Một ngày nắng đổ lửa đầu tháng tư, men theo quốc lộ 1A đoạn qua thị trấn Ái Tử, tôi tìm đến làng Giang Hến - vùng sản xuất hến nức tiếng trong cả tỉnh. Từ cầu An Mô nhìn sang bờ tả ngạn sông Thạch Hãn chừng cây số đã thấy thấp thoáng ghe thuyền của làng Hến đậu san sát ven sông. Trên khúc sông ấy, người dân làng Hến bao đời lam lũ sớm hôm lặn ngụp giữa sông sâu nước biếc, mang “thân cò” lặn lội cơ cực cùng bến sông quê.
Buổi trưa làng quê thật yên ả, thi thoảng vọng lên âm thanh khe khẽ của tiếng mái chèo nhỏ rẽ nước, tiếng sàn sạt từ những chiếc thúng chao hến va vào thành ghe. Thấp thoáng bóng dáng của những con người miệt mài, cặm cụi bên những ghe hến mới về bến. Dạo bộ cùng bác Nguyễn Thại quanh khúc sông Thạch Hãn dậy mùi tanh nồng của vỏ hến, tận mắt chứng kiến cuộc sống mưu sinh nhọc nhằn của người dân nơi đây, tôi được bác kể cho nghe về gốc tích nghề làm hến của làng. Lấy dấu mốc khi chúa Nguyễn Hoàng vào khai khẩn vùng đất Thuận Hóa và chọn vùng đất Ái Tử lập Dinh Cát thì đã có làng Giang Hến. Tương truyền gốc gác của người Giang Hến là từ những cư dân vùng sông nước sinh sống ở cù lao Cồn Hến (Thừa Thiên Huế) ra đây lập nghiệp, mang theo nghề truyền thống gắn với con hến làm kế sinh nhai. Cứ thế trải qua bao thế hệ, người làng Giang Hến vẫn kiên trì bám trụ với cái nghề đã nuôi dưỡng họ lớn lên ở khúc sông này.
Hến có quanh năm trên sông Thạch Hãn, nhưng rộ mùa chủ yếu từ tháng chạp đến tháng sáu Âm lịch. Đây là thời điểm nước sông cạn, con hến qua một mùa mưa cũng sinh sôi nảy nở nhiều. Có gần 30 năm ròng lênh đênh sông nước với con hến, kinh qua hết bao nỗi đắng cay, tủi cực nên bác Thại có nhiều chiêm nghiệm quý báu về nghề hến. Bác tâm sự: nghề ni cực lắm, nhưng vì miếng cơm manh áo hằng ngày nên phải làm. Làm hến không phân biệt mùa, ngày hay đêm. Cào hến là công việc nặng nhọc chỉ dành cho những người đàn ông. Dụng cụ hành nghề khá thô sơ, chỉ cần một chiếc ghe nhỏ, một bàn cào bằng tre và vài chiếc rổ mắt thưa. Ngày nào cũng vậy, công việc của những người “phu hến” bắt đầu từ lúc tờ mờ sáng và kết thúc vào khoảng 10-11 giờ trưa. Để bắt được những con hến nằm sâu dưới lòng sông, phải ngâm mình dưới nước cả ngày. Canh chừng lúc nào nước ròng là bắt đầu tròng cái cào hến vào người, đôi tay nắm chắc cán chiếc cào, dùng lực ghì mạnh xuống đáy, cùng nhịp đôi chân lùi về phía sau. Rồi phải gồng mình đứng dậy từ từ kéo chiếc cào từ đáy sâu cùng nhiều bùn, cát lên mặt nước, không ngưng nghỉ tay người cào hến phải đãi, tràng, lọc nước có những con hến đổ vào ghe.
Ánh nắng đầu hè dát vàng mặt nước sông Thạch Hãn. Những mẻ cào đã bắt đầu nặng nề hơn, lòng thuyền cũng đầy dần những hến. Ghe về đến bến sông khi mặt trời sắp đứng bóng. Trên bến phụ nữ, trẻ con nôn nao đón người thân “đi hến” trở về. Tiếng gọi nhau ồn ào, náo nhiệt vang vọng một khúc sông. Những người vợ tất tả giúp chồng khệ nệ bê từng thùng hến đầy lên bờ, dùng thúng sàng sảy lại cho sạch bùn, sạn, rong rêu. Công việc này tưởng đơn giản, nhưng mất nhiều thời gian và công sức. Nếu may mắn gặp buổi hến sạch thì rửa nhanh, sàng đãi dễ dàng, gặp phải mẻ hến nhiều rác, sạn phải chao sàng, lượm lặt kỹ càng trước khi mang về lò nấu. “Bữa ni hến được không Đức?”, tôi nghe bác Thại hỏi người đàn ông đang đi về phía chúng tôi. “Được độ 3 thùng anh ạ!” Chắc cũng do quanh năm dầm mình với nước sông nên giọng nói của anh Đức nghe hơi nặng và thô. Với thân hình gầy gò, nước da đen nhẻm và đôi tay chai sần trông anh già dặn hơn so với độ tuổi 48. Tôi hỏi anh:
- Mỗi thùng hến anh bán được bao nhiêu tiền?
