Đã hơn một năm, tôi vẫn nhớ như in ánh bình minh nứt ra từ phía biển Triệu Vân (Triệu Phong - Quảng Trị) và ánh mắt của lão ngư Trần Khương Thiềm ở vùng biển bãi ngang này. Đêm hôm ấy, trên bãi biển cát trắng mênh mông, trong tiếng rì rào của sóng biển, lão nói với tôi “chú nhớ biển quá con à”. Tôi ngạc nhiên, vì vào lúc ấy tôi và lão ngư Thiềm vẫn ở ngay trên biển. Ở ngay biển mà nhớ biển ư? Hay lão đang nhớ về vùng biển nào đó lão từng đi qua? Không phải, lão nói. Chú nhớ chính biển quê mình. Nhìn ánh mắt của lão điều đó càng được minh chứng hơn. Đôi mắt lão, làn da lão, cánh tay lão, tóc của lão... ở đâu cũng toát lên vị muối mặn. Tôi không nói gì thêm, chỉ lặng nhìn và kiểm chứng điều lão vừa nói. Đúng là chúng ta đang đặt chân lên nơi mà mình từng đi qua thì nỗi nhớ ấy nó da diết lắm. Nhớ cái ngày trước, nhớ mặt biển ngày trước, nhớ con cá ngày trước, nhớ tuổi thanh xuân chèo thuyền vượt lên những con sóng lớn. Nhớ cả những thứ đã qua chưa tìm lại được hoặc không tìm được.
Đi mòn chân trên cát, tôi mới thấu hiểu được nỗi nhớ biển của người dân quê tôi. Thực ra, khi đặt hai từ này xuống trang giấy lòng cũng thắc thỏm không thôi. Biển đi đâu mà nhớ? Mấy hôm này người bạn già của tôi điện thoại giọng hí hửng lắm “về đi biển, chú sắm thuyền, sắm lưới rồi con ơi!”. Tôi lặng người đi, không phải ngạc nhiên mà tôi đang nuốt niềm hân hoan của lão ngư Thiềm. Lão làm gì cũng lẳng lặng như thế, mười hộ dân gom góp nhau mua con thuyền cũ và tấm lưới mới. Ngày đầu tiên đi biển, tôi theo chân người bạn già. Tôi thầm cảm ơn lão vì đã ban cho tôi đặc ân đó. Có lẽ, giữa hai chúng tôi có sợi dây vô hình, dù không nói ra vẫn hiểu được nhau qua điệu cười, ánh mắt.
Ba giờ hai mươi phút sáng, nghe tiếng lộc cộc của một số vật dụng tôi biết ngay lão ngư Thiềm chuẩn bị để đi biển “rửa thuyền, rửa lưới”. Người dân quê tôi làm việc gì cũng có chuyện “may xưa”. Tức là đi bán một món hàng ai mua đầu tiền gọi là người mua “may xưa” và lúc bán đó cũng gọi là bán “may xưa”. Cái “may xưa” này quan trọng bậc nhất trong làm ăn. Chuyến đi “rửa thuyền, rửa lưới” này để được sống cuộc sống của những người ngư dân, để tìm lại mình sau thời gian dài vắng bóng trên biển.
Ngồi chênh chao trên con thuyền, tôi nhắm hờ mắt cảm nhận cho đủ con sóng đu đưa và những âm thanh của nghề biển. Con người thường nhớ nhiều đến những thứ mình tạo ra hơn những nơi đi qua. Lúc này đây, tôi nghĩ đến vùng biển miền Trung với những bãi biển đẹp như mơ nhưng không thể mang tới cuộc sống phú quý cho những chủ nhân thực sự của nó là những người con của biển. Đa số ngư dân vẫn phải bám biển, bám tàu với cuộc sống mưu sinh gian khó. Những năm gần đây ngư dân ta vừa phải nhọc nhằn khai thác vừa phải cảnh giác cao độ với tàu lạ ngay trên chính lãnh hải của mình. Nói như ông Nguyễn Hoài Nam, Chi cục trưởng Chi cục Khai thác, bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Quảng Trị, “không như một số nước như Philippines, Nhật Bản, Hàn Quốc. Nếu tranh chấp trong khai thác giữa các ngư dân là có sự đối kháng hẳn hoi vì hai bên đều có tàu lớn. Ngư dân mình ra biển với tàu nhỏ và cũ cho nên vừa phải khai thác, vừa cảnh giới đối phương ngay chính trên lãnh hải của mình”.
Tận những ngày ấu thơ cho tới nay đã đi hơn quá một nửa đời người, tôi luôn luôn bị ám ảnh bởi những cơn bão biển. Hay nói đúng hơn, khi nhìn những người đàn bà đứng chờ chồng, chờ cha trên bãi biển là mắt tôi cay lắm. Và lúc họ tuyệt vọng gào lên khi người thân không về cũng là lúc tôi quay đi không dám nhìn lên màn hình vô tuyến. Những lúc đó tôi thầm trách biển, vì biển đã không bảo vệ được những đứa con của mình. Giá mà ngư dân có con thuyền thật lớn để cưỡi mình lên sóng biển, để có thể vi vu cùng sóng nước giữa đại dương bao la để không phải đối mặt với hiểm nguy chực chờ. Ước mơ, như ánh bình minh mỗi sớm mai hé lên mặt biển nhưng vẫn còn rất ít hộ ngư dân tiếp cận được với nó. “Chương trình Tàu 67 được hỗ trợ cho tất cả ngư dân đủ điều kiện vay vốn. Đối với vùng biển bãi ngang do tập quán, kinh nghiệm, năng lực khai thác và vốn đối ứng không có nên gặp không ít khó khăn trong việc mua sắm và đóng tàu lớn...” ông Nam chia sẻ.
