Mấy ngày này đến trường đâu đâu cũng thấy chúng bạn bàn tán rôm rả chuyện Trung thu. Giờ ra chơi lũ bạn đứng túm tụm ngoài hành lang cửa lớp hào hứng khoe với nhau về những chiếc lồng đèn mà bố mẹ chúng mua cho. “Hôm qua mẹ mua cho tớ cái lồng đèn điện tử hình con lân, chỉ cần nhấn nút một cái là hai mắt lân sáng nhấp nháy, đầu lân lúc lắc theo tiếng nhạc!” - Một đứa vừa nói vừa làm điệu bộ giống như người đang múa lân. Có tiếng xuýt xoa ngưỡng mộ. Mấy đứa khác cũng tranh nhau khoe: “Lồng đèn của tớ hình siêu nhân,… bố My lên tận chợ huyện mua lồng đèn cá chép cho My,… lồng đèn của Su hình thỏ ngọc còn xoay tròn được cơ…” Tôi ngồi thu lu bên cửa sổ nhìn ra cánh đồng phía sau trường, những bóng người nông dân chênh vênh với nắng gió. Lúc đó tôi chỉ mong giờ ra chơi trôi qua thật nhanh hoặc là lũ bạn sẽ coi tôi như người vô hình. Lỡ chúng nó có hỏi, mình biết trả lời thế nào?
Buổi chiều, mẹ đi làm về, không thấy tôi lăng xăng chạy ra ngõ đón như mọi ngày, gọi mãi chẳng thấy tiếng thưa mẹ dựng chiếc cuốc cạnh bờ tường hoa cuống quýt chạy đi tìm. Chân thấp chân cao bước qua bậu cửa nhà thấy tôi ngồi bó gối trong góc giường, tay mân mê chiếc máy bay giấy, nước mắt nước mũi tèm nhem, bộ quần áo đồng phục xộc xệch, lếch thếch, mẹ chạy đến ôm chầm lấy tôi. Bàn tay thô ráp của mẹ vỗ vỗ vai tôi. Nghe mùi mồ hôi nồng nồng quyện với mùi ngai ngái của bùn đất. “Đi học có chuyện gì kể cho mẹ nghe nào!” Tôi òa khóc ngon lành trong vòng tay mẹ: “Bạn bè đều được bố mẹ mua đèn lồng đón Trung thu, còn con thì…” Mẹ siết chặt lấy vai tôi, giọt nước mắt của mẹ rơi vào mu bàn tay tôi nóng hổi. Tôi ngước lên nhìn mẹ, mẹ vội quay đi giấu giọt nước mắt vào bóng chiều đỏ ối. Bố mất trong một tai nạn giao thông từ khi tôi mới lên năm để lại cho mẹ một món nợ chất chồng. Chị gái lấy chồng tít tận miền Nam, nhà chỉ còn hai mẹ con nương tựa vào nhau. Mẹ tất bật với công việc đồng áng đến nhá nhem tối. Cứ vừa về đến nhà chẳng kịp rửa sạch bùn đất lấm lem bắp chân đã vội lao vào bếp sắp cơm nước rồi nấu nồi cám cho đàn lợn nái. Mẹ tranh thủ chằng buộc lại cái chuồng gà lo bão hay chẻ đống củi khô chất bên chái nhà. Tối thì hì hụi đan làn cho đến tận khuya. Mẹ bận đến quên ngày quên tháng.
Tối hôm đó, mẹ lọ mọ tìm trong bao đồng nát ở góc bếp một cái vỏ chai nhựa màu trong. Cắt đôi chiếc chai nhựa và lấy một nửa. Mẹ dùng thanh sắt nhọn hơ trên bếp lửa cho nóng đỏ rồi đục trên thân chai bốn lỗ. Xỏ bốn đoạn dây ni lông qua bốn lỗ rồi so cho thật cân, sau đó buộc vào một thanh tre dài ba bốn gang tay. Chỉ một nhoáng là chiếc đèn lồng đã hoàn thành, mẹ bảo bây giờ hai mẹ con mình sẽ cùng trang trí cho chiếc lồng đèn nhé! Tôi hào hứng lắm. Lục trong ngăn bàn tìm ba bốn tờ giấy màu xanh đỏ tím vàng, cái kéo và lọ hồ dán. Cắt cắt dán dán một hồi. Đây là bầu trời đêm với những ông sao sáng lấp lánh, đây là vầng trăng rằm tròn vành vạnh như cái đĩa, đây là mái nhà ấm cúng của hai mẹ con, đây là đàn gà lang thang kiếm ăn trên sân,… Tôi hí hửng xoay xoay chiếc lồng đèn và chỉ cho mẹ những hình cắt dán trên chiếc lồng đèn. Tôi cầm chiếc đèn lồng chạy nhảy khắp sân. Mẹ nhìn theo tôi rồi ngoái nhìn lên bàn thờ bố và len lén lau nước mắt.
