TCCV Online - Từ bao đời, người dân tộc Vân Kiều, Pa Kô không hề biết đến họ, mỗi người đều chỉ có một cái tên riêng mà thôi. Và họ cũng thấy bình thường như thể Giàng (trời) sinh ra vốn thế. Cho đến một ngày…
Vùng cao mang họ Bác Hồ
Năm 1946, từ chiến khu, Bác Hồ cử cán bộ vào Nam thay mặt Người thăm hỏi đồng bào vùng cao Quảng Trị và gửi tặng bà con Vân Kiều, Pa Kô những tấm hình của Bác. Không những thế, Bác còn tặng áo lụa đẹp cho những người già đã sống trên chín mươi tuổi. Đồng bào Vân Kiều, Pa Kô cảm động vô vàn.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công ít lâu thì diễn ra sự kiện trọng đạCuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa năm 1946. Cán bộ làm công tác bầu cử khi ghi danh cử tri đã hỏi đồng bào vùng cao Quảng Trị họ gì? Nhiều người ngơ ngác. Từ thuở khai thiên lập địa, cha sinh mẹ đẻ ai nào có biết họ là gì, nay nghe hỏi vậy không khỏi bất ngờ và lúng túng. Bỗng có người đề nghị: đồng bào vùng cao không có họ, nay mọi người xin lấy họ của Bác Hồ làm họ của mình. Tất cả mọi người đồng thanh hưởng ứng. Từ đó, người Vân Kiều, Pa Kô tự hào mình là người thân, là con cháu Bác Hồ.
Đến năm 1957, khi biết tin Bác Hồ kính yêu vào thăm tỉnh Quảng Bình, đồng bào dân tộc vùng cao Quảng Trị sống ở đặc khu Vĩnh Linh liền cử ông Hồ Ray ra xin gặp Người. Ông Hồ Ray đề đạt nguyện vọng với Bác, xin cho đồng bào Vân Kiều, Pa Kô được mang họ Hồ. Bác vui vẻ đồng ý.Tin mừng như cánh chim rừng bay hoài không mỏi, đồng bào vùng cao Quảng Trị đầu non cuối núi đều phấn khởi vô cùng. Họ tự hào khôn xiết, tổ chức hội thề coi xa gần đều là anh em kết nghĩa, vui buồn với nhau, sống chết có nhau một lòng đi theo Đảng, theo Bác Hồ làm cách mạng đến thắng lợi hoàn toàn. Lời thề sắt son ấy vẫn vẹn nguyên qua bao gian nan thử thách cho đến ngày hòa bình, thống nhất và đến hôm nay. Đúng như lời một bài hát của nhạc sĩ Huy Thục trong bài ca “Rừng xanh vang tiếng Ta Lư”: “Người Vân Kiều có tấm lòng trong trắng, như đóa hoa xinh đẹp giữa rừng. Bão tố cây rung mà lòng không lay...”.
Tôi nhớ lần gặp bà mẹ vùng cao Hướng Hóa Hồ Thị Đá, một phụ nữ được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Chồng con của bà đều đã anh dũng hy sinh vì chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Do gan dạ, mưu trí, lập được nhiều chiến công trong kháng chiến chống Mỹ xâm lược, bà là một trong những người con miền Nam ra thăm miền Bắc trong những tháng ngày ác liệt nhất. Vinh dự hơn, bà còn được gặp Bác Hồ. Trong cuộc gặp gỡ vô cùng đáng nhớ này, Bác Hồ đã căn dặn cô gái vùng cao Quảng Trị, về lại miền Nam phải kiên cường, bền bỉ đấu tranh để thống nhất nước nhà. Mẹ Đá còn được Bác tặng một chiếc gương để soi mình giữ vững khí tiết trong cuộc chiến cam go một mất một còn; một hộp diêm Thống nhất để nhắc nhở đồng bào các dân tộc phải chiến đấu ngoan cường thì Bắc-Nam mới sum họp một nhà. Đặc biệt hơn, Bác đã tự mình đặt tên mới cho bà là Hồ Thị Đá, ngụ ý tinh thần dũng cảm phải cứng như đá núi. Vậy là cả họ và tên của bà đều được nhận từ vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Những kỷ niệm và kỷ vật thiêng liêng được mẹ Đá nâng niu gìn giữ qua những tháng năm sự sống chết chỉ còn trong gang tấc. Những khi gặp gian lao, nguy hiểm, bà lại tự nhủ lòng phải sống xứng đáng với họ tên của Bác Hồ đã ưu ái tặng cho. Nhắc lại một thời không thể nào quên, giọng mẹ Đá vẫn còn bồi hồi xúc động. Đó là cả tấm lòng của đồng bào vùng cao hướng đến Bác Hồ.
