Vùng sơn cước phía thượng nguồn sông Bến Hải, ngày xưa là chốn rừng thiêng nước độc, heo hút, ít người tìm đến. Một vùng đất rộng mênh mông, đồi núi trập trùng, đường đi lại hiểm trở, là nơi đồng bào Vân Kiều xã Vĩnh Ô sinh sống tự bao đời, hầu như tách biệt với đồng bằng. Cuộc sống của đồng bào theo lối tự cung tự cấp với phương thức sản xuất lạc hậu đeo bám từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đây là xã miền núi, nghèo khổ nhất của huyện Vĩnh Linh. Mặc dù cách trung tâm huyện hơn năm mươi cây số theo đường chim bay nhưng hàng chục năm trước, muốn đến với xã miền núi xa xôi này phải trải qua một dặm đường vô cùng gian khổ, trắc trở, là một cuộc hành trình đầy vất vả, gian truân.
Từ thị trấn Hồ Xá, nếu người nào có việc lên Vĩnh Ô phải đi bộ, mang theo cơm nắm, mệt thì nghỉ lấy sức, thâm vào đêm mới đặt chân đến bản đầu tiên của xã. Nếu đi ô tô thì phải loại ô tô ba cầu, qua khỏi nông trường Quyết Thắng, thận trọng vượt qua một cái ngầm hẹp nhưng sâu, nước cuộn xiết, gọi là ngầm Ba Buôi. Phía trước ngầm là con đường ngoặt có vách núi cao, xe phải chậm rãi trườn từng mét vượt qua đoạn đường hiểm trở để đến xã Vĩnh Hà. Từ Vĩnh Hà, lại phải vượt qua một cái ngầm rộng như một con sông đáy lổm nhổm đá, gọi là Ngầm Đôi. Vượt qua khỏi Ngầm là chuyển sang cuộc hành trình đi bộ, không có đường dành cho ô tô lên Vĩnh Ô. Con đường đi bộ là lối mòn ngoằn ngoèo như rắn lượn thoắt ẩn thoắt hiện theo độ nhấp nhô, cong queo của núi đồi, lau lách um tùm cứa rách quần áo. Khi đến ngang đèo Lộng Gió Một phải nghỉ mới đi tiếp đến đèo Lộng Gió Hai, nghỉ ăn cơm trưa mang theo, lấy sức mới đi tiếp đến trụ sở Ủy ban nhân dân xã đóng ở bản Hai, mất đúng một ngày ròng rã. Đến Vĩnh Ô là chuyến đi phiền toái vô cùng. Thời chiến tranh, bộ đội ta đóng quân, cất giấu vũ khí, phương tiện phục vụ chiến đấu ở vùng rừng núi từ xã Vĩnh Hà lên Vĩnh Ô, phải mở đường xuyên rừng đến với đồng bào, đã đặt ra những tên đèo như thế và trở thành tên gọi quen thuộc mỗi khi lên Vĩnh Ô. Đó là những đèo nằm ở điểm cao, gió hun hút như muốn lột tung áo. Lúc trời quang đãng, từ đèo Lộng Gió Một, Lộng Gió Hai, phóng tầm mắt nhìn về thấu đồng bằng. Đồng bào Vân Kiều khi đi làm rừng thường đứng ở đèo nhìn về đồng bằng mênh mông như một bức tranh phong cảnh mà ao ước, khát khao trong tâm tưởng. Biết bao thế hệ người Vân Kiều ở Vĩnh Ô chỉ biết đồng bằng qua tầm mắt vời vợi, chưa có dịp về với miền xuôi, họ đã sống một cuộc đời lặng lẽ như cây rừng, việc giao lưu với bên ngoài cũng chỉ từ nhà lên nương rẫy và quẩn quanh ở làng bản mà thôi. Từ trung tâm xã, muốn lên bản nằm ở cuối xã thì cũng mất thêm ngót một ngày đi bộ, vượt qua núi đèo chênh vênh như sắp nghiêng xuống đầu, lối mòn có nơi hai người phải lách để tránh nhau. Ngay cán bộ của bản được Ủy ban xã triệu tập đi họp thì người ở bản xa phải đi từ chiều hôm trước mới có mặt đúng thời gian quy định vào sáng hôm sau. Mỗi bản cách nhau một con suối rộng, lưu vực hai bên suối tạo thành một thung lũng rộng lớn, nhà dân thưa thớt. Mùa mưa rét, các bản làng ở Vĩnh Ô chìm trong sương từ sáng đến tối. Người ta không phân biệt được khói bếp trong những ngôi nhà lá tỏa ra quyện với sương và vờn bay cùng mây trời quanh rừng núi. Ngọn lửa