TCCV Online - Hàng năm, vào khoảng giữa tháng sáu dương lịch Minh Hạnh lại về thăm quê. Đó là lúc tiết hạ đã vào giữa mùa, những cây phượng ở ngã ba đường vẫn nở bung những chùm hoa đỏ rực một góc trời, tiếng ve vẫn rền rã như không hề dứt trên những ngọn cây ven đường. Nắng tháng sáu vẫn chói chang, nhức mắt. Năm nay, ngay từ đầu mùa hạ đã có những đợt nắng nóng dữ dội, kéo dài, có ngày nhiệt độ lên đến 39, 40 độ c. Đã thế, trong mọi ngóc ngách của cái thị trấn nhỏ ven biển này suốt cả tháng qua cứ chộn rộn cả lên về tình hình bất ổn ở biển đông, khiến cho cái nóng càng nóng thêm. Nắng nóng, rồi tình hình ngư trường vậy nhưng vẫn không cản được bước chân của người ngư dân nơi xứ sở gió Lào cát trắng. Người ta vẫn đi lại, làm lụng. Thuyền bè vẫn tấp nập ra vào nơi cửa sông. Mọi hoạt động vẫn diễn ra bình thường như từ trước đến nay. Có cảm tưởng như người dân ở đây không mấy quan tâm đến những gì đang diễn ra xung quanh, hoặc có nhưng cũng chỉ thoáng qua chốc lát, rồi đâu lại vào đấy, nên không cần phải phân vân hay nghĩ ngợi gì nhiều. Họ chỉ biết lo làm lo ăn, tuần tự ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác một cách đều đặn, bình thường.
Thị trấn Cửa Việt là quê hương của Minh Hạnh, là nơi cô đã cất tiếng khóc chào đời, rồi lớn lên và ra đi. Bây giờ dù xa quê hương trở thành một cô giáo dạy học ở nơi xa, lấy chồng nơi xa, Minh Hạnh vẫn không thể quên được cái làng chài ven biển mà cả thời tuổi thơ cô đã gắn bó, yêu thương. Nhìn trên bản đồ thì quê hương cô chỉ là một cái dấu chấm rất mờ nhạt, ai cũng có thể dễ dàng quên đi, không có chút gì để họ phải nhớ, phải vấn vương. Nhưng với cô thì cái chấm nhạt ấy luôn đỏ hồng trong tim, luôn hiện hữu trong tâm trí, không bao giờ phai mờ cho dẫu thời gian có phủ phàng trôi qua. Minh Hạnh có được may mắn là dù xa quê cô vẫn có điều kiện để về thăm quê. Ích nhất là mỗi năm một lần vào dịp hè, còn nhiều hơn thì có thể hai, ba lần nữa vào những dịp nghỉ tết hay nghỉ lễ. Mỗi một lần nghỉ hè, thì dù bận gì, Minh Hạnh cũng sắp xếp cho được thời gian để về thăm quê hương, ba mẹ mình. Khi nhàn nhã, thư thái thì cả chồng con cùng về, có khi ở chán chê cả tháng trời rồi mới ra đi. Còn không thì về một mình, dù vội vội, vàng vàng đến mấy cũng nán lại cho được năm, bảy ngày rồi ra đi cũng không sao. Mỗi lần về quê, Minh Hạnh nghe các bác các chú trong làng nhắc tên người này, người kia và than thở rằng, những người ấy xa quê đã mấy chục năm rồi mà không thấy trở về. Minh Hạnh bỗng thấy thương cho những thân phận chẳng may trôi dạt nơi góc bể chân trời, một lần xa quê là không một lần trở lại. Không phải ai cũng tỏ ra hờ hững với quê hương đâu, mà bởi trăm nghìn lý do buộc họ phải đành đoạn gạt nước mắt vĩnh viễn cách xa nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Thương lắm! Bởi, dù xa quê hương, có người không có điều kiện để một lần được trở lại, hay có người chỉ năm thì mười thoảng mới gặp được dịp may trở về, thì trong lòng họ, nơi sâu kín nhất của tâm hồn, họ vẫn dành một góc nhỏ cho quê hương nguồn cội của mình. Chả trách có nhà thơ nào đó đã ví quê hương như một chùm khế ngọt kể cũng không sai chút nào. Đúng là quê hương ngọt ngào, tình sâu nghĩa nặng. Gần thì thương, xa thì nhớ. Quê hương đi vào máu thịt đời người. Quê hương ngọt từ lời ru của bà của mẹ bên vành nôi em nhỏ. Ngọt từ lũy tre, giếng nước đầu làng. Ngọt từ bờ đê, bến bãi, con trâu gặm cỏ trên đồng, con cò lặn lội mom sông. Ngọt từ mái tóc em thoảng thơm hương chanh, hương bưởi. Quê hương ngọt ngào đi suốt với đời người từ thuở oa oa cất tiếng khóc chào đời, cho đến khi xế bóng về chiều sức tàn lực kiệt, thoi thóp những hơi thở yếu ớt cuối cùng.
