TCCV Online - Nhớ đêm tàn đông thuở đôi mươi, tôi nằm nghe mưa tí tách trên mái ngói cũ trong nhà Cường. Những hạt mưa bắt đầu thì thầm tên ai đó, như em, như một mối tình trong tôi gầy từ gió thùy dương. Tôi nghe tiếng cựa mình của bao lộc xanh ngoài vườn đương bung nở sức xuân đang đến gần.
Trong giấc ngủ gió đông run rẩy chừng như sắp rời xa đồng quê để nhường lại chốn này cho mùa xuân ấm. Đêm dài như hun hút, giấc ngủ chòng chành, thoáng bờ vai gầy lạnh buốt e ấp bên những đài hoa lập xuân. Tôi tự thấy mình giống một loài cây mùa đông, khô cằn, buồn thảm, đìu hiu trong đống tư tưởng bó nhỏ của mình. Qua khe cửa, tiếng vạc buồn đêm lặng. Giữa đông miên, tôi muốn hỏi trời trong ở đâu bây giờ, và nắng mới sao không chịu về hong tóc mềm bên hiên vắng. Thời bấy giờ, tôi đang sống giữa thơ, giữa những con chữ bay đầy thinh không, nảy mầm khắp đất đai, rừng núi… Đừng rời chữ, có lẽ, sự sống trong nghĩa mực nào đấy không rời xa dung ảnh và cuồng lực của thơ, như điên, như say, như mưa sa lụa là, như nắng dọi xiên tâm. Mưa thì thầm suốt đêm, tôi mông lung suốt năm canh. Một chiếc cầu bắc ngang trí tưởng, cậu học trò nhỏ thung thênh đạp xe qua cầu, qua mùa đông cũ nát. Nhớ Kafka với lữ quán Bên Cầu như một vết khắc trong “Lâu đài” của những gì phi lí tồn tại nhưng hẳn là sự hợp lí vô cùng. Những giấc mơ diễm ảo ngập tràn hoa mai.
Có năm ăn tết ở Sài Gòn, sự hiu vắng hiếm khi của thành phố sôi động, tràn trề sức sống nhất nước gợi cho ta cảm giác rỗng rượi như đứng giữa bờ sông đương giờ nước ròng. Nhớ năm đó, tôi đi chuyến bay muộn lại phải delay 2 lần, mãi 12 giờ đêm mới cất cánh. 1 tiếng trên máy bay, trời đã qua ngày giao thừa, bóng đêm im lìm lạnh giá ngoài ô cửa. Chẳng nghĩ gì, ngoài nhịp đập con tim đang gõ lên những hằng sống, là giao thừa không cô quạnh một mình. Tôi đi, không một lời báo trước, dành cho em bất ngờ lớn. Người cha của “Hoàng tử bé” đã bao lần bay đêm, bao lần bay qua sa mạc, ruộng đồng, thành phố, bay dưới những vì sao, dưới ánh trăng để nghĩ về một hành tinh tí xíu của hoàng tử bé, bông hồng kỳ vĩ với những ý nghĩ kỳ vĩ. Antoine de Saint Exupéry mang đến chân lý “Cái cốt yếu thì con mắt không nhìn thấy” và dĩ nhiên anh phi công hiểu rằng “cái làm cho ta xúc động mạnh đến thế về ông hoàng bé nhỏ đang ngủ này, đó là lòng chung thủy của em đối với một đóa hoa hồng, ấy là hình ảnh một đóa hồng rực sáng nơi em như một ngọn đèn, cả trong khi em ngủ…”. Những dòng tuyệt bút của Hoàng tử bé, sự ngây thơ, trong trắng vô ngần, có lẽ nào trong dòng đời này đôi lần mình quên đi trách nhiệm về những gì đã cảm hóa. Chọn một cái tết cô đơn giữa Sài Gòn đồng nghĩa là ăn tết với sự trống vắng. Tôi chỉ có em. Ngày Tết, người lưa thưa trên đường, xe tôi chạy bon bon giữa thấp thoáng những chùm bóng bay bên hè phố, những bạt nilon bán đồ chơi trẻ em bày khắp ra cả lề đường. Mọi cửa hiệu đóng cửa im lìm, chỉ đôi ba quán ăn, cà phê dập dìu vào ra. Đường Sài Gòn ít người thành ra buồn hẳn, ngược đời với vô vàn những lần tắc đường, nhích chân từng bước một trên đường Điện Biên Phủ, Xô Viết Nghệ Tĩnh dăm lần mắc kẹt hãi hùng. Về đêm, thành phố lên đèn quán xá, đường phố ồn ào thêm một tí nhưng chả bù cho những đêm lang thang Sài Gòn không ngủ, xe cộ nườm nượp trên đường, tôi cũng tỉnh theo nhịp sống chạy xe từ xa lộ Hà Nội về tận Bình Chánh. Rồi thì Sài Gòn cũng buồn. Chuyến xe Phương Trang từ Sài Gòn đưa tôi về Rạch Giá thăm em.