bếp trong mỗi nếp nhà sàn là người bạn quanh năm của đồng bào Vân Kiều, xóa đi sự lạnh lẽo, đơn côi. Nghe tiếng gà gáy ở đâu thì biết ở đó có nhà dân. Ai đến với miền quê xa vắng này mới thấy hết nỗi quạnh hiu không diễn tả hết bằng lời. Đã có một thời gian dài, cán bộ huyện được cử đi công tác tại Vĩnh Ô thì coi như là một chuyến đi xa, phải chuẩn bị đầy đủ tư trang và các nhu yếu phẩm, kể cả thuốc men phòng ốm đau. Cả một vùng rừng núi u tịch, là nỗi ám ảnh trong suy nghĩ của bao người. Trong khi cuộc sống, nề nếp sinh hoạt của đồng bằng đã thay đổi thì đồng bào Vân Kiều vẫn coi như không có chuyện gì đáng bận tâm. Cuộc sống của đồng bào cứ trôi qua một cách dửng dưng, bình lặng với cung cách làm ăn cũ và nếp sinh hoạt cộng đồng như đời xưa truyền lại. Đối với đồng bào, chuyện nghèo đói đã thành quen. Đó là hình ảnh của xã Vĩnh Ô ngày trước đang lui dần vào dĩ vãng…
Trong ba xã miền núi của huyện Vĩnh Linh: Vĩnh Ô, Vĩnh Khê, Vĩnh Hà thì Vĩnh Ô là địa bàn hội tụ nhiều cái nhất: Xã xa nhất, dân thưa thớt nhất, đất đai tự nhiên rộng nhất, xã nghèo đói nhất, nhiều gia đình đông con nhất. Từ năm 2000 trở về trước, một trăm phần trăm hộ đồng bào xã này thuộc diện nghèo đói thâm niên. Nghèo đói cộng với cuộc sống đơn chiếc giữa núi rừng càng làm cho con người thêm khắc khổ. Do điều kiện tự nhiên không thuận lợi nên đồng bào cũng chỉ biết âm thầm sống, không thể nghĩ được gì ngoài tìm kiếm những thứ ăn được, bán được từ rừng như: măng, nấm, các loại củ, quả, săn bắt các loại thú… và những rẫy lúa, rẫy ngô từ khai phá bằng đốt rừng mang lại. Mỗi lần cán bộ xã về huyện họp phải đi bộ trước một ngày, rất nhiêu khê. Chuyện nghèo đói của xã Vĩnh Ô bắt nguồn nguyên nhân từ hai phía: chủ quan và khách quan. Đánh giá công bằng thì nguyên nhân khách quan là quan trọng nhất. Nếu hoàn cảnh khách quan thay đổi sẽ là tiền đề làm thay đổi nguyên nhân chủ quan trong tư duy của đồng bào, tạo ra một cách nghĩ phù hợp với điều kiện mới.
Các chương trình 135, 136 của Chính phủ đã dành cho đồng bào miền núi cả nước, trong đó có xã Vĩnh Ô. Hưởng lợi từ các chương trình mục tiêu trọng điểm này, cuộc sống đồng bào có bước cải thiện dần qua mỗi năm. Các công trình thủy lợi được nhà nước đầu tư, tạo ra thói quen cho đồng bào làm lúa nước hai vụ ngay trên những vùng ruộng bỏ hoang từ lâu đời. Dự án thủy điện nhỏ được triển khai, tạo ra nguồn điện tại chỗ cho nhiều gia đình. Các chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, thông tin, trạm xá, trường mầm non, công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân… đến với đồng bào, tạo được luồng sinh khí mới. Cũng nhờ có nguồn thủy điện nhỏ tại chỗ, đồng bào được xem ti vi, bắt đầu tiếp cận với cuộc sống qua hệ thống truyền thông. Các loại giống lúa, cây con dần dần đến với đồng bào qua sự đầu tư của nhà nước. Đi liền với sự đầu tư là sự chuyển giao công nghệ được đồng bào từng bước làm quen. Nhiều nhà dân được nhà nước xây dựng, sửa chữa. Các cuộc vận động “Vì người nghèo”, “Xây dựng nhà tình nghĩa”, “nhà tình thương” hướng về các xã miền núi đặc biệt khó khăn. Vĩnh Ô cũng được ưu ái hưởng lợi từ các cuộc vận động này. Cũng nhờ ổn định ăn ở, đồng bào có cơ hội tập trung sản xuất, hộ đói giảm dần qua từng năm, nhưng