Ngày mới vùng cao
Đi lên vùng cao Quảng Trị hôm nay, nhiều người sẽ nhận thấy bức tranh thay đổi ở miền núi. Lối sống du canh, du cư đốt rừng làm rẫy đã không còn là nỗi ám ảnh truyền kiếp của người dân nơi đây; trồng ruộng nước mỗi năm hai vụ, xóa đói giảm nghèo từ việc an cư lạc nghiêp, từ chăn nuôi và trồng rừng; đau ốm không còn mê tín chỉ tin vào thầy mo cúng bái mà biết tìm đến thầy thuốc, đến bộ đội biên phòng; đồng bào đã biết quý trọng hơn cái chữ Bác Hồ nên chăm lo hơn cho con trẻ đến trường. Đương nhiên chuyện khó khăn của vùng cao vẫn là câu chuyện thời sự và dài kỳ, không dễ giải quyết trong ngày một ngày hai, nhất là lối tư duy lạc hậu, nhận thức trì trệ vẫn còn đeo đẳng nhiều nơi. Nhưng dù vậy vẫn phải thừa nhận một sự thật là vùng cao đã có nhiều sự thay đổi đáng mừng.
Tôi có dịp trò chuyện với ông Hồ Văn Cùm ở xã Mò Ó, huyện Đakrông, ông cho biết hai đứa con ông học đại học và cao đẳng, một đã ra trường có việc làm, một còn đang học. Nhà ông chăm chỉ trồng rừng và chăn nuôi, mỗi năm thu nhập khoảng năm chục triệu cũng là chuyện nhiều người làm được và còn làm hơn thế. Được biết Mò Ó là một trong tám xã của tỉnh Quảng Trị thí điểm xây dựng nông thôn mới. Cũng cần nói thêm Đakrông là một trong sáu mươi hai huyện nghèo nhất nước ta. Vùng cao khó khăn còn nhiều như lá rừng, chuyện này ai cũng biết. Nhưng muốn đi lên không thể thiếu những tấm lòng, như chuyện nhà nước và nhân dân phải cùng chung tâm nguyện. Chuyện nghe nhiều đến độ sáo mòn, nhưng thực tế đang diễn ra luôn là điều tươi mới ngay với những gì tưởng chừng đã cũ. Thì mới đây thôi, tại xã Thuận vùng biên Hướng Hóa, ông Hồ Văn Hạnh đã hiến cho nhà nước 1.500 m2 đất để xây trường mẫu giáo, mảnh đất mà có người dưới xuôi lên trả giá năm mươi triệu, một số tiền không hề nhỏ, nhất là với đồng bào miền núi còn lắm khó khăn.
Vậy mà ông Hạnh tâm sự giản dị: “Mình mong muốn con cháu học hành biết chữ mà làm người cho tốt. Đó là tương lai của bản làng. Nhìn bọn trẻ không được đến trường, mình buồn lắm nên hiến đất xây trường, còn bán đất lấy tiền thì chỉ có mình hưởng thôi”.
Nhưng nào phải chỉ mình ông hiến đất, cả xã Thuận còn nhiều người như thế, tổng số diện tích đất đã hiến lên đến 55 ha, một con số kỷ lục cấp quốc gia. Nếu có chính sách phát triển đúng hướng, được người dân đồng thuận cao thì ắt sẽ vượt qua gian khó và thành công. Đó là bài học huyện Hướng Hóa áp dụng thành công, đạt danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới. Ông Hồ Văn Chiến ở xã Hướng Hiệp tuổi tác đã cao, cống hiến cũng nhiều, nhưng ông không chịu nghỉ ngơi mà vẫn năng nổ tham gia việc xã hội, trăn trở theo bản làng. Còn nhớ hôm trò chuyện, ông hãnh diện khoe với tôi bức ảnh chụp chung với nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh khi tiếp các già làng trưởng bản tiêu biểu. Còn trong ngôi nhà ông Hồ Văn Hùng ở xã Hướng Hiệp, thầy lang tốt bụng hay giúp người hoạn nạn cũng đã cho tôi thấy ngày mới vùng cao rạng ngời qua tâm sự.