Đến chợ Rạch Sỏi, nhịp sống sông nước thôi thúc dữ dội. Như một vì sao băng đi lạc trên bầu trời đêm. Một cái tết mới nơi xứ người, một mình tôi chờ em, chờ những khoảnh khắc gặp nhau hiếm hoi giữa đất lạ. Nắm tay em đi dạo quanh bờ biển, uống nước dừa võng, nghe sóng vỗ rì rào. Đêm giao thừa cùng em xem bắn pháo hoa ở khu lấn biển, một thành tựu về kinh tế của Rạch Giá. Tôi thì thầm, năm mới, năm mới. Tôi vẫn còn may mắn được đón giao thừa cùng người yêu dù cách xa muôn dặm. Nhớ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng trầm trồ: “Và như thế phải có một đêm giao thừa nào đó phải có người yêu. Có những đêm không phải giao thừa mà vẫn có người yêu. Những đêm như thế ta cứ xem như là đêm giao thừa vậy”.
Ngày đầu năm, tôi lang thang khắp những vườn hoa, ngõ xóm khu Rạch Sỏi cho qua khoảng thời gian chờ em. Chưa bao giờ tôi phải chờ đợi quá dài, quá lâu, nặng trĩu nỗi niềm trong năm mới như dạo đó. Những bông cúc vàng nơi sân đình, nhánh tigon bên khu nhà lá làm vơi đi nỗi nào. Ăn tết một mình cũng có cái dư vị của nó. Tôi lạc lõng giữa xứ lạ, nhâm nhi cà phê trong quán lạ, nghe người Rạch Giá đem đờn ca tài tử ra hát mừng năm mới trên vỉa hè, Tết đâu cũng là tết. Chẳng phải nhân vật của Hesse trong “câu chuyện dòng sông” đã “tu” với những công phu tham thiền, nhịn đói và chờ đợi, chờ đợi cũng là một công phu làm người. Mãi tới chiều mồng Một, em mới hẹn gặp được, chúng tôi đi một vòng quanh thành phố Rạch Giá. Khởi đầu một năm mới, chúng tôi chọn đi thăm chùa. Em đưa tôi đến chùa Phật Lớn là ngôi chùa lâu đời của người Khmer có pháp danh Watuttunmànjeay (Ut Đôn Men Chi). Mọi thứ dường như ngủ sâu nơi đây, một ngôi chùa Khmer theo tông phái Theravâda. Chùa có kiến trúc đặc sắc thể hiện rõ qua các mảng hoa văn trang trí, phù điêu, tượng Phật, tất cả đều được sơn son thếp vàng: tượng Ma Ha Prưm bốn mặt, tượng các chim thần Ma Ha Krút, tượng nữ thần, rồng hổ phù, tượng mãnh thú, tượng khỉ… mang đặc sắc văn hóa Khmer. Chúng tôi đi qua những tháp mộ kín rêu, quạnh hiu trong vườn thốt nốt như những ngòi bút kí tên lên nền trời phiêu thẳm. Ngôi chùa im ắng giữa rừng cây, hồ nước và một dải chuối sứ cuối vườn màu xanh tô điểm. Chúng tôi chắp tay mỗi lần gặp các vị sư thong thả đi dạo trong vườn. Có tiếng thì thầm đọc kinh trong khu thất kín xa xa. Lòng tôi ấm lại. Chiều xuân, tôi đi giữa vô thường, giữa vòng quay mới, cát bụi dưới chân và cây lá trên đầu. Những đóa sa la nở bung tòa đỏ, hương thanh tịnh vấn vít tâm cảm. Cây Sa la tiếng Khmer gọi là cây Ka Răng, cành lá xum xuê, tươi tốt, là nơi đức Phật Đản sanh và Niết bàn. Hòa thượng Tăng Hum đã chiết rễ cây này từ Ấn Độ mang về trồng vào năm Bính Dần 1925. Ký ức ở chùa Watuttunmànjeay vang vọng trong tôi một chớm xuân. Điều gì đó là hằng hữu khi chúng ta tiếp nhận thanh tịnh, cố nhiên an trí trong tinh thần ấy, tôi thấy mình nhòa đi thăm thẳm.