hộ nghèo thì chưa thể xóa được. Cứ nhắc đến xã miền núi Vĩnh Ô thì ai cũng hiểu rằng, đây là xã nghèo nhất của huyện. Đã nghèo lại đông con nên càng nghèo thêm. Thậm chí, có đồng bào nói với cán bộ dân số huyện: “Miềng là đồng bào thiểu số, đất rộng, người thưa nên chuyện sinh đẻ chẳng cần có kế hoạch. Miền xuôi đông người thì mới thực hiện kế hoạch dân số thôi”. Và chuyện đông con lại chất thêm cái gánh nghèo nặng trĩu trên vai nhiều gia đình. Nghèo và đông con là hai vấn đề tồn tại dai dẳng như căn bệnh kinh niên ở địa phương này. Con cái của đồng bào cứ lớn lên trong thiếu thốn, áo quần không đủ mặc, chúng vô tư tắm mình trong nắng gió, cùng với bố mẹ lên rẫy mỗi ngày… Những đặc sản kiếm chác được như măng, nấm, mây, đót, săn bắn được thú rừng, muốn bán hoặc trao đổi hàng hóa thì đồng bào phải đi bộ về tận xã Vĩnh Hà, nông trường Quyết Thắng mới có người mua sĩ đem về tiêu thụ tại miền xuôi. Không có đường giao thông thì không thể nói đến chuyện giao thương phát triển, đừng mơ đến chuyện thoát nghèo. Nhưng tiền của bỏ ra làm đường không hề nhỏ. Để có con đường, phải mở rộng những vách đá cheo leo, san bằng những ngọn đồi sừng sững án ngữ muôn đời như thách thức với con người… Một lực lượng phương tiện xe, máy đầu tư cho làm đường rất lớn. Chính đó là việc các cấp chính quyền nhìn thấy và tìm cách đầu tư xây dựng con đường lên Vĩnh Ô. Mặt khác, đường lên Vĩnh Ô cũng là con đường chiến lược phục vụ Quốc phòng lâu dài. Chuyện con đường làm thay đổi diện mạo một vùng đất là vô cùng cần thiết. Biết đấy, nhưng đâu phải chuyện ngày một ngày hai là trở thành hiện thực được ngay? Rồi chuyện điện sáng cũng rất cần thiết với người dân...
Từ năm 2007, dự án xây dựng điện lưới lên xã Vĩnh Ô được khởi động và chính thức thi công, thay thế thủy điện nhỏ đặt ở các dòng suối. Bản làng có điện, đồng bào sung sướng không tả xiết. Chốn rừng núi tĩnh mịch bao đời bỗng dưng sáng bừng lên làm thay đổi nếp nghĩ, nếp sinh hoạt trong mỗi gia đình. Bao đời nay, chuyện Vĩnh Ô có điện lưới quốc gia như là hoang tưởng? Với đồng bào thì đây là một điều kỳ diệu. Nhưng, lại thêm một bất ngờ kỳ diệu khác. Ngay từ khi xây dựng hệ thống điện lưới, từ năm 2007 - 2008, nhà nước tiếp tục có dự án đầu tư xây dựng con đường nhựa nối từ Quốc lộ 1A ngang qua thị trấn Hồ Xá lên tận bản Hai xã Vĩnh Ô. Đến năm 2010, con đường hoàn thành. Có đường thông suốt về trung tâm huyện, đồng bào bắt đầu tiếp cận với nền cơ chế thị trường, tiếp cận với cách làm ăn, nếp sinh hoạt của đồng bào miền xuôi. Hàng hóa từ đồng bằng được chuyển lên tận xã, rồi tỏa về các bản. Với đồng bào, cái gì mắt thấy tai nghe họ mới tin. Từ khi có điện, rồi tiếp theo có đường giao thông thuận lợi, cuộc sống của đồng bào bắt đầu khởi sắc. Với đồng bào Vĩnh Ô, đây là một bước ngoặt lớn lao như một giấc mơ thần kỳ. Khi con đường lên đến trung tâm xã, đồng bào các bản xa nhất cũng lũ lượt kéo về xem và hân hoan. Họ reo lên, cười nói không ngớt. Ai được chứng kiến niềm vui của đồng bào Vân Kiều cũng xúc động. Họ bày tỏ tấm lòng biết ơn Đảng, Nhà nước bằng những biểu cảm khó tả. Nhiều nhà sắm xe máy, về thị trấn Hồ Xá mua hàng lên làm dịch vụ cho bà con. Chuyện kinh doanh đã hé mở trong ý nghĩ của nhiều hộ. Từ khi có con