- 50 nghìn đồng một thùng.
- Trừ chi phí còn lãi bao nhiêu?
- Bán hến sống thì chẳng được mấy đồng. Phải mang hến về làm sạch, nấu lên lấy nước, tách vỏ lấy “mặt” hến rồi mang ra chợ bán. May ra kiếm thêm chút ít trang trải cuộc sống.
Vẫn nguyên bộ áo quần ướt sũng, thấm vị tanh nồng mùi bùn, mùi nước sông, cánh đàn ông túm tụm lại hỏi chuyện rôm rả sau một buổi rong ruổi cào hến khắp các ngã sông. Qua những câu chuyện họ kể, tôi mới thấm thía hết nỗi cực nhọc, lam lũ của nghề “nước sông gạo chợ” này. Ngày trước, hến ở khúc sông này nhiều vô kể, chỉ cần mang cào ra, sau một lát là có đầy một thúng hến. Chỉ cần chạy ghe ra một đoạn sông Thạch Hãn, trong chốc lát hến đã chất đầy ghe. Mười năm trở lại đây, nạn hút cát trộm dưới lòng sông đã khiến cho hến bỏ đi mất tăm. Những con đò khai thác cát trái phép làm bờ sông bị sạt lở, ăn sâu vào tận xóm làng. Lòng sông xuất hiện nhiều rãnh xoáy nước, những hố sâu, tạo thành cạm bẫy vô hình nguy hiểm với người “phu hến”. “Sông sâu bến cũng chẳng còn. Hồi trước tui đi cào nước chỉ xấp xỉ ngang mắt gối, chừ sông sâu có đoạn đến 7 - 8 mét, đứng trên bờ nhìn xuống chỉ thấy nước sông xanh ngắt, thử hỏi đứng chỗ mô mà cào, mà xúc. Có một số người sắm được ghe máy, nước sâu mấy cũng cào được, nhưng mình cào thủ công, sông sâu thì chịu thôi”. Anh Đức nói thêm.
Từ khi nguồn hến trong làng cạn kiệt, người dân phải chịu khó lái ghe đến những khu vực xa hơn mới mong tìm được hến. Cánh đàn ông lái thuyền hàng chục cây số về các khúc sông Trà Liên, Lập Thạch, Gia Độ, Như Lệ hay quanh các vùng đầm phá mới mong có hến về đầy ghe. Nghề cào hến lắm lúc cũng nhờ vào vận may, không phải hôm nào cũng có hến để mang về. Anh Việt đang cặm cụi sửa chữa lại chiếc cào tre cũng góp thêm câu chuyện với chất giọng trầm buồn: “Qua đầu tháng sáu là ngót hến, tới ra giêng mới lại có mùa hến dồi dào. Tháng mô nhắm tiết trời không cào được hến là tôi đi làm thuê, ai kêu chi mần nấy. Mấy nhà khác cũng vậy, người mần cái ni, người mần cái tê, chứ trông chờ vào con hến không đủ tiền mua gạo sống qua ngày”.