Minh Hạnh còn nhớ như in ngày ấy, ngày mà cô còn bé tý. Lúc ấy Cửa Việt quê cô chưa được gọi là thị trấn như bây giờ. Mà đó chỉ là một cái làng nhỏ, nằm trong một cái xã nhỏ thưa thớt dân cư, quanh năm đói nghèo, vất vưởng. Làng cô người ta gọi là làng chài vì gần như tất cả mọi gia đình ở đây đều làm nghề biển. Số còn lại rất ít thì buôn bán, mà buôn bán chủ yếu là cá do chính người làng mình làm ra. Quê cô không có đất ruộng như những nơi khác, mà chỉ là những trảng cát dài quanh năm trơ trọi. Vào mùa hạ, nắng ở đây cứ chang chang đến lóa mắt. Và gió thì liên hồi kỳ trận như không lúc nào ngưng nghỉ. Mỗi lần gió thổi qua là cát lại cuồn cuộn bay lên không trung. Cát phủ kín tất cả những gì mà nó đi qua. Nhà cửa, sân cươi, bàn ghế, giường tủ...chỗ nào cũng ram rám những cát là cát. Cây xanh trồng lên thì phải chăm sóc từng ly từng tý mới có thể sống và chống chọi nổi với cát. Từ lâu rồi cát như một nỗi khổ mà người dân ở đây phải cam chịu.
Ba Minh Hạnh cũng làm biển như bao người ngư dân khác trong làng. Còn mẹ cô thì ngày ngày nướng cá rồi gánh đi khắp các nơi, bán được thì bán, mà không thì đổi cá lấy gạo, hoặc khoai sắn mang về. Mỗi ngày ba Minh Hạnh thường ra biển trên một con thuyền nhỏ cùng với mấy người bà con trong họ. Đó là con thuyền đánh cá mà suốt cả mấy năm trời làm lụng vất vả ông mới dành dụm đủ số tiền để có thể sắm nổi. Thuyền nhỏ, công suất máy thấp nên không thể ra được khơi xa, mà ông và mấy người bà con chỉ quẩn quanh đánh cá ven bờ. Cá thì hôm có, hôm không, hôm được nhiều, hôm được ít. Vậy mà chẳng ngày nào ông vắng mặt trên biển. Có hôm ông thức dậy rất sớm ra biển từ lúc cả nhà còn ngủ say. Có hôm ông ở lại cả đêm trên biển. Ông chỉ ao ước có được chiếc thuyền lớn hơn để ra thật xa ngoài biển, mỗi chuyến đi phải kéo dài cả tuần mới mong đánh được nhiều cá hơn. Người ông đen sắt lại vì nắng gió. Nhưng ông có sức khỏe dẻo dai, làm mấy cũng không biết mệt là gì.
Mỗi lần thuyền ba cập bờ là mẹ lại nhanh nhanh gánh đôi quang gánh chạy ra. Mẹ đưa cá về nhà, cho than vào một cái chảo rồi nhóm lửa. Khi chảo than bén lửa, cháy đều, mẹ đặt lên đó một cái vỉ sắt và bắt đầu xếp cá lên nướng. Những con cá trích, cá lẹp bụng đầy trứng cháy xèo xèo trên lửa.Chẳng mấy chốc cả không gian đã sực nức mùi cá nướng. Mùi cá nướng bẹo ngậy, thơm lựng, lan tỏa mãi không thôi. Nướng cá xong đâu đấy, mẹ mới chất hết lên mẹt. Mỗi đầu quang có đến chục lớp mẹt cá như thế. Mẹ nói với Minh Hạnh phải xếp cá nhiều lớp như thế thì khi gánh đi, cá mới không bị dập nát. Thường thì mẹ nướng cá vào buổi sáng ngay sau khi ba từ biển trở về. Cũng có hôm ba trở về vào buổi chiều, thì sau khi nướng cá xong, mẹ phải đợi đến sáng hôm sau mới gánh cá đi bán được. Mỗi gánh cá không nặng lắm, nhưng con đường mẹ đi thì xa xôi vời vợi. Có những lần mẹ phải lên tận An Hướng, An Gia, Nam Đông, hoặc ra tận An Xá, Hải Cụ. Đó là những làng quê thuộc vùng bán sơn địa, xa biển, khan hiếm hải sản, nhưng lại thừa khoai sắn. Chỉ có đi xa như vậy mới mong bán được cá hoặc trao đổi cá lấy những thứ mình cần. Mỗi buổi sáng mẹ ra đi khi mặt trời chưa mọc và trở về khi trời đã chạng vạng tối. Vai áo mẹ bạc trắng mồ hôi. Nhưng khuôn mặt mẹ thì tươi cười khi nhìn thấy đàn con từ trong nhà chạy ùa ra vây quanh. Đó là những năm tháng đã qua với hình ảnh về người cha người mẹ của mình một thời lam lũ làm ăn không lúc nào có thể phai mờ được trong tâm trí Minh Hạnh.