Đêm Trung Thu, dưới ánh trăng sáng vằng vặc, mẹ dắt tay tôi hòa vào dòng người đi rước đèn. Tiếng trống thập thình, tiếng cười nói rôm rả. Ánh nến trong chiếc đèn lồng của tôi lung linh hắt sáng ra xung quanh.
Đã hơn chục năm rồi, tôi vẫn còn giữ chiếc lồng đèn vỏ chai ấy trong chiếc rương gỗ trên gác xép như là cất giữ Trung thu tuổi thơ.
Giàn trầu tuổi thơ
Góc tường rêu mốc dẫn ra chiếc cổng tán, giàn trầu xanh mướt mát. Trầu vươn những cánh tay mảnh khảnh quần quýt lấy mấy cành tre khô đét cao lêu khêu bà dựng dựa vào thành bể nước mưa leo lên. Những chiếc lá hình quân bài cơ khẽ lúc lắc làm duyên với chàng gió đa tình. Lá nào lá nấy căng vòm ngực xanh hứng nắng vàng. Bà chăm chút giàn trầu như một đứa cháu bé bỏng trong nhà. Khi bình minh vừa hoen nắng, bà thức dậy lọ mọ chống gậy ra bờ giếng múc một gầu nước trong văn vắt, vừa tưới vừa thủ thỉ nói chuyện gì đó với giàn trầu. Bà dứt khoát không cho tưới giàn trầu bằng nước bẩn, nước vo gạo, nước xà phòng,… Mùa đông, bà lấy manh chiếu che chắn những cơn gió mùa đông bấc se sắt thốc vào giàn trầu. Đặc biệt khi sương giá cuối năm lây rây, bà lấy cả chiếc màn đang nằm che cho nó. Có hôm bà tỉ mẩn cả chiều bên giàn trầu, nào là ngồi nhổ những ngọn cỏ loi nhoi mọc lên quanh gốc trầu, nào là vun xới đất cho tơi xốp rồi chằng buộc lại giàn cho vững chắc… Bà bảo trầu như thiếu nữ thuở trăng tròn, tay người lạ hái là trầu giận, trầu hờn lụi dần lụi dần héo úa, rụng rơi rồi chết. Bà dặn tôi có hái trầu ban đêm thì nhớ đánh thức trầu: “Trẩu trẩu trầu trầu/ Mày làm chúa tao/ Tao làm chúa mày/ Tao không hái ngày/ Thì tao hái đêm.” Tôi thuộc nằm lòng câu thần chú gọi trầu ấy.
“Long ơi, hái giúp bà mấy lá trầu nào!” Nghe tiếng bà gọi dẫu rằng đang túm tụm chơi đồ hàng, ô ăn quan hay trốn tìm với lũ bạn hàng xóm tôi cũng chạy một mạch đến bên giàn trầu, lau vội bàn tay lấm lem đất cát vào quần rồi khẽ khàng nhón tay ngắt cuống lá, xếp gọn lá trầu trên tay nâng niu như một điều gì đó linh thiêng lắm. Tôi ngồi xổm đăm chiêu nhìn bà têm trầu. Đôi tay bà thoăn thoắt phết một ít vôi rồi cuộn tròn lá trầu, lấy cuống lá ghim lại. Bỏ một miếng cau bổ sáu, một miếng vỏ nhỏ như cái móng tay và một lá trầu cuộn vôi vào chiếc cối bằng đồng to hơn quả cau, tôi giã trầu cho bà. Tôi tò mò không biết mùi vị của miếng trầu như thế nào nhưng cũng không dám thử vì bà bảo người ăn không quen sẽ bị say. Ngồi bên hiên nhà trông ra giàn trầu xanh mướt, vừa bỏm bẻm nhai trầu bà vừa kể cho tôi nghe sự tích trầu cau. Bà như một kho truyện cổ tích của tuổi thơ tôi. Ngày lễ tết hay rằm, mùng một bà dậy từ rất sớm hái những chiếc lá trầu to nhất, đẹp nhất để dâng lên bàn thờ gia tiên. Bà cũng không quên buộc thành từng mớ từ mười đến mười hai lá bằng sợi rơm nếp vàng óng ả, đem biếu hàng xóm mỗi nhà một mớ.