Lại có năm chúng tôi lang thang lên thị xã Quảng Trị, bồi hồi bên tháp chuông mới xây cạnh Thành Cổ khói lửa ngày nào, rồi thơ thẩn cà phê bên bờ Thạch Hãn mịt mùng đêm. Bên sông lung linh đèn điện, cà phê cuối đông mấy khúc Bolero não nề. Nhìn ra sông, dòng nước thăm thẳm đổ về Đông. Một con đò xuôi nước, tiếng mái dầm khua vọng tiếng buồn. Tôi nghĩ những người lính đôi mươi năm nào vượt sông, đạn bay vèo vèo, pháo kích ầm ầm, bom rơi trận địa, sông nhòa máu thắm. Nhớ thơ Lê Bá Dương, đò xuôi Thạch Hãn, ơi đò xuôi Thạch Hãn. Tôi nói với Cường về những ý nghĩ lộn xộn năm nao, về chiến cuộc, về tuổi trẻ của chúng tôi, những kẻ đang hưởng tự do, hòa bình sau bao mất mát, bi thương của hàng triệu tuổi trẻ trước thế hệ chúng tôi. Chân đi trên cỏ hoa, nhà cửa, ánh sáng, tiếng cười, hạnh phúc, niềm vui, bên dưới bàn chân ấy của chúng tôi, những người cầm súng nằm xuống, còn đó giấc mơ hòa bình, đất nước thôi chia phôi, đường thôi chia hai lối.
*
Tết năm Thân, tôi theo em lên Mộc Châu, qua những đồng cải trắng ngút ngàn, những rừng mận thơm ngát mùa xuân và sắc đào đỏ thắm giữa cao nguyên. Khi biết miền cao nguyên bắt đầu vào xuân chúng tôi từ Huế bắt ô tô ra Hòa Bình. Từ Yên Thủy, chúng tôi mượn xe máy của Hưng, định bụng vượt qua hơn 160km quốc lộ 6 để đến Mộc Châu. Bao năm rồi mới gặp lại Hưng, từ hồi chia tay nhau một thời học đại học ở Huế, những trận bóng, ly cà phê Nguyễn Trường Tộ, bữa cơm xóm trọ. Ra trường, Hưng về công tác tại quê nhà, cưới vợ sinh con, chững chạc hẳn ra. Ở Yên Thủy hai ngày mưa lê thê, Hưng rủ đi lòng vòng quanh thị trấn nhỏ. Nhớ nhau, lại cà phê bên quán núi, nhìn mây bay từng đàn trong chiều muộn. Bữa cơm cuối năm ấm cúng bếp lửa, Hưng nói về quê Hương, về người Mường trong vùng, về gốc bưởi nhà xum xuê trái chờ ngày đơm mâm ngũ quả Tết.
