Về rừng lần này nó khác xa với những lần trước. Đa phần trong đời tôi lên rừng xuống biển là đi vì đam mê, đôi lúc đi để trốn cái cảnh đất chật người đông nơi phố thị. Cứ chiều chiều ngồi ở phố trông xe chạy ùn ùn là tôi lại nhăn mặt, chẳng lẽ cả đời mình cứ ngồi ngóng ở nơi đây? Những lúc như thế tôi nhớ rừng da diết lắm! Thèm một tiếng chim kêu, thèm ô cửa ở ngôi nhà sàn nhìn ra những ngọn đồi bạt ngàn lau lách. Tôi rất thích ngắm hoa lau, mùa này hoa lau đã nở khắp trên những ngọn đồi, hoa lau tràn hai bên lối đi. Hoa lau trắng nở đầy, hoa lau đỏ phun màu hồng tía. Trên cánh rừng những ngày chớm đông của xã Pa Nang (huyện Đakrông - tỉnh Quảng Trị) ngập tràn hoa lau nở. Những địa danh nơi đây nó đã quen thuộc với tôi: Cầu Đá Đỏ, Dốc Bưởi, Tà Mên, Tà Rẹc, Trầm, Cóc và Ala. Bản Đá Bàn nằm ở vị trí hơi biệt lập, từ Cầu treo Đakrông vào tận Đá Bàn hơn 20km đường rừng. Nơi đây kẻ sĩ đến nhiều, người lang thang cũng lắm, nhà báo thì mòn chân còn nhà thơ... thì ở phố ngửi men của rừng. Nói như thế chắc động lòng nhà thơ lắm! Nhưng đó là câu nói thực lòng. Thi sĩ ở phố nhắc bạn tâm giao mang về cho vài can rượu. Chiều chiều ngồi quán ven sông thả hồn về rừng làm thơ. Thơ có đủ men nồng lá úa, có tiếng chim với cả... tiếng vượn. Bởi thế khen cho cái tài của thi sĩ, những người cầm bút vẽ mộng mây bay.
Người ta nhắc đến Pa Nang, thậm chí nhắc đến huyện Đakrông mà không điểm danh thôn Đá Bàn thì đó là một thiếu sót lớn. Cái lý do người người nhắc đến Đá Bàn là ở đây có loại rượu làm bằng men lá. Mặc dù chưa được chứng nhận bản quyền nhưng từ
Sáng sớm, từ km7 của Đường Hồ Chí Minh đoạn từ Cầu treo Đakrông đi A Bung, A Lưới. Nhìn về hướng
Bản Đá Bàn nằm giữa thung lũng với bốn bề rừng núi. Buổi sáng chín giờ con nắng mới lên tới nơi đây. Tôi ngơ ngác nhìn và nhiều người bản đáp trả tôi cũng bằng ánh mắt đó. Sự im lặng, ngỡ ngàng khi có một người khách lỉnh kỉnh đủ thứ trên xe như tôi. Sự im lặng được phá vỡ khi tôi hỏi đến rượu. Một thanh niên ở bản vẫy tay về phía tôi “muốn uống rượu thì lên đây...”. Tất nhiên là tôi cảm ơn và bước lên nhà sàn. Và ở đó có hơn mười người già trẻ trong bản. Người đồng bào
Đừng nuôi hy vọng tìm được bí quyết chế tạo loại men lá độc nhất vô nhị trên núi rừng Trường Sơn. Cái đó còn khó hơn việc Trọng Thủy đánh cắp nỏ thần của An Dương Vương đấy. Miền rừng Quảng Trị nổi tiếng bởi các loại rượu của đồng bào: Từ rượu Pa Tầng, A Dơi cho đến rượu Pa Nang. Trong số đó rượu men lá của Đá Bàn Pa Nang giành lấy ngôi hậu vậy. Nàng có hương thơm nồng nàn, trong những cuộc vui nàng không hề làm đau đầu các chàng quân tử. Tôi đã nâng chén rượu men lá Đá Bàn lên mũi. Hương thơm ấy nồng nàn quyến rũ. Trông rượu trong veo như nước sông Pa Nang giữa những ngày thu mà hương thơm mỗi lúc khiến tôi không thể nào cưỡng lại. Nhấp một ngụm, rồi hai ngụm… đấy không phải là vị ngọt của đường, rõ ràng là rất bóng bẩy nhưng rượu ngọt đi vào cuống họng như âm thanh tình ái. Để tạo nên một sản