Một lần bão về trong đêm, mưa xối xả quất ràn rạt bên chái nhà, gió như con ngựa hoang lồng lộn giữa trời. Bà thao thức không ngủ được rồi bà trở dậy thắp đèn dầu đăm đắm nhìn ra ngoài sân qua khe hở của cánh cửa sổ. Bà lo cho giàn trầu yếu ớt không biết có chống đỡ nổi với cơn bão hung dữ. Sáng hôm sau, khi trời vừa hửng sáng và cơn bão cũng đã mệt nhoài, bà vội vã chống gậy ra sân. Giàn trầu bị cơn bão quật ngã nằm sõng soài cạnh chiếc cổng tán, đôi mắt đỏ hoe, bà thẫn thờ ngồi thụp xuống bên giàn trầu, nâng trên tay một nhánh trầu bị gió quật tả tơi. Mấy hôm đó bà cứ chống gậy đi ra sân nhìn giàn trầu rồi lại trở vào trong nhà. Tiếng thở dài thườn thượt cùng tiếng lộc cộc khô khốc của chiếc gậy lọt thỏm trong không gian tĩnh lặng của ngôi nhà. Thương bà, bố mẹ dựng lại giàn trầu, cắt tỉa những cành bị giập nát, rồi bón phân vào gốc cây. Mấy nhánh trầu yếu ớt mệt mỏi bám víu vào thanh tre. Tối nào trước khi đi ngủ tôi cũng chạy lại bên gốc trầu thì thầm: “Trầu ơi, trầu à, mau mau khỏe lại, xanh tốt để bà vui nhé!” Có lẽ trầu nghe được những lời thủ thỉ của tôi mà một tuần sau, giàn trầu bắt đầu tươi xanh trở lại. Nhìn giàn trầu mà đôi mắt bà long lanh niềm vui.
Lên thành phố lập nghiệp, cả năm trời tôi mới về thăm nhà. Bước qua chiếc cổng tán bắt gặp màu xanh mướt mát của giàn trầu tuổi thơ, tôi chợt giật mình thảng thốt. Cuốn vào vòng xoáy mưu sinh, tôi đã vô tình đánh rơi bao nhiêu kỉ niệm tuổi thơ. Tôi đứng tần ngần bên giàn trầu mà không dám đưa tay hái. Có khi nào trầu coi mình là người lạ để rồi lỡ tay hái trầu giận, trầu hờn?
Mẹ lên thành phố
Mẹ lên thành phố thăm tôi. Tôi đón mẹ ở bến xe. Mẹ mặc chiếc áo hoa trắng điểm xanh mà tôi mua cho mẹ bằng món tiền nhuận bút đầu tiên từ mấy năm trước. Tôi còn nhớ như in mẹ ướm thử rồi bảo: “Suốt ngày lấm lem bùn đất ngoài đồng mặc áo mới sao được!”. Mẹ gấp chiếc áo cẩn thận bỏ vào túi nilong cất trong tủ có dịp đi đâu xa mới đem ra mặc. Loẹt quẹt đôi dép lê, mẹ khệ nệ một tay ôm nửa bao gạo, tay kia xách chiếc làn mây đầy ắp đồ. Lỉnh kỉnh, nào là chai nước mắm, gói bột canh, bột ngọt, cân đường, dăm ba quả chanh, mấy quả ớt, bó rau muống mẹ dậy từ sáng sớm hái từ mảnh vườn nhỏ bên cạnh bờ ao, mớ tôm rang muối gói trong mảnh lá chuối – món mà con thích ăn nhất,… Mẹ bảo: “Đồ ăn trên thành phố vừa đắt mà không an toàn, đây là rau mẹ trồng còn mớ tôm dì con đánh dậm được đem cho.”