Những con tàu 67 - những con tàu lớn giúp ngư dân đánh bắt xa bờ an toàn, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Nói như ông Mai Văn Minh - Phó Chủ tịch phụ trách kinh tế UBND thị trấn Cửa Việt, địa phương có nhiều lợi thế nhất trên địa bàn tỉnh Quảng Trị về khai thác nguồn lợi thủy sản: “Trên địa bàn Cửa Việt có 88 tàu lớn đánh bắt xa bờ. Đối với tàu lớn thì hiệu quả kinh tế mang lại rất cao và có thể khai thác cả những mùa biển động. Giờ mức thu nhập bình quân của ngư dân dùng tàu lớn trên địa bàn hiện nay từ 50 đến 70 triệu đồng/năm. Sau này có tàu vỏ thép nữa thì ngư dân có thể yên tâm hơn trong đánh bắt xa bờ, hiện tại địa phương có 04 tàu vỏ thép sắp được hoàn thành. Cuộc sống của người dân nơi cửa lạch đỡ hơn rất nhiều so với vùng biển bãi ngang”. Khi nghe ông Minh so sánh, tôi lại ngậm ngùi thương lão ngư già của tôi, ở vùng biển bãi ngang thôn 8 xã Triệu Vân. Trong một sớm mai, hơn ba giờ sáng cho tới bảy giờ. Mười ngư dân trên một con tàu ra biển thả lưới, kéo rớ. Đến rạng sáng ra mới cất được lượng cá bán được khoảng 200 ngàn đồng. Thử lấy số tiền 200 ngàn đồng đem chia cho 10 người, mỗi người chỉ được 20 ngàn đồng. Tôi làm phép tính tiếp cho giờ lao động ngư dân ở bãi ngang bằng cách chia tiếp hai mươi ngàn đồng cho 04 giờ lao động nặng nhọc. “Đừng chia như thế, người dân biển đi biển vì nhớ biển chớ số tiền đó không đủ để bù lại sức lực kéo lưới từ sáng sớm tinh mơ cho tới chừ, tính chi mà tính, chia chi mà chia. Nhớ biển là phải dùng phép nhân đó” lão ngư già nói chuyện với tôi cùng với tiếng cười giòn giã.
Nguồn vốn đóng tàu theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP của Chính phủ chỉ một phần rất ít ngư dân tiếp cận được do số tiền vay ngân hàng quá lớn (trên 7 tỷ đồng đối với tàu vỏ gỗ và trên 10 tỷ đồng đối với tàu vỏ thép, điều này tùy vào vốn đối ứng của ngư dân). Ông Nguyễn Hoài Nam, Chi cục trưởng Chi cục Khai thác, Bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Quảng Trị cho hay: “Đến nay đã có 09/25 chủ tàu trong danh sách theo quyết định của UBND tỉnh Quảng Trị đã được ngân hàng xem xét thẩm định hồ sơ và ký kết hợp đồng vay vốn đóng mới tàu cá theo đúng trình tự quy định, trong đó có 07 tàu vỏ thép và 02 tàu vỏ gỗ. Nhìn chung, công tác triển khai thực hiện khá thuận lợi và đạt kết quả tốt”. Ông Nam còn cho biết thêm về đời sống của ngư dân vùng biển, nhất là đời sống của người dân vùng cửa lạch ngày một khấm khá hơn và đời sống của người dân bãi ngang vẫn còn những khó khăn nếu không chuyển đổi từ khai thác sang chế biến và dịch vụ. “Ở vùng biển bãi ngang, nếu bà con sắm tàu lớn thì phải về đậu ở cửa lạch. Nếu không đủ điều kiện mua sắm tàu lớn thì phải chuyển đổi chế biến, thu mua thay cho khai thác. Điều này còn phụ thuộc vào sự mạnh dạn của bà con ngư dân...”.
Nếu đem so sánh cuộc sống của ngư dân ở cửa lạch và vùng biển bãi ngang cũng như đem so sánh hiệu quả của tàu đánh bắt xa bờ với những con thuyền nan gần bờ thì đã có sự chênh lệch quá lớn. Tôi còn nhớ như in giọng nói rổn rảng và ánh mắt đầy niềm hạnh phúc của chị Phan Thị Hòa ở Long Hà - Thị trấn Cửa Việt: “Ở Cửa Việt chừ không ai đi thuyền nhỏ nữa mô chú. Chồng chị đi đánh cá bằng tàu to tận đảo Bạch Long Vĩ vài tháng mới về. Làm nghề ở đây cũng được, nếu trúng vụ là xây nhà to, sắm xe mới à”.
Tỉnh Quảng Trị hiện có 2.284 tàu cá trong đó tàu đánh bắt xa bờ có công suất 90 CV trở lên chỉ có 190 chiếc. Con số này quá nhỏ bé so với số lượng 6.700 ngư dân đang ngày đêm vươn khơi bám biển.
Trên vùng biển Quảng Trị, chúng ta thấy giữa bạt ngàn những chiếc thuyền nan, những con tàu nhỏ bé là những con tàu lớn 67 vươn mình ra với biển. Tất cả chỉ là sự khởi đầu. Cứ xem con tàu 67 là ngày mới trong một năm mới.
Mùa xuân thì nên nghĩ đến những niềm vui, hướng tới tương lai xán lạn. Hãy nghĩ đến những ánh nắng ấm của mùa xuân để xua đi cái giá lạnh của mùa đông. Trong lúc này đây, hình ảnh tôi nhớ nhất ở vùng biển Triệu Vân là ánh bình minh bắt đầu chan xuống trên con thuyền và lan tỏa giữa mặt biển bao la với muôn trùng sóng biếc.
H.H.L





