệp phụ trợ, thương mại - dịch vụ và hạ tầng kỹ thuật, qua đó thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương phát triển nhanh, bền vững; thể hiện sự quan tâm sâu sắc, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm của Đảng và Nhà nước đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Trị. Việc hình thành và phát triển Khu kinh tế Đông Nam Quảng Trị là một dự án động lực đặc biệt quan trọng, được kỳ vọng sẽ tạo ra xung lực mới, thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của tỉnh, tạo điều kiện để Quảng Trị thoát ra khỏi tình trạng của một tỉnh nghèo, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Quảng Trị đạt trình độ phát triển trung bình của cả nước.
Khu kinh tế Đông Nam “phủ sóng” trên địa bàn của 17 xã, thị trấn phía Đông Nam của tỉnh, nằm trọn trên vùng đất nơi cách đây hơn 20 năm trước, từng được mệnh danh là vùng đất “quá chừng nghèo”, nay đang thay da đổi thịt từng ngày. Đó là vùng chân sóng Hải An, Hải Khê, vùng trọng điểm lúa Hải Ba, Hải Vĩnh, Hải Quế, Hải Dương (Hải Lăng); đó là nơi một thời cát trắng đến nhức mắt, trải dài từ Triệu An, Triệu Phước, Triệu Vân, Triệu Trạch, đến Triệu Lăng, Triệu Sơn (Triệu Phong). Huyện Gio Linh cũng góp vào quy hoạch khu kinh tế 4 xã là Gio Quang, Gio Mai, Gio Hải, Gio Việt và thị trấn Cửa Việt. Trên 17 xã, thị trấn này sẽ được phân thành các khu chức năng như khu công nghiệp, khu hành chính, khu dân cư, khu du lịch, khu dịch vụ, khu cảng… tùy vào lợi thế và điều kiện đáp ứng của từng địa bàn. Ví dụ như khu du lịch sẽ tập trung ở các xã vùng Gio Linh; khu công nghiệp sẽ được xây dựng ở các địa phương thuộc huyện Hải Lăng; khu dịch vụ, khu dân cư trải dọc theo tuyến giao thông nội vùng liên kết với các trục giao thông chính như Quốc lộ 1A, đường xuyên Á… Quy mô, vị trí của từng khu chức năng được xác định trong Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Đông Nam Quảng Trị do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Mục tiêu phát triển chủ yếu của Khu kinh tế Đông Nam Quảng Trị được xác định là đánh thức và khai thác có hiệu quả lợi thế về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý kinh tế và chính trị trong giao thương, dịch vụ quốc tế và trong nước, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Trị, khu vực Trung Bộ nhằm góp phần thu hẹp khoảng cách khu vực này với các vùng khác trong cả nước; kết hợp chặt chẽ giữa thu hút đầu tư, phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh. Xây dựng và phát triển Khu kinh tế Đông Nam Quảng Trị trở thành khu kinh tế tổng hợp, đa ngành, địa bàn có tính đột phá của tỉnh Quảng Trị; cực phát triển quan trọng của vùng Trung Bộ…
Để tạo bước khởi động tích cực từ Khu kinh tế Đông Nam, UBND tỉnh Quảng Trị đã có nhiều phiên làm việc với Công ty Điện lực Quốc tế Thái Lan (EGATi) và Công ty cổ phần tư vấn xây dựng Điện 2 về tiến độ lập dự án Nhà máy nhiệt điện Quảng Trị công suất 1.200 MW. Dự án Nhà máy nhiệt điện Quảng Trị được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1208/QĐ - TTg, ngày 21 - 7 - 2011, có công suất 1.200 MW đặt tại xã Hải Khê (huyện Hải Lăng). Nhiên liệu chính để phục vụ nhà máy là than bitum/sub bitum được nhập từ Indonesia với điện năng sản xuất dự kiến là 7.200 GWh/năm. Dự án Nhà máy nhiệt điện Quảng Trị (gồm dự án Nhà máy nhiệt điện Quảng Trị 1, 2) có diện tích đất quy hoạch trên 605 ha. Dự kiến đến năm 2018 sẽ bắt đầu đầu tư xây dựng dự án Nhà máy nhiệt điện Quảng Trị có công suất 1.200 MW và đến năm 2021 sẽ đưa vào vận hành tổ máy số 1. Các phương án đấu nối nguồn điện từ Nhà máy nhiệt điện Quảng Trị lên hệ thống đường dây 220 kV; xây dựng cảng than, cảng tổng hợp phục vụ cho việc thi công, vận hành của dự án Nhà máy nhiệt điện Quảng Trị cũng đã có bước chuẩn bị tích cực.