đường nhựa độc đạo này, người kinh xuôi ngược lên Vĩnh Ô ngày càng nhiều. Từ Hồ Xá lên Vĩnh Ô chỉ mất hai giờ đồng hồ đi xe máy, ai có việc gấp thì cả đi lẫn về chỉ trong một buổi. Đến Vĩnh Ô hôm nay, mọi người sẽ chứng kiến dịch vụ được mở ra tại nhà dân, hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của đồng bào. Hầu như ở đồng bằng có hàng hóa gì thì ở đây đều có. Những đặc sản từ rừng được bày bán tại chỗ, người các nơi đến mua và đem về đồng bằng tiêu thụ trong ngày. Những nhà có xe máy thì mang hàng về các chợ ở đồng bằng để bán. Giao thông là cánh cửa mở ra sự thay đổi về giao thương, phát triển kinh tế, làm thay đổi tầm nhìn của đồng bào. Đã qua rồi một thuở mà câu thơ như dấu lặng của khúc nhạc trầm, nghe não cả lòng: Bốn bề mây núi chập chùng/ Sớm chiều lầm lũi rẫy rừng quạnh hiu…
Nhà nước đã có hướng tiếp tục đầu tư xây dựng đường giao thông đến tận bản xa nhất trong tương lai. Để thực hiện được ước mơ ấy, phải bỏ ra một khoản tiền vô cùng lớn mới có được từng cây số đường ở xã miền núi có nhiều suối sâu và hiểm trở, những thung lũng rộng như những cái vực khổng lồ, đồi núi trập trùng che chắn. Đường đến các bản phải xây dựng cầu treo bắc qua suối và nối liền các vách núi. Kinh phí đầu tư làm đường phải chia ra nhiều thời kỳ. Đến nay, nhà nước đã xây dựng thêm cầu treo bắc qua suối lên bản Ba. Có nghĩa rằng, tất cả các bản trong thời gian không xa sẽ có đường giao thông đi lại thuận lợi. Đồng bào Vân Kiều được chứng kiến thực tế điện - đường hiển diện trên bản làng nên rất tin tưởng điều đó.
Huyện Vĩnh Linh luôn luôn trăn trở: “Phải tập trung xóa nghèo cho đồng bào miền núi, rút ngắn dần khoảng cách giữa miền ngược với miền xuôi”. Ngoài việc Trung ương, tỉnh chăm lo các chương trình mục tiêu lớn, Đại hội Đảng bộ huyện Vĩnh Linh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2010 - 2015 đã đưa vấn đề xóa nghèo bền vững cho ba xã miền núi, trở thành một trong ba chương trình trọng tâm toàn khóa. Lần đầu tiên, Đảng bộ huyện có một chương trình hành động cụ thể dành riêng cho đồng bào Vân Kiều. Để thực hiện được chương trình trọng tâm này, đòi hỏi phải rà soát rất kỹ tất cả ba xã miền núi trên nhiều lĩnh vực hoạt động để đầu tư đúng, có trọng điểm, trước mắt là đầu tư phát triển kinh tế nông nghiệp và vấn đề xã hội đối với những bản quá khó khăn. Thực hiện Nghị quyết của Đảng bộ huyện, ngày 5 tháng 7 năm 2012, Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Linh đã ban hành Quyết định phê duyệt đề án phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo bền vững cho 11 bản khó khăn nhất ở ba xã miền núi, trong đó Vĩnh Ô có tất cả 8 bản đều được xếp vào trọng điểm đầu tư. Huyện thành lập 11 nhóm hỗ trợ cho 11 bản. Cũng là đồng bào Vân Kiều nhưng mỗi xã là một bức tranh có sắc thái riêng. Nếp sinh hoạt cộng đồng cũng theo đó mà có phong cách khác nhau, rất đa dạng. Đồng bào cần thứ gì sẽ đầu tư thứ đó một cách thiết thực. Rút kinh nghiệm qua những lần hỗ trợ mang tính thời vụ nhỏ lẻ trước đây, Ban quản lý đề án của huyện theo dõi, kiểm tra kết quả sau từng đợt đầu tư để rút kinh nghiệm cho sự hỗ trợ tiếp theo. Các nhóm hỗ trợ trực tiếp hướng dẫn kỹ thuật, cùng tham gia từng phần việc đầu tư, để mang lại hiệu quả cao nhất.
