Gần bốn mươi năm ở đời, tôi đón nhiều cái Tết ở những nơi khác nhau. Là hun hút gió đồng chiêm thổi về từ quê cũ, là xôn xao háo hức với những chùm pháo bông ở cố đô, hay vời vợi một chiều cuối năm ngồi một mình nơi xa lắc lơ chờ giao thừa của những năm tháng tuổi trẻ phiêu bồng… nhưng trong những cái Tết lưu lại dấu ấn khó phai lại là không gian mùa xuân bên công viên Lê Duẩn – Đông Hà những tháng năm tỉnh nhà vừa lập lại.
Đông Hà những ngày đầu lập tỉnh còn ngơ dại như cô gái nhà quê, nên đón Tết cũng đơn sơ giản dị vô cùng. Cả thị xã chỉ nhỏ nhoi một chợ hoa cuối đường Hùng Vương, ngay trước mặt nhà văn hóa tỉnh. Hoa cũng dăm ba thức quê mùa chở lên từ làng hoa An Lạc. Những bông thược dược, lưu ly, mào gà, vạn thọ nở bung như mang hết cái háo hức của nhà quê mà đón Tết. Thảng hoặc có vài chậu hồng leo có vẻ kiêu kỳ đứng một góc, như thể làm dáng riêng biệt. Vài hàng hiếm hoi cúc vàng được dân buôn chở ra từ miền
Tết những năm tuổi thơ bé của chị em tôi quanh quẩn nơi góc công viên Lê Duẩn. Đây là công trình “đồ sộ” nhất trong những năm tháng đó, được xây theo mô hình công viên Kỳ Hòa đang nổi bật ở thành phố Hồ Chí Minh. Những năm đầu 90 của thế kỷ trước, chỉ riêng một vòng xoay cao hơn 20 mét với những chiếc lồng xinh xắn lủng lẳng, ngồi trong đó từ từ lên cao có thể phóng tầm mắt quan sát trọn vẹn cả thị xã bé bỏng là một niềm háo hức với tất cả mọi người chứ không riêng gì trẻ con.
Năm đó, ba chị em tôi được ba mẹ chở xuống thả tung tăng trong khu công viên ngập tràn những tấm màn xanh đỏ của tạp kỹ lưu động tả pí lù những món giải trí. Phải nói rằng, với thế giới tuổi thơ, tấm màn xanh cũ kỹ của đoàn tạp kỹ lưu động này luôn ẩn chứa những điều kỳ diệu. Sau này lớn lên, mỗi lần bắt gặp đoàn tạp kỹ lưu diễn đâu đó trên đường, tôi lại chạnh lòng cho kiếp nghệ sĩ nghèo với những tài năng bé nhỏ phải sống cuộc đời nay đây mai đó mỏi mòn cực khổ. Nhưng khi còn bé, được đứng dưới sân khấu ngước nhìn lên, thấy gương mặt chú hề mũi đỏ má hồng vui không sao tả xiết, những cô diễn viên lộng lẫy xiêm y ca những bản vọng cổ nghe mùi mẫn điệu đà, cứ tưởng cuộc sống của họ cũng vương hầu khanh tướng. Những chú khỉ lóc cóc trên chiếc xe đạp chút chiu ngã lên ngã xuống khiến bọn trẻ con cười tít mắt. Những chú chó gâu gâu làm toán khiến lũ trẻ chúng tôi há hốc mồm. Tiếng xập xèng, dàn đèn nháy liên hồi kỳ trận như thúc giục những bước chân nhảy nhót của bọn con nít hồ hởi dưới sân nện đất khiến bụi đỏ bay mù.
Sau màn trình diễn ca múa nhạc xiếc thú tạp kỹ đủ thứ trên đời, chị em tôi lại dắt nhau qua những gian hàng lô tô. Giọng rao đặt cược của anh chàng hề đội mũ chóp nhọn vang lên lanh lảnh trong loa: Tôi kêu con cờ ra/ cờ ra con mấy/ con mấy gì đây, con mấy gì đây, lác khô đi trước, lác ướt theo sau/ hai lác gặp nhau tha hồ mà gãi là con số bảy… Bài ca kêu số của anh hề dài miên man, người đặt cược đứng chờ nín thở, người kêu số càng vòng vo dài dòng. Đến lúc dò ý người chơi không chờ nổi nữa, người kêu số hạ xuống một con ứng với vòng lô tô dừng lại, tất cả bỗng vỡ òa, người reo vui trúng thưởng, người xuýt xoa tiếc rẻ, người háo hức chờ đặt vòng mới. Tiền đặt là những tờ giấy bạc 200 đồng, 500 đồng. Phần thưởng là những lon nước Cocacola đỏ chói, thi thoảng một vài phần thưởng lớn có thêm gói mì chính hoặc cân đường, hộp sữa. Chỉ vậy thôi mà chen chúc với bao hỉ nộ ái ố cả mấy ngày trời.
Một trong những “tiết mục” không thể thiếu của những mùa Tết năm đó là chụp ảnh. Công viên Lê Duẩn hồi đó có tiệm ảnh Trung Thành lớn nhất thị xã. Thợ ảnh ở đó là chú Thành, thêm một thầy giáo dạy cấp ba Tết đến ra cầm máy chụp khách kiếm thêm thu nhập, thêm một anh trò mới học nghề thi thoảng được thầy cho cầm máy bấm chụp khách nhí. Ba chị em tôi sau khi chơi chán chê lại kéo nhau về góc nhỏ công viên, nơi dựng sẵn mấy tấm phông vẽ cành mai cùng một con giáp của năm. Cố kiễng kiễng chân, cố cười thật tươi mà vẫn múm mím che mấy cái răng sún. Những tấm ảnh được người thợ ảnh nắn nót chụp, nắn nót tô sửa giờ nhìn lại quá đỗi buồn cười khi đặt cạnh loạt ảnh thời công nghệ số, nhưng vẫn níu giữ một khoảng trời thơ dại của những cái Tết hồn nhiên mà chúng tôi gửi lại chốn quê nhà. Cũng như người thợ ảnh già năm xưa giờ giải nghệ, người thầy giáo cấp ba đã sống dư dả với nghề, cậu học trò ảnh hồi đó giờ cũng thành phóng viên đài truyền hình tỉnh. Và ba chị em nhà tôi cũng đã kịp lớn lên lấy chồng xa quê. Người ta cũng kịp gọi người chụp ảnh là nhiếp ảnh gia, nhưng trong tâm trí chúng tôi, những tấm hình thời đó vẫn chỉ được chụp bằng những người thợ ảnh. Vì thế, nó không đẹp hoàn hảo như ảnh kỹ thuật số bây giờ nhưng lại mang cả tâm hồn chân thật của một thời thơ dại.
Đông Hà của những năm cuối thể kỷ hai mươi giờ đã trở thành một thành phố trẻ trung năng động. Một lớp trẻ ở Đông Hà đã kịp lớn lên, có người đi đến những chân trời mới, có người quay về xây dựng quê hương. Mỗi người đều sẽ có thêm những ký ức đáng nhớ trong kho kỷ niệm cuộc đời mình. Nhưng với tôi, khi nhớ về niềm vui có được trong đời, tôi lại nhớ không nguôi gánh lô tô nơi công viên Lê Duẩn, nơi đã cho tôi những tiếng cười leng keng vô ưu cả một thời thơ dại với chân trần bụi đỏ lấm lem.
Đ.H