Giang Hến khi xưa cả làng cào hến, nhà nhà làm hến, không khí tấp nập trên bến dưới thuyền, trong làng có những gia đình ba đời làm hến, con nối nghiệp cha lưu giữ nghề truyền thống của làng. Trẻ con trong làng lớn lên nhờ bát nước hến ngọt ngào của quê hương, sớm được làm quen với mùi hến, mùi mưu sinh trên sông nước. Giờ làng có 67 hộ dân thì chỉ còn non nửa số đó còn trụ lại với nghề. Nhiều người chuyển sang mua hến sống từ các nơi về chế biến rồi mang đi bán vì nguồn hến trong làng không đủ cung ứng, chỉ còn khoảng chục hộ còn cần mẫn theo sông nước chuyên nghề cào hến. Dù trong tâm thức mỗi người con Giang Hến vẫn luôn muốn giữ nghề hến truyền thống gắn với tên làng đã nuôi sống họ tự bao đời, nhưng nếu cứ bám vào cái nghiệp này thì cuộc sống sẽ mãi trong cái vòng luẩn quẩn lam lũ. Họ muốn cho con cái được học hành tử tế mai sau kiếm cái nghề cho đỡ khổ. Trong làng chỉ còn lại lớp người trung niên và người già còn làm nghề hến. Công việc mưu sinh nhọc nhằn dầm mình trên nắng, dưới nước đòi hỏi sự kiên nhẫn chịu đựng mà thu nhập chẳng được là bao đã không đủ sức để giữ chân lớp trẻ với nghề của cha ông để lại, vì thế không còn mấy người trẻ còn mặn mà với nghề hến. Bác Thại có ba người con nhưng không ai theo nghiệp cha, cả ba đều rời xa quê hương sang nước bạn Lào làm ăn sinh sống. Những đứa con của anh Đức đang tuổi ăn tuổi lớn, rồi anh sẽ cho chúng ăn học đàng hoàng để mai sau chúng không phải cực nhọc tấm thân như đời ông đời cha chúng nữa. Nghe các anh kể chuyện tôi vẫn cảm nhận được một thứ tình cảm kỳ lạ của những người đàn ông này dành cho con hến, họ vẫn nặng lòng với nghề hến lắm, với họ nghề hến tuy lao đao nhưng lại mang lại cho họ nhiều thứ để chắt chiu, quý trọng cả một đời. Chợt nghĩ đến nếu mai này Giang Hến không còn nghề hến, lúc ấy làm gì còn ai chở những bát nước hến ngọt ngào rong ruổi mọi nẻo đường. Và liệu tên làng Giang Hến có còn đúng nghĩa nữa hay không?
Trời trưa đứng bóng, tạm gác những câu chuyện còn dang dở, các anh xuống bến phụ giùm các chị khuân những thùng hến đã được đãi sạch về nhà. Tôi theo chân vợ chồng anh Đức về ngôi nhà sát mép sông. Vừa đến nhà, chị Như, vợ anh Đức lao ngay vào bếp tất bật nhóm lửa chuẩn bị hàng cho phiên chợ chiều. Hến vừa đem dưới sông lên được làm sạch một lần nữa mới cho vào nồi nấu. Lại gần bếp lò đang đỏ lửa, tôi lặng lẽ quan sát. Chị Như nấu hến bằng một cái nồi chảo to, nước sôi ùng ục mới đổ hến vào, thêm ít muối sau đó đậy nắp vung lại. Thỉnh thoảng chị dùng đôi đũa to bằng tre đảo đều hến trong nồi, vừa nấu vừa canh chừng ngọn lửa, lửa to nhỏ tùy vào từng thời điểm. Khi nào thấy hến mở hết, mở đều thì vớt ra. Nước hến được đựng vào các thùng, mắt hến cho vào các rổ tre ráo nước. Chị Thư không phải là người gốc làng Giang Hến, chị theo chồng về xứ hến rồi được mẹ chồng dạy lại cho cách làm hến, nấu hến, cứ thế chị gắn bó với con hến được hơn hai chục năm rồi. Sàng lọc rổ hến còn bóc hơi nghi ngút, khuôn mặt nhễ nhại mồ hôi, chị Thư tâm sự: “Việc ni mất sức lắm, mỗi ngày nấu hai bận hến mới kịp hai buổi chợ, còn bỏ hến cho những chỗ mối lái nữa. Hai giờ sáng cả hai vợ chồng phải lọ mọ dậy nấu hến để kịp bán chợ sáng. Một buổi nấu hến chắt ra cũng chỉ được độ mươi mười lăm lon. Giá bán mỗi lon là 10.000 đồng. Cả nhà tất bật cả ngày lẫn đêm may ra cũng kiếm được 200.000 đồng”. Dường như chị chẳng mấy hài lòng với công việc hiện tại. Múc cho tôi một chén nước hến, chỉ bảo: “Uống thử đi em?”, rồi chị quay ra sốt sắng chuẩn bị đồ nghề cho kịp buổi chợ trên thị trấn.
Hoàng hôn đã buông xuống trên sông, những chiếc thuyền nằm im lìm soi bóng con nước Thạch Hãn lững lờ trôi. Từ bến sông này, biết bao đời người từng ra đi theo những con nước lớn nước ròng lênh đênh cùng đời hến, rồi lại lần lượt trở về nuôi lớn bao lớp dân làng bằng những bát hến đậm đà ngọt mát hương quê. Trên tay cầm bát nước hến nóng thơm lừng, không hiểu sao ngoài vị ngọt lịm, thanh mát tôi còn nhận ra vị… mặn đầu môi.
C.N