Khi chưa có điện và đường giao thông thì hộ nghèo đi liền với đói, nhất là vào mỗi kỳ giáp hạt. Đến năm 2010, Vĩnh Ô có gần một trăm phần trăm hộ nghèo. Bước đầu tiên mà các nhóm hỗ trợ của huyện thực hiện là tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức cho đồng bào về xây dựng cuộc sống ổn định, triển khai Đề án về công tác giảm nghèo, tập trung phát triển kinh tế nông nghiệp từ trồng trọt, chăn nuôi gia súc, gia cầm, trồng cây lâm nghiệp, cây công nghiệp, chuyển giao khoa học kỹ thuật bằng công nghệ mới. Nói đến chuyện xóa nghèo, đồng bào rất phấn khởi. Với đồng bào, đây là chuyện rất mới mà họ chưa hề nghĩ tới. Các nhóm hỗ trợ và các xã vùng đồng bằng cùng phối hợp vào cuộc khẩn trương, liên tục, đã tạo cho đồng bào có những nhận thức khác hẳn trước đây. Theo yêu cầu của mỗi bản, các nhóm hỗ trợ đồng bào các loại cây con phù hợp địa hình như: dê, lợn giống, bò giống, gia cầm, các loại cây trồng như: cao su, bơ, thanh long, chuối, cây lâm nghiệp, măng bát độ, giống lúa năng suất cao... Các nhóm còn hỗ trợ phân bón, xây dựng chuồng trại chăn nuôi, xây dựng cơ sở hạ tầng phúc lợi, xây dựng hệ thống nước sạch, sửa chữa lớp học mầm non, làm mới và tu sửa nhà ở cho hộ dân, xây dựng Trung tâm học tập cộng đồng, làm sân bóng chuyền, xây dựng đường điện chiếu sáng công cộng. Các nhóm công tác thuộc ngành y tế, nông nghiệp được Ban chỉ đạo phân công khám, cấp thuốc chữa bệnh, tặng quà cho đồng bào, tập huấn nâng cao sức khỏe sinh sản và phòng dịch bệnh cho nhân dân, tập huấn trồng lúa, trồng cao su, trồng rừng. Theo mong muốn của xã được nghe Đài công cộng, 8 nhóm công tác vận động cán bộ, công chức, viên chức góp tiền mua 8 cụm loa FM cấp cho 8 bản để đồng bào được nghe chương trình Phát thanh của Đài Phát thanh Truyền hình Quảng Trị, Đài Tiếng nói Việt Nam và thông tin nội bộ. Được nghe đài các cấp qua hệ thống loa công cộng cũng là chuyện mới lạ và mơ ước của đồng bào. Đến nay, xã Vĩnh Ô chưa có hệ thống Đài Phát thanh, là một thiệt thòi cho đồng bào.
Đề án khởi động từ năm 2012, đến năm 2015, huyện Vĩnh Linh đã đầu tư vào 3 xã miền núi gần 2 tỷ đồng bằng nhiều nguồn đóng góp từ vận động, trong đó Vĩnh Ô được ưu tiên đặc biệt. Các bản có một trăm phần trăm hộ nghèo đã được xóa. Ở Vĩnh Ô, những bản giảm nghèo nhanh như: Bản Thúc, bản Xóm Mới 1. Năm 2011 có gần một trăm phần trăm hộ nghèo, đến năm 2015, Vĩnh Ô còn chưa đầy 70% số hộ nghèo và cận nghèo. Đề án của huyện đã bước đầu làm thay đổi diện mạo bản làng. Năm 2015, huyện Vĩnh Linh rất phấn khởi trước sự kiện: 8 bản của Vĩnh Ô phát động xây dựng bản văn hóa. Đây là sự cố gắng âm thầm của đồng bào trong một thời gian dài đã thành hiện thực. Bản làng bây giờ đã khác trước, đổi thay từ kinh tế, văn hóa, nếp sinh hoạt đến tư duy của đồng bào. Nụ cười của dân bản rạng rỡ trước những khởi sắc của quê hương. Từ khi đề án của huyện bước đầu mang lại hiệu quả, nhiều đồng bào đã có chung cảm nhận: “Chưa bao giờ huyện ra quân giúp bà con thiết thực như lần này. Nhà nào cũng được đầu tư theo mong muốn, mừng lắm…”. Riêng các nhóm hỗ trợ thì cảm thấy sự đầu tư cho đồng bào chưa