Trong định hướng thu hút các dự án đầu tư tại Khu kinh tế Đông Nam, tỉnh sẽ ưu tiên xúc tiến đầu tư các dự án thuộc lĩnh vực năng lượng (nhiệt điện than, than hóa khí, lọc hóa dầu...), vì đây là các dự án có quy mô lớn, tạo nguồn hàng chủ lực trong giai đoạn đầu cho cảng biển Mỹ Thủy (dự án nhiệt điện than 1.200 MW có vốn đầu tư khoảng 2,26 tỷ USD, lượng than nhập khẩu khoảng 3,5 triệu tấn năm; dự án sản xuất Methane Gas – than hóa khí công suất 1 triệu tấn SNG cần 5 triệu tấn than, vốn đầu tư khoảng 2,5 tỷ USD), đó là những lĩnh vực mà Khu kinh tế Đông Nam có lợi thế so sánh. Khi Khu kinh tế Đông Nam hình thành, việc xây dựng Quốc lộ 15D từ Cửa khẩu Quốc tế La Lay nối với cảng Mỹ Thủy trong tương lai sẽ rút ngắn khoảng 80 km so với lộ trình như hiện nay. Không những vậy, có con đường đi qua, tiềm năng về đất đai cả một vùng rộng lớn của tỉnh từ phía Tây Đakrông, Nam Cam Lộ, đến Tây Hải Lăng, thị xã Quảng Trị sẽ được đánh thức, góp phần phân bố lại dân cư, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở những vùng sâu, vùng xa của tỉnh.
Để thúc đẩy Khu kinh tế Đông Nam phát triển, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2015 - 2020 xác định tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các quy hoạch phát triển công nghiệp đến năm 2020, định hướng đến năm 2025; đồng thời rà soát, điều chỉnh bổ sung để phù hợp với xu hướng phát triển và tiềm năng thế mạnh của địa phương. Thực hiện tốt quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Đông Nam Quảng Trị, triển khai xây dựng quy hoạch chi tiết tạo điều kiện thu hút đầu tư. Chú trọng đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư các dự án công nghiệp quy mô lớn mà tỉnh có lợi thế so sánh như năng lượng, dệt may, công nghiệp silicat, trước hết là các dự án: Nhà máy nhiệt điện than 1.200 MW, dự án cấp nước sông Nhùng, các dự án điện gió, nhà máy xử lý khí, các dự án công nghiệp phụ trợ. Đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng Khu kinh tế Đông Nam và có cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các dự án có quy mô lớn, yêu cầu công nghệ cao song song với việc tiếp tục xây dựng hoàn thiện kết cấu hạ tầng các khu, cụm công nghiệp, khu kinh tế, khôi phục và phát triển các làng nghề, du nhập nghề mới; đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn môi trường trong các khu, cụm công nghiệp. Đẩy mạnh hoạt động khuyến công; khuyến khích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào quá trình sản xuất, kinh doanh; hỗ trợ các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất mở rộng quy mô sản xuất theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng; tiết kiệm năng lượng, sản xuất sạch, áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng. Thực hiện các hình thức liên doanh, liên kết, góp vốn, đẩy mạnh xã hội hóa trong huy động các nguồn vốn đầu tư phát triển; áp dụng rộng rãi hình thức đối tác công tư (PPP) trong thực hiện các chương trình, dự án, đặc biệt là các dự án có quy mô lớn. Xây dựng và công bố rộng rãi các danh mục chương trình, dự án vận động, thu hút đầu tư. Tạo điều kiện tối đa để huy động các nguồn vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế trong nước, trong tỉnh. Tích cực tranh thủ sự hỗ trợ, giúp đỡ của Trung ương để vận động và triển khai thực hiện các dự án ODA và nguồn vốn do các bộ, ngành trung ương quản lý để đầu tư xây dựng các dự án quan trọng của tỉnh, nhất là tại Khu kinh tế Đông Nam.