Nhà Minh Hạnh ở ngay trung tâm thị trấn Cửa Việt, sát bờ bắc sông Hiếu, con sống lớn nhất ở Quảng Trị. Sông Hiếu bắt nguồn từ Trường Sơn chảy qua Cam Lộ, Đông Hà rồi đổ về Cửa Việt giữa hai huyện Gio Linh và Triệu Phong. Cửa sông Hiếu rất rộng, nhiều lúc đứng ở bờ bên này gọi sang bờ bên kia không thể nghe được. Muốn qua lại chỉ có một phương tiện duy nhất là đi thuyền. Nhưng đó cũng là việc bất đắc dĩ khi không còn cách nào khác. Năm bước vào học trung học phổ thông, Minh Hạnh xem truyền hình, thấy đưa tin ở Vĩnh Linh vừa khởi công xây dựng một cây cầu lớn bắc qua sông Bến Hải, nối liền hai huyện Vĩnh Linh và Gio Linh. Cầu ấy được xây dựng ngay ở cửa sông tại thị trấn Cửa Tùng nên cũng có tên gọi là cầu Cửa Tùng. Sau khi cầu Cửa Tùng hoàn thành sẽ có một con đường nhựa chạy dọc theo ven biển nối Cửa Tùng với Cửa Việt. Khi ấy, muốn đi từ Cửa Việt ra Cửa Tùng, chẳng ai còn phải vòng vèo hết đường này qua đường khác như trước đây nữa. Mà cứ thẳng một đường song song ven biển với khoảng cách và thời gian được rút ngắn lại rất nhiều. Trước đây, chẳng ai nghĩ sẽ có chuyện này, nên giờ đây nghe tin ai cũng mừng. Và ai cũng ao ước giá ở Cửa Việt cũng có một cây cầu bắc qua sông Hiếu này. Ao ước thì ao ước thế thôi, chứ chẳng mấy ai tin rằng ở đây, nơi sông sâu biển rộng này lại có thể có cây cầu được. Bẵng đi mấy năm, đúng lúc Minh Hạnh nhận được giấy báo vào đại học thì cô nghe tin cầu Cửa Tùng khánh thành. Rồi chỉ một năm sau, từ thành phố nơi xa, đang học đại học, đọc báo Minh Hạnh biết tin ở quê nhà, cầu Cửa Việt đang được khởi công xây dựng. Nghe đâu, cầu Cửa Việt là cây cầu lớn nhất ở quê hương tại thời điểm ấy, nên được đầu tư tới gần 300 tỷ đồng. Một khoản vốn thật lớn lúc ấy. Rồi cầu sẽ được xây dựng thật to, thật đẹp nữa chứ! Theo như thiết kế Minh Hạnh đọc được thì chiều dài của cầu lên tới 802 mét và chiều rộng là 12 mét, đủ cho hai làn xe cơ giới thong dong qua lại. Rồi hai bên còn dành cả phần đường cho người đi bộ nữa. Thân cầu thì phải thiết kế tới 12 nhịp mới vượt qua được quãng sông rộng ấy. Rồi cầu sẽ được thi công bằng kỹ thuật công nghệ hiện đại nhất hiện nay. Rồi phải xây dựng đúng tiến độ, kế hoạch đề ra để khoảng giữa năm 2010 cầu Cửa Việt sẽ hoàn thành và được đưa vào sử dụng. Đọc mẩu tin ngắn ngủi ấy, Minh Hạnh vui mừng không sao tả xiết. Cô tự hào về quê hương mình, một vùng quê nghèo nhưng rất anh dũng trong hai cuộc kháng chiến đã được bù đắp xứng đáng. Cô mừng cho bà con cô bác ở quê nhà vì từ nay niềm mơ ước của bao người đã trở thành hiện thực.
Kỳ nghỉ hè năm ấy Minh Hạnh trở về quê khi công trình cầu Cửa Việt đang được xây dựng. Cả một công trường ngổn ngang, bề bộn những máy móc, xe cộ, sắt thép. Những chiếc cần cẩu vươn cao. Những chiếc búa máy huỳnh huỵch nâng lên lên hạ xuống. Tiếng búa nện vào trụ bê tông lan xa vang vọng trên mặt nước. Từng đoàn xe hối hả chở đất đá, vật liệu ra vào. Tiếng máy hàn ré lên từng lúc, nhì nhoằng những tia chớp còn chói chang hơn cả ánh mặt trời. Suốt ngày, từ sáng sớm tinh mơ, đến tận chiều tối cả một quãng sông từ bờ bắc sang bờ nam lúc nào cũng ồn ào, náo nhiệt. Một không khí lao động thật khẩn trương, vui tươi, rộn ràng.