nhiều, chưa đáp ứng cơ bản nguyện vọng của địa phương. Bí thư Đảng ủy xã Hồ Trường tiếp cận các nhóm hỗ trợ, lúc nào cũng hiện rõ niềm vui trên gương mặt, ông nói rất thực lòng: “Đảng, Nhà nước, cán bộ và nhân dân trong huyện dành cho Vĩnh Ô nhiều rồi. Đồng bào miền xuôi có nơi còn chưa giàu mà vẫn lo cho đồng bào Vân Kiều, thật cảm động không biết nói lời cảm ơn thế nào cho xứng đáng…”. Theo Bí thư Hồ Trường, đồng bào Vĩnh Ô vẫn còn nhiều thứ cần hỗ trợ, nhưng không dám đòi hỏi, chỉ biết bảo nhau chăm lo làm ăn để không phụ lòng với Đảng và Nhà nước. Những thứ dân cần hỗ trợ như Bí thư Hồ Trường nói là: Các công trình phúc lợi, đường giao thông liên bản, các loại cây, con, hệ thống thông tin truyền thông từ xã về tận người dân, các công trình thủy lợi đã bị hư hỏng… Đề án của huyện về xóa nghèo bền vững cho Vĩnh Ô cũng như các xã miền núi còn phải kiên trì, liên tục, không thể dừng lại giữa chừng. Đại hội Đảng bộ huyện Vĩnh Linh nhiệm kỳ 2015 – 2020 vẫn tiếp tục duy trì và nâng cao hiệu quả đề án này. Huyện Vĩnh Linh đang dành nhiều sự chăm lo cho đồng bào miền núi, phấn đấu đến năm 2020, các xã miền núi phải đạt từ 10 đến 13 trong 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới. Quyết tâm ấy của huyện Vĩnh Linh là thể hiện ý chí của toàn Đảng toàn dân hướng về đồng bào Vân Kiều. Từ chỗ nghèo đói triền miên, được sự quan tâm trực tiếp của huyện, đồng bào vượt qua, ổn định cuộc sống như bây giờ là một kỳ tích. Đó là chưa nói đến chuyện đồng bào đã thay đổi được tư duy làm ăn để cuộc sống ngày càng khá lên, rồi sẽ xuất hiện hộ khá để làm tiền đề cho hàng loạt hộ vươn lên thoát nghèo là chuyện có thật. Tiềm năng của Vĩnh Ô đang còn tiềm ẩn, chưa được đánh thức hết. Cả một vùng rừng núi mênh mông đang chờ bàn tay và trí tuệ của người dân. Rừng vàng sẽ trả lại cho đồng bào Vân Kiều những gì mà họ khao khát tự bao đời.
Đến Vĩnh Ô hôm nay, mọi người ngỡ ngàng trước đổi thay trên từng bản làng. Đồng bào đã nói đến nền kinh tế thị trường, đã ấp ủ những ước mơ làm ra hàng hóa từ cây cao su, cây lâm nghiệp, chăn nuôi gia súc, dịch vụ… bằng những dự định làm ăn vượt ra khỏi tầm suy nghĩ bó hẹp ngày trước. Sự đoàn kết cộng đồng đang được đồng bào vun đắp thêm bền chặt. Miền sơn cước đang hối hả chuyển mình để từng bước hội nhập với miền xuôi. Những âm thanh của lễ hội cồng chiêng truyền thống mừng lúa mới, mừng đổi thay của quê hương, mừng Đảng mừng xuân lại ngân lên, vang vọng, như bản nhạc của núi rừng, sông suối hòa vào nỗi lòng rạo rực của đồng bào, vấn vương trên những sợi khói lam chiều trộn với mây xanh quấn quýt bản làng. Tương lai không xa khi Vĩnh Ô có đường ô tô thông thương từ đầu xã đến cuối xã thì vùng đất này sẽ là điểm du lịch mới lạ và hấp dẫn mời gọi khách gần xa. Vĩnh Ô có những quần thể núi đá vôi, nhiều hang động hoang sơ, chưa được khai thác, sẽ đặt ra cho các nhà khoa học tiếp tục khám phá để làm phong phú thêm cho ngành du lịch Quảng Trị. Bức tranh về một địa danh ở thượng nguồn sông Bến Hải đã và đang hiện lên những sắc màu tươi đẹp theo thời gian, bừng sáng một góc trời miền Tây huyện Vĩnh Linh…
L.N.H