Mẹ kể cho tôi nghe đủ thứ chuyện ở quê, nào là chuyện thuốc lào mất giá, cả vụ bán được năm sáu triệu, nào là chuyện cây khế cạnh bờ tường hoa quả sai trĩu trịt, ai đến chơi đều khen, nào là con mèo tam thể đẻ được ba con mà chẳng hiểu sao con nào con nấy lông đen nhẻm, chắc là chúng giống mèo bố,... Rồi mẹ kể chuyện thằng bé hàng xóm thường sang giúp mẹ mấy việc lặt vặt, bố nó bị ngã giàn giáo mất từ hồi nó mới mấy tháng tuổi, mẹ nó đi làm giúp việc cho một gia đình tận làng bên từ sáng sớm đến tối mịt, thằng bé lên chín lên mười mà tự làm mọi việc trong nhà từ nấu nướng, dọn dẹp, giặt quần áo... Mẹ thỉnh thoảng cho nó bát canh, khúc cá rán hay mấy miếng thịt kho. Bố đã đi xa, tôi đi trọ học ở thành phố, nhà còn một mình mẹ may có thằng bé hàng xóm cũng đỡ cô quạnh. Tôi ngồi sát bên mẹ, nắm chặt lấy bàn tay gân guốc, thô ráp của mẹ và mẹ cũng siết chặt lấy tay tôi. Vừa ngồi nghỉ được một lúc mẹ đứng dậy dọn dẹp căn phòng trọ của tôi. Rồi mẹ quét sạch tinh tươm hành lang khu trọ mà thường ngày chẳng có ai thèm ngó ngàng tới. Tính mẹ là thế, ở quê cứ luôn chân luôn tay nên ngồi không một chút là không chịu được. Hai mẹ con ngồi ăn cơm với nồi canh mướp nấu lõng bõng nước, mớ tôm rang muối mẹ mang từ quê. Tôi và miếng cơm mà cứ nghèn nghẹn ở cổ họng. Bữa cơm ấm cúng ở nơi đất khách quê người. Lòng tôi chợt thấy ấm áp lạ. Mọi ngày tôi đi học rồi đi làm thêm đến khi những ô cửa sổ vuông vuông trên những tòa nhà cao lênh khênh bật sáng mới lóc cóc về phòng trọ, ăn tạm gói mì hay cái bánh mì cho qua bữa.
Tôi đi học, mẹ loanh quanh trong căn phòng trọ chật hẹp mười mấy mét vuông rồi bắc ghế ra tựa cửa nhìn dòng xe cộ như mắc cửi trên con đường phía trước mặt. Hôm sau mẹ vội vã về quê vì mẹ lo cho đàn gà ở nhà bị bỏ đói và vườn rau héo không có ai tưới rồi còn công việc đồng áng đang bước vào mùa vụ. Bảo rằng sẽ đưa mẹ đi chỗ này chỗ kia cho mẹ biết thành phố mà chẳng được. Cả cuộc đời chân lấm tay bùn sau lũy tre làng mẹ có biết thành phố là gì đâu! Mẹ giúi vào tay tôi một trăm nghìn rồi bảo: “Mẹ cho thêm mấy đồng để mua sữa uống nhé, dạo này mày gầy quá… Cứ cầm lấy, ở quê rau cháo mẹ cũng sống được, mày một thân một mình trên thành phố những lúc túng thiếu biết trông cậy vào ai!” Mẹ dặn dò tôi đủ thứ từ chuyện học hành đến miếng ăn giấc ngủ. Tôi đưa mẹ lên xe khách tìm ghế ngồi, đặt chiếc làn mây dưới gầm ghế, đưa mẹ mấy chiếc bánh mỳ mua ở cổng bến xe về làm quà. “Mẹ về đến nhà nhớ gọi điện báo cho con nhé, hôm nào được nghỉ học con về thăm mẹ!” Đứng nhìn theo chiếc xe khách khuất bóng vào dòng người tấp nập, cơn gió heo may se sẽ len lỏi vào lòng.