Các dự án trọng điểm của tỉnh được xác định trong thời gian tới là xây dựng kết cấu hạ tầng Khu kinh tế Đông Nam, nhà máy nhiệt điện 1.200 MW, cảng biển Mỹ Thủy, dự án cấp nước sông Nhùng…Trong đó Khu kinh tế Đông Nam trong giai đoạn đầu được tập trung ưu tiên phát triển mạnh với quy mô trên 11.400 ha, xây dựng những xã vùng biển Hải Lăng nằm trong quy hoạch trở thành “trái tim” của Khu kinh tế Đông Nam, tạo nền tảng để tiếp tục lan tỏa ra toàn Khu kinh tế. Các ngành dịch vụ cảng biển, năng lượng, nước phục vụ sản xuất và dân sinh đi kèm với cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng hiện đại, đồng bộ… là những lĩnh vực được ưu tiên thu hút đầu tư trong giai đoạn đầu tại Khu kinh tế Đông Nam. Các lĩnh vực được triển khai trước mắt là đầu tư xây dựng các hạng mục luồng mở vào cảng; xây dựng cảng Mỹ Thủy; xây dựng hạ tầng khu công nghiệp và các khu chức năng khác; xây dựng theo quy hoạch khu du lịch Cửa Việt; nâng cấp các đô thị hiện có như thị trấn Hải Lăng, thị trấn Cửa Việt, phát triển các điểm dân cư đô thị, từng bước hình thành khu đô thị mới hiện đại, văn minh gắn với phục vụ Khu kinh tế Đông Nam; nâng cấp các tuyến đường, cải tạo hệ thống thủy lợi đảm bảo thoát lũ nhanh và phù hợp với quy hoạch xây dựng. Giai đoạn 2 sẽ từng bước chuyển đổi cơ cấu kinh tế và tiếp tục đầu tư phát triển hạ tầng của Khu kinh tế; thực hiện theo quy hoạch chi tiết và tiếp tục đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng các khu cụm công nghiệp, khu du lịch, khu dịch vụ...
Hiện nay, để thu hút đầu tư vào các dự án trọng điểm, tỉnh Quảng Trị cần xây dựng cơ chế chính sách và cụ thể hóa công tác tổ chức quản lý đối với Khu kinh tế Đông Nam theo pháp luật về đầu tư, pháp luật về doanh nghiệp, đặc biệt là Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 - 3 - 2008 của Chính phủ quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế; Nghị định số 164/2013/NĐ-CP ngày 12 - 11 - 2013 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 29/2008/NĐ-CP và các văn bản pháp luật liên quan. Các chính sách phục vụ quản lý, phát triển Khu kinh tế Đông Nam cần được xây dựng theo hướng thực sự ưu đãi, hỗ trợ và tạo điều kiện tối đa trong khuôn khổ pháp luật hiện hành với cơ chế minh bạch, hiệu quả, bền vững, để các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài yên tâm đầu tư vốn phát triển sản xuất - kinh doanh tại địa bàn chiến lược này. Thực hiện quản lý tập trung, thống nhất, thủ tục hành chính đơn giản, nhanh gọn, một đầu mối, tạo môi trường thông thoáng cho mọi hoạt động sản xuất - kinh doanh, dịch vụ tại Khu kinh tế. Tỉnh cần có kế hoạch tổ chức các hội nghị quảng bá, xúc tiến đầu tư vào Khu kinh tế Đông Nam tại các trung tâm kinh tế lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ… cũng như tại một số nước có nhiều đối tác và mối quan hệ chiến lược với Quảng Trị để góp phần “khơi thông” dòng vốn đầu tư vào Khu kinh tế Đông Nam; phấn đấu đến năm 2025, Khu kinh tế Đông Nam có thể đạt tỷ lệ đóng góp vào GRDP toàn tỉnh đạt khoảng 20 - 25%; tạo ra thế và lực mới cho sự phát triển bền vững của tỉnh Quảng Trị và vùng Trung Bộ.