phẩm rượu được mọi người biết đến, theo ông Hồ Văn, trưởng thôn Đá Bàn “đó là bí quyết làm men lá. Muốn làm loại men lá này phải có trên 17 loại rễ, lá các loại”. Hồ Văn mỉm cười, ông ấy bảo cứ cho tôi tất cả loại vật liệu ấy. Từ loại rễ ớt, củ riềng, thuốc lá, gừng cho đến bột gạo, cám... đó, ông ấy bảo tôi làm. Tôi biết ngụ ý của Hồ Văn, rằng người giữ bí quyết làm men lá ở đây chỉ có bà Hồ Thị Mom. Và mười hộ sản xuất rượu men lá nơi đây cũng đều nhờ nguồn men lá từ bà Mom vậy. Đấy là cái bí ẩn của núi rừng Trường Sơn, đôi lúc những thứ rất giản đơn chỉ có một người biết thì nó cũng trở nên bí ẩn. Men lá, men của rừng, là tình say! Tối hôm đó, ánh trăng chan lên miền sơn cước. Và tiếng sáo vi vu của chàng thanh niên ở bản khiến tôi không khỏi bận lòng. Sau mới biết người thanh niên này vừa chia tay người mình yêu. Tôi không hỏi, rót thêm chén rượu men lá trao cho anh ta. Không biết chàng trai năm xưa thất tình đến độ nào mới tìm ra loại men kỳ diệu ấy. Còn chàng thanh niên này tiếng sáo anh ta là một loại men. Giữa núi rừng, trăng vằng vặc sáng, trăng phủ đầy núi. Trong màn hơi đá mỏng tang đầu hôm ánh trăng càng trở nên diệu vợi. Tôi ngừng uống một lúc nhìn xuống dưới sàn. Ở đó có rất nhiều cô gái váy hoa thật là xinh đang thưởng thức tiếng sáo. Tình yêu kỳ lạ đến thế, người ta thương thì ở xa, rất xa còn người thương ta thì ở ngoài kia, đôi người có lẻ. Chợt tôi nghĩ đến đời mình, nó như là rượu ấy. Nồng nàn có, đắng cay có. Và bí quyết hun đúc ra tôi là cuộc tình giữa cha và mẹ. Cha tôi không uống rượu, nhưng tôi lại là đứa con sa đà nơi đất khách. Tôi có thể uống bất kỳ loại rượu nào và chưa hề bị say. Thì hôm nay, người thanh niên kia khi ngưng tiếng sáo anh ta đã cược rằng tối nay sẽ chuốc tôi say bằng loại rượu men lá. Tôi mỉm cười. Tôi đã say. Từ khi nghe người ta nhắc đến rượu men lá Đá Bàn trên sách báo tôi đã say rồi. Và hôm nay, ngồi tại chính nơi làm ra loại rượu nổi tiếng một vùng. Trong ánh trăng thanh, trong tiếng sáo ray rứt, trong men rượu nồng nàn ấy thì tôi đã thực sự say. Chúng tôi, gồm rất nhiều người tôi không thể nhớ tên. Nhưng nếu có lần gặp lại tôi sẽ nhớ về khuôn mặt của họ, tôi sẽ nhớ cái cách uống rượu rất rừng. Trong tiếng sáo là điệu Tà Oải day dứt, những khúc hát về tình yêu của người Vân Kiều len lỏi giữa những cơn gió, giữa tiếng sáo. Lạ thế! Có thêm món này thì núi rừng càng thênh thang, càng da diết và ánh trăng khó lắm mới nhường chỗ cho ánh mặt trời. Khuya, tiếng hát ấy càng trở nên day dứt. Điệu Tà Oải là tiếng gọi tình yêu, bài buồn nhiều hơn bài vui. Khúc ai oán nhiều hơn lời yêu ngập ngừng bày tỏ. Đó cũng là khúc oán tình. Bài nào cất lên cũng nghe buồn da diết thế. Bà Mom mang thêm cho chúng tôi can rượu. Bên ánh lửa bập bùng, giữa trời đất mênh mông và tiếng hát như chừng sắp phá vỡ lồng ngực chật hẹp. Hồ Văn thì thào với tôi. Rằng làm men lá phải trải qua đủ thứ lễ và sự kiêng kỵ. Mỗi lần lấy rễ làm men đều phải có lễ gà cúng xin Yàng. Ở đây, lấy cái cây, ngọn cỏ làm những việc hệ trọng đều xin Yàng đấy. Yàng có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống đồng bào