Sớm hôm sau, mưa lây rây, chúng tôi chia tay vợ chồng Hưng thẳng tiến Mộc Châu. Chạy mươi km, từng rừng núi, con đèo, những vòng cung hoa hiện ra trước mắt. Đây Thung Khe giá lạnh, lan nở tím con đèo, dừng chân quán ven đường ăn ngô nướng, nhìn thung lũng xa mới phía dưới. Vượt hơn 100km thì đến Vân Hồ, kia bản Lóng Luông với những con đường chỉ nhỏ ngoằn ngoèo bám can trường trên sườn núi, chỉ vừa đủ để đi. Từ trên đèo cao, Lóng Luông đã rực những gốc đào nằm xen với đá, những ngôi nhà trệt ẩn mình trong các khu vườn hồng thắm. Hàng ngàn cành đào được đồng bào H’mông cắt cành, bới gốc bán dọc đường quốc lộ kéo dài đến cả cây số. Cánh đỏ, cánh hồng đua nhau khoe sắc, thấp thoáng những chồi non đâm mầm xanh nõn nà, lòng tôi vui như Tết. Màu hồng thắm sắc của đào làm vơi giá lạnh 50C trên gương mặt những người thanh niên lam lũ gồng gánh, thồ chở đào trên núi xa, bản hẻo về chung chợ. Tách đường lộ, loanh quanh một vòng Lóng Luông, hít hà không khí trong lành, buốt lạnh giữa không gian bình yên đào mận, những mái nhà lúp xúp dưới bóng hoa. Một chút nắng vàng mật chiếu xuống Lóng Luông. Nắng thắp vàng những luống hoa cải trước gian nhà gỗ mái ngói sẫm màu thời gian. Nắng trải thảm con đường đất đỏ, ngoằn ngoèo. Nắng nằm vắt vẻo lên bờ vai rắn chắc của cậu trai H’mông vác đào từ bản xuống. Giờ thì, nắng quấn quýt lấy đôi chân chúng tôi dạo quanh vườn mận.
Cuối tháng Chạp, con đường lên Mộc Châu, khô và lạnh, vừa kịp nhìn thấy những đồi chè xanh mộc, sương mù đã sa xuống đường dày đặc, phải bật đèn xe. Vừa đến đầu thị trấn, một cơn mưa rào làm chúng tôi phải dừng lại ném mình bên mái hiên vắng. Mưa từng cơn nhảy nhót xuống dốc đồi, Mộc Châu nhòa đi trong gió xóa.
Mộc Châu có hai khu tập trung dân đông nhất là thị trấn Mộc Châu và thị trấn Nông Trường Mộc Châu, có đủ tất cả các tiện nghi sinh hoạt cho khách lưu trú. Từ quốc lộ 6, chạy thẳng đến Ngã ba rẽ phải thì về thị trấn Nông Trường Mộc Châu, rẽ trái thì lên hướng Sơn La và đi qua thị trấn Mộc Châu. Chúng tôi dự định sẽ đi hết các bản Pa Pách, Mường Sang, thác Dải Yếm, vào Tân Lập, thăm đồi chè Trái Tim, thung lũng mận Nà Ka, Ngũ động Bản Ôn. Mưa ngớt, chúng tôi lượn lờ xe quanh thị trấn rồi lạc vào Bản Áng (xã Đông Sang). Trời đã chiều, khói lên từ những bếp lửa chiều, nỗi cô liêu trong lòng người lữ thứ. Dưới những gốc cây đào, mận sù sì sắp qua mùa đông, thời gian như lắng đọng, điểm tô cho một bí mật kịp bung òa không rõ thời khắc. Một ngôi nhà sàn Thái vững chãi bên vườn cải trắng đã hấp dẫn chúng tôi. Anh Lường Văn Liên chủ hộ gợi ý chúng tôi ở lại homestay giá mỗi đêm chỉ có 50k cho từng người. Bản Áng yên bình, chủ yếu là đồng bào dân tộc Thái, nơi có đồi thông mộng mơ và những đồng hoa cải trắng mênh mông cạnh chân núi. Đêm ở nhà anh Liên, chúng tôi được uống rượu ngô ấm nồng, nhắm với thịt trâu gác bếp. Sáng thức giấc, từng dải nắng hiếm hoi nhuộm vàng bản Áng. Phải đi tận cuối bản, vào sát chân núi mới thấy được khung cảnh yên bình nơi đây. Băng qua con đường dốc có cây đa cổ thụ, rẽ vào đường đất, cánh đồng cải trắng bạt ngàn dưới chân núi. Kia con đường mùa xuân, dài ngút ngát những hàng cây trạng nguyên thắm đỏ. Bên khe suối, mấy chú ngựa đang hồn nhiên gặm cỏ, cảnh trí thanh bình cuốn hút. Chúng tôi ngồi nơi đây suốt một sáng mùa xuân yên ả, ngắm đồng cải trắng bạt ngàn hoa, tựa như bức họa của thảo nguyên xanh mát