Xét riêng về kết nối giao thông, Quảng Trị có lợi thế về địa lý - kinh tế do nằm ở trung điểm đất nước, ở vị trí điểm đầu (phía Việt Nam) trên tuyến đường huyết mạch chính của Hành lang kinh tế Đông - Tây (EWEC) với hai tuyến giao thông quan trọng, một tuyến nối với Lào - Thái Lan - Myanmar qua Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo và một tuyến nối với Lào đi Thái Lan hoặc Lào đi Campuchia qua Cửa khẩu quốc tế La Lay. Cả hai tuyến trên đều đến các cảng biển miền Trung như: Cửa Việt (Quảng Trị), Chân Mây (Thừa Thiên - Huế), Tiên Sa (Đà Nẵng), Hòn La (Quảng Bình), Vũng Áng (Hà Tĩnh)... Đây là điều kiện rất thuận lợi để Quảng Trị mở rộng hợp tác kinh tế trong khu vực, giao thương hàng hóa, vận tải quốc tế, phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch. Quảng Trị còn có điều kiện giao thông khá thuận lợi cả về đường bộ, đường sắt và đường thuỷ. Qua địa phận của tỉnh có các tuyến giao thông huyết mạch như Quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh (nhánh Đông và nhánh Tây), tuyến đường sắt Bắc - Nam và Quốc lộ 9 gắn với đường xuyên Á. Cảng Cửa Việt và trong tương lai là cảng Mỹ Thủy là một trong những cảng biển có thể phục vụ cho vận chuyển hàng hóa trong vùng và trung chuyển hàng hóa qua đường xuyên Á. Cách không xa trung tâm tỉnh lỵ Đông Hà có sân bay Phú Bài (Thừa Thiên - Huế) với khoảng 80 km và Sân bay quốc tế Đà Nẵng khoảng 150 km về phía Nam, khoảng 110 km đối với Cảng hàng không Đồng Hới (Quảng Bình) về phía Bắc.
Sau khi có Quyết định thành lập Khu kinh tế Đông Nam, một tuyến đường giao thông quan trọng đã được xác định sẽ khởi động triển khai, đó là Quốc lộ 15D nối Cửa khẩu quốc tế La Lay (Đakrông) về cảng biển Mỹ Thủy (Hải Lăng). Cửa khẩu quốc tế La Lay phía Việt Nam thuộc địa phận thôn La Lay, xã A Ngo, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị; phía Lào thuộc địa phận huyện Sa Muồi, tỉnh Salavan, cách trung tâm thành phố Đông Hà 120 km về phía Đông Bắc, cách trung tâm huyện lỵ thị trấn Krông Klang, huyện Đakrông 79 km (dọc theo đường Hồ Chí Minh) và cách Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo 115 km về phía Bắc. Khảo sát đặc điểm của hai tuyến đường chính về Cửa khẩu quốc tế La Lay cho thấy, phía Lào tuyến đường 15B được kết nối từ Cửa khẩu quốc tế La Lay đến trung tâm tỉnh lỵ Salavan và nối với thành phố Pakse, tỉnh Champasak (trung tâm kinh tế - xã hội khu vực Nam Lào). Đường 15B từ tỉnh Salavan đến Cửa khẩu quốc tế La Lay có chiều dài gần 147 km đã được Chính phủ Lào đầu tư khoảng 200 triệu USD nâng cấp mở rộng với quy mô nền đường rộng 9 m, mặt đường rộng 8 m, kết cấu mặt đường láng nhựa, đã hoàn thành đưa vào sử dụng từ đầu năm 2013. Mặt bằng hạ tầng khu vực Cửa khẩu quốc tế La Lay về phía Lào cũng đã được tỉnh Salavan đầu tư, đảm bảo đủ diện tích để mở rộng và xây dựng trụ sở làm việc của các cơ quan chức năng cũng như các công trình phụ trợ khác.
Về phía Việt Nam, Quốc lộ 9 từ Đông Hà lên cầu Đakrông nhập vào đường Hồ Chí Minh đến địa phận xã A Ngo theo Quốc lộ 15D đến Cửa khẩu quốc tế La Lay (đường Hồ Chí Minh tiếp tục đi huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên - Huế). Tổng chiều dài tuyến đường là 120 km, trong đó Quốc lộ 9 và đường Hồ Chí Minh đã được đầu tư nâng cấp với quy mô nền đường rộng 8 - 9 m, mặt đường rộng 7 - 8 m, kết cấu mặt đường láng nhựa, đảm bảo chất lượng cao trong việc lưu thông. Từ ngã ba xã A Ngo, huyện Đakrông đến Cửa khẩu quốc tế La Lay là Quốc lộ 15D dài 12,2 km. Như vậy có thể thấy, giao thông của hai tuyến đường chính về Cửa khẩu quốc tế La Lay đã được nâng cấp, tạo thuận lợi để kết nối các tỉnh Đông - Bắc Campuchia, Đông Thái Lan, Nam Lào với miền Trung Việt Nam qua Cửa khẩu quốc tế La Lay về Quảng Trị.