Rượu men lá Đá Bàn đã trở nên rất nổi tiếng ở Quảng Trị và các vùng miền Bắc. Nhưng, bao nhiêu năm ấy để đăng ký một thương hiệu cho tập thể sản xuất không mấy dễ dàng. Ông Nguyễn Trang Quyền, Phó Phòng Kinh tế Hạ tầng huyện Đakrông, người có nhiều tâm huyết và trách nhiệm trong việc đang làm là đăng ký thương hiệu cho rượu men lá Đá Bàn có rất nhiều trăn trở: “Tôi mong muốn rượu men lá Đá Bàn sớm được công nhận thương hiệu. Hành trình này còn khá nhiều khó khăn. Người dân nấu rượu không có vốn phải nhờ hỗ trợ từ phía chính quyền địa phương. Những năm gần đây chúng tôi đã thành lập được tổ nhóm gồm sáu hộ gia đình chuyên sản xuất và kinh doanh rượu men lá. Năm 2014, Ủy ban nhân dân huyện đã chỉ đạo phát triển mạnh rượu men lá Đá Bàn, nhất là đối với quy hoạch vùng men lá, đến nay đã trồng được trên hai ha nguồn nguyên liệu men lá. Đặc biệt huyện đã chú trọng phát triển các loại cây quý hiếm để làm men lá. Huyện cũng đã hỗ trợ nguyên vật liệu, dụng cụ nấu rượu cho các hộ dân nấu rượu men lá ở Đá Bàn”.
Hành trình đưa sản phẩm của “anh chàng thất tình” này đến với thị trường vẫn còn xa lắm! Mới đây, Ủy ban nhân dân huyện Đakrông đã có Tờ trình số 116/TTr-UBND, ngày 26 tháng 10 năm 2015 trình Ban Thường vụ Huyện ủy Đakrông về việc xin chủ trương cho phép thành lập Hội Sản xuất và Kinh doanh rượu men lá Pa Nang. Con đường đưa rượu men lá Pa Nang ra thị trường dưới hình thức của một thương hiệu được chứng nhận bản quyền đang ở phía trước. Người nấu rượu men lá ở Đá Bàn vẫn lặng lẽ làm công việc của mình. Theo tâm sự của ông Hồ Văn Hòa - Bí thư Chi bộ thôn Đá Bàn thì rượu men lá Đá Bàn không đủ để bán, đến dịp tết lại càng khan hiếm. Ai muốn mua phải đặt trước. Người nấu rượu phải nấu cật lực mới đáp ứng được nhu cầu của khách hàng trong tỉnh.
Đêm dần về khuya bên tiếng sáo, bên điệu Tà Oải chếnh choáng men nồng. Tôi chợt nao lòng bởi tiếng gà rừng gáy sau 11 giờ đêm. Tôi càng chột dạ hơn vì tôi nghĩ rằng, chính chú gà trống ấy sẽ cất tiếng gáy lúc trời về sáng. Ban mai rừng sẽ xua đi lớp sương khói mỏng tang. Và tôi phải rời xa nơi này. Xa cái khoảng rừng trăng sáng mênh mông và tiếng sáo cất lên như tiếng lòng của người nhớ người trong muôn vàn cách trở. Tôi đã thú nhận là tôi đã say trên miền sơn cước này. Tôi đã thất tình với rừng xanh và tôi trở thành gã ngẩn ngơ lúc trở về đồng bằng. Pa Nang không chỉ có rượu men lá. Ở đây còn có men của rừng. Tôi đã ngẩn ngơ đứng nhìn rừng núi cho tới lúc trời chuyển dần về sáng. Anh chàng thổi sáo tiêu gác sáo lên sàn rồi không ngần ngại hỏi tôi:
- Anh đang nhớ ai đúng không? Người đó từng ở đây đúng không?
Tôi đã không trả lời câu hỏi đó. Tiếng gà gáy sáng đã đưa tôi ra khỏi những ảo ảnh vây bủa của rừng. Bà Mom lận vào tay tôi chai rượu như một món quà ở vùng sâu. Tôi biết đã đến lúc nói lời từ biệt.
H.H.L