Ông kể, giọng nói không giấu vẻ tự hào: “Tôi có bốn cháu đều đã trưởng thành, đều tốt nghiệp đại học, cao đẳng. Các con tôi một bác sĩ, một kỹ sư và hai giáo viên. Vợ chồng tôi làm ăn cố gắng hết mình, trồng mấy héc ta rừng, trồng sắn mỗi vụ cũng được năm chục triệu, nhiều bà con ở đây cũng xóa đói giảm nghèo từ cây sắn, từ rừng trồng, không ít hộ vươn lên khá giả. Chuyện phá rừng làm rẫy đã giảm nhiều. Dân họ ý thức hơn, còn phá rừng làm rẫy thì cứ mãi khổ, mãi nghèo”. Vừa nói, ông vừa đưa tôi ra thăm hồ cá bề thế, chỉ cho tôi xem việc nấu rượu cần quy mô, chuẩn bị bán tết, biến mặt hàng độc đáo của vùng cao thành thương phẩm được gần xa biết đến.
Lại nhớ đợt đi thực tế với ngân hàng chính sách huyện Đakrông, được biết bà con các dân tộc vay vốn về đã biết tính toán, lo làm ăn. Họ hoặc đầu tư vào chăn nuôi đại gia súc, hoặc mở rộng diện tích trồng rừng để thoát đói nghèo, bệnh ỷ lại, trông chờ vào nhà nước đã thuyên giảm. Anh Phan Chí Tâm, Giám đốc ngân hàng đưa số liệu chứng minh: “Ngân hàng chúng tôi cử cán bộ về đến các bản làng, cùng chính quyền cơ sở xem xét cụ thể từng đối tượng vay vốn. Ai cần vay vốn và vay để làm gì, liệu có khả thi hay không? Cán bộ ngân hàng còn tư vấn, hướng dẫn cho bà con cách thức làm ăn phù hợp để có thể trả nợ cả gốc lẫn lãi cho nhà nước”.
Tôi nhớ mãi câu nói: Tất cả bắt đầu từ giáo dục. Chia sẻ quan niệm này, thầy giáo Mai Huy Phương, Trưởng Phòng Giáo dục- Đào tạo huyện Đakrông (nay là Trưởng Phòng GD - ĐT thành phố Đông Hà) khẳng định dù khó khăn, vất vả nhưng thầy cô vẫn bám trường, bám bản để thắp sáng ngọn lửa tri thức vùng cao. Phải vượt khó mà trồng cho được “cây chữ” mới mong thoát đói nghèo. Nhìn những đứa trẻ miền núi đi bộ đến trường, vật lộn cùng gian khó mà vươn lên, chúng ta hẳn sẽ thấy ấm lòng. Thay đổi ở vùng cao, trước hết và quyết định vẫn là chuyện nguồn lực con người. Tất cả bắt đầu từ giáo dục. Nếu không được học hành, nếu không có quyết tâm sắt đá vươn lên thì làm sao hai nữ thạc sĩ đầu tiên của dân tộc Vân Kiều, Pa Kô, ấy là Hồ Thị Minh và Hồ Thị Lệ Hằng ở huyện Hướng Hóa lại có thể bảo vệ thành công luận văn của mình với kết quả xuất sắc như vậy. Đó là những cháu con Bác Hồ làm rạng danh vùng cao. Hay thầy giáo già gần bảy mươi tuổi Hồ Xuân Long vẫn miệt mài tâm huyết với việc truyền dạy chữ Bru-Vân Kiều cho đồng bào. Ông mong rằng, ngoài tiếng Kinh, đồng bào Vân Kiều cần có ngôn ngữ riêng để tạo dựng thêm một nét bản sắc riêng biệt, vì trước đây dân tộc Vân Kiều vốn không có chữ viết. Tất cả những con người ấy, bằng tâm lực của mình mong mỏi góp phần thay đổi diện mạo vùng cao.
Và như một lẽ thường tình, đồng bào Vân Kiều, Pa Kô vẫn đang hòa mình trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam để tô bồi cho quê hương, đất nước, với quyết tâm sắt đá phải kiến thiết và bảo vệ hết sức mình mẹ hiền Tổ quốc chúng ta.
P.X.D
Nguồn: Báo Quảng Trị