Trong chiến lược phát triển vùng của khu vực Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng (GMS), Hành lang kinh tế Đông Tây (EWEC) đóng vai trò quan trọng đối với việc thúc đẩy phát triển kinh tế. Tuy nhiên, để hỗ trợ cho sự phát triển của tuyến EWEC, các nhà tài trợ và các nước trong khu vực đều nhấn mạnh tầm quan trọng của các tuyến Hành lang PARA - EWEC chạy song song với EWEC từ Tây sang Đông nhằm mở rộng thị trường, tầm ảnh hưởng và sự tác động về đầu tư, giao thông, thương mại, du lịch trong toàn khu vực. Việc thiết lập thêm một Hành lang PARA - EWEC từ tỉnh Ubon Ratchathani (Thái Lan) đi Champasak (Lào) qua Cửa khẩu quốc tế La Lay đến tỉnh Quảng Trị là tuyến đường quốc tế quan trọng có tác động hỗ trợ trực tiếp đến tuyến Hành lang EWEC. Như vậy, Cửa khẩu quốc tế La Lay sẽ bổ sung cho Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo, tạo sự tương hỗ lẫn nhau giữa hai tuyến EWEC (qua Lao Bảo) và PARA - EWEC (qua La Lay). Hiện Cửa khẩu quốc tế La Lay đang đóng vai trò quan trọng trong kết nối giao thông quốc tế trong khu vực. Chính phủ Lào đã thông qua Quy hoạch tổng thể phát triển vùng Nam Lào giai đoạn 2010 - 2020, trong đó nhấn mạnh việc xây dựng tỉnh Champasak thành trung tâm kinh tế - xã hội cho 4 tỉnh Nam Lào (là những tỉnh thuộc vùng lõm vì rất khó khăn trong kết nối giao thông để phát triển). Hiện nay, tại Pakse (thủ phủ của tỉnh Champasak) đã có sân bay quốc tế và máy bay Boeing 737 có thể hạ cánh. Sân bay quốc tế Pakse tiếp nhận 5 - 7 chuyến bay quốc tế/tuần từ thủ đô Viên Chăn (Lào), Bangkok (Thái Lan) và Xiêm Riệp (Campuchia). Cửa khẩu quốc tế La Lay được xây dựng xứng tầm sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu di chuyển của khách quốc tế theo đường bộ về Việt Nam. Nếu theo tuyến đường từ các cửa khẩu quốc tế của Lào, Thái Lan và Campuchia qua Cửa khẩu quốc tế La Lay về cảng biển tại Việt Nam sẽ rất thuận lợi. Ví dụ, khoảng cách từ Pakse (Lào) đi Attapeu (Lào) qua Cửa khẩu Bờ Y (Kon Tum) về cảng Quy Nhơn (Bình Định) khoảng 610 km, bằng khoảng cách từ Pakse (Lào) đi Salavan (Lào) qua Cửa khẩu quốc tế La Lay về cảng Đà Nẵng (604 km). Tuy nhiên, tuyến đường vận chuyển từ Pakse - Salavan - La Lay/Quảng Trị - Đà Nẵng thuận lợi, bằng phẳng, ít đèo dốc hơn tuyến đường Pakse - Attapeu - Kon Tum - Quy Nhơn/Bình Định. Bên cạnh đó, tuyến đường từ các tỉnh Ubon Ratchathani, Amnat Charoen (Đông Thái Lan) qua trung tâm Nam Lào về Việt Nam theo Cửa khẩu quốc tế La Lay đến thành phố Đông Hà gần hơn khoảng 200 km so với tuyến đường hiện tại từ các tỉnh Đông Thái Lan và Nam Lào qua Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo. Cùng với cửa khẩu quốc tế hàng không ở Pakse, Champasak (Lào) và Cửa khẩu quốc tế La Lay sẽ tạo nên một tam giác phát triển bao gồm một vùng rộng lớn các tỉnh Đông - Bắc Campuchia, Đông Bắc Thái Lan, Nam Lào với miền Trung Việt Nam. Mọi hoạt động giao thương, đầu tư, du lịch của nhiều tỉnh, thành của 4 nước, bao gồm Lào (Salavan, Champasak, Sê Kông), Thái Lan (Sisaket, Ubon Ratchathani), Campuchia (Stung Treng, Preah Vihear) và Việt Nam (Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng) đều có thể thông qua Cửa khẩu quốc tế La Lay.