Kỳ nghỉ hè năm sau, rồi năm sau nữa, khi Minh Hạnh trở về thì nhịp cầu cuối cùng của cầu Cửa Việt đã được hợp long, công trình cầu Cửa Việt đã cơ bản hoàn thành. Người công nhân đã có thể đi bộ từ bên này cầu sang bên kia cầu. Phần việc còn lại chắc cũng không còn bao lâu nữa sẽ hoàn tất. Rồi ngày ấy cũng đã đến. Sau hơn hai năm rưỡi thi công, vào sáng ngày 17 tháng 7 năm 2010, cầu Cửa Việt được chính thức khánh thành đưa vào sử dụng. Một ngày thật vui đối với người dân nơi này. Có lẽ đã lâu lắm rồi, Minh Hạnh mới lại được chứng kiến một sự kiện đông vui như thế diễn ra ngay chính trên quê hương mình. Rất nhiều cờ đỏ sao vàng được cắm lên. Rồi băng rôn, khẩu hiệu. Rồi hoa tươi. Nhưng đông vui nhất, rộn ràng nhất vẫn là những người dân ở hai bên cầu. Họ có mặt từ rất sớm và mặc cho trời lất phất mưa, họ chạy ùa ra giữa cầu cùng nhau cảm nhận cái giây phút sung sướng được đứng trên cầu Cửa Việt mà nhìn ba bề bốn bên, giữa trời mây non nước trên quê hương yêu dấu của mình. Nhiều ngày, nhiều tháng sau đó trôi qua, người ta vẫn còn cái cảm giác ngất ngây khi lần đầu tiên được đi bộ qua cầu. Cảm giác ấy cứ lắng đọng mãi, kéo dài mãi cho đến tận bây giờ. Minh Hạnh hồi ấy đang bập bõm tập làm thơ nên đã có những câu thơ về cây cầu trên quê hương mình:
Mỗi sáng em thức dậy
Thấy cây cầu quê hương
Vươn mình bên đại dương
Là lòng em sóng vỗ!
Quê em xưa nghèo khổ
Chẳng dám ước mơ xa
Nay cầu lớn bắc qua
Ấm no hơn mọi thuở.
Đi xa thì em nhớ
Ở gần thì em thương
Ôi cây cầu quê hương
Lòng em hằng thầm gọi.
Lòng em hằng muốn nói
Như với người thân yêu!
Người ngư dân Cửa Việt hôm nay không còn phải ra khơi trên những con thuyền nhỏ như xưa kia nữa, mà thay vào đó là những tàu thuyền lớn có công suất từ 300 đến 900 mã lực, với những trang bị ngư cụ khai thác cá hiện đại hơn trước rất nhiều. Cửa Việt bây giờ đã có cả một đội tàu thuyền mạnh lên đến hàng trăm chiếc như thế, nên lúc nào cũng có thể “tung hoành” làm ăn trên biển, với những ngư trường truyền thống như Hoàng Sa, Trường Sa, cùng với tàu thuyền của các tỉnh bạn trở thành những “cột mốc” chủ quyền thiêng liêng trên biển. Sản lượng khai thác cá của ngư dân Cửa Việt xưa nay luôn dẫn đầu toàn tỉnh đã mang lại nguồn thu nhập lớn cho người dân vạn chài. Hàng trăm, hàng ngàn hộ gia đình ngư dân Cửa Việt đã thoát nghèo, trở nên giàu có bắt đầu từ những chuyến ra khơi...
Đêm nay là một đêm trăng sáng. Trăng ở Cửa Việt như càng sáng hơn. Minh Hạnh cùng mấy đứa bạn hồi học phổ thông dạo bước lên cầu. Cầu thì cầu cao, sông thì sông rộng, và sát kia là biển cả mênh mông. Minh Hạnh có cảm giác như ánh trăng ở đây sáng hơn bất cứ nơi nào. Rồi gió. Gió vù vù, mát rượi. Phong cảnh trời mây, non nước nơi này sao tươi đẹp lạ lùng. Đêm nay sẽ là đêm cuối cùng được ngủ lại với biển trời quê hương trong kỳ nghỉ hè này, để rồi sáng mai Minh Hạnh lại ra đi, trở về với thành phố nơi xa. Trong vô vàn nỗi nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn của mình, mới đây Minh Hạnh lại có thêm một nỗi nhớ nữa, ấy là nỗi nhớ về cây cầu quê hương - cây cầu cong cong và đẹp như một mảnh trăng bên cửa bể...
NNC