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ XVI đã xác định việc xây dựng Quốc lộ 15D nối Cửa khẩu quốc tế La Lay với cảng Mỹ Thủy là dự án trọng điểm. Cùng với đó là xây dựng kết cấu hạ tầng Khu kinh tế Đông Nam, nhà máy nhiệt điện 1.200 MW, đầu tư xây dựng các công trình thiết yếu tại Cửa khẩu quốc tế La Lay, xúc tiến thành lập Khu kinh tế Cửa khẩu La Lay… Khi Khu kinh tế Đông Nam hình thành, việc xây dựng Quốc lộ 15D từ Cửa khẩu quốc tế La Lay nối với cảng Mỹ Thủy trong tương lai sẽ rút ngắn khoảng 80 km so với lộ trình như hiện nay. Trong rất nhiều tác động tích cực, một trong những hiệu ích mang lại là khi Quốc lộ 15D được mở ra, tiềm năng về đất đai cả một vùng rộng lớn của tỉnh từ phía Tây và Đông Nam Đakrông, Nam Cam Lộ, đến Đông Nam Hải Lăng, thị xã Quảng Trị sẽ được khai thác hiệu quả, góp phần phân bố lại dân cư, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở những vùng sâu, vùng xa của tỉnh.
Việc kết nối “từ rừng xuống biển” trong tuyến giao thông động lực La Lay - Mỹ Thủy hứa hẹn sẽ mở ra sự đột phá mới, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Quảng Trị đạt trình độ phát triển trung bình của cả nước vào năm 2020.
Chiều cuối năm, tôi về Hải An, Hải Lăng. Anh Mai Văn Cai, Bí thư Đảng ủy xã Hải An dẫn tôi đi dọc thân làng để ra biển. Làng thôn yên ả với nhịp sống thường ngày nhưng cơ hồ như trong lòng đất, lòng người đang rạo rực chuẩn bị tâm thế cho một cuộc đổi thay nhiều mới mẽ và cũng đầy thách thức. Theo thống kê ban đầu, riêng công tác chuẩn bị giải phóng mặt bằng khu vực nhà máy nhiệt điện 1.200 MW, số hộ phải di dời là khoảng 245 hộ. Anh Cai chia sẻ: “Thực hiện dự án quy hoạch Khu kinh tế Đông Nam, xã đã ban hành quyết định thành lập 2 tổ thống kê, khảo sát tài sản trên đất, mồ mả trên địa bàn toàn xã. Đến nay công việc đang tiến hành rất khẩn trương. Mỹ Thủy được xác định là nơi xây dựng cảng nước sâu, thoạt đầu ngay bản thân tôi cũng chưa hình dung ra hình hài của nó. Nhưng khi tận mắt nhìn thấy cảng biển Maptaphut và Laem Chabang nước bạn, tôi đã vững tin hơn nhiều. Ở Thái Lan, những vùng được chọn xây dựng cảng và khu phức hợp trước đây đều là những làng chài nghèo, bây giờ hết sức giàu có, sầm uất. Tôi ao ước quê mình cũng được như thế, trong tương lai gần...”.
Tôi nhìn ra khơi xa nơi vùng bãi ngang Mỹ Thủy. Những doi cát trắng xóa ngút ngàn. Biển xanh thẫm, như dâng cao lên, chắc nịch, kẻ một nét cắt mãnh liệt nơi chân trời. Tự dưng tôi cảm thấy hôm nay, nơi tôi đang đứng đây so với đường chân trời có một khoảng cách vời vợi. Nhưng không xa nữa đâu, cảng biển Mỹ Thủy sẽ hiện diện trên mảnh đất còn nhiều gian khó này, vững chân trên thềm biển rồi vươn mình ra đại dương, kéo gần lại chân trời tương lai xán lạn, huy hoàng...
Đ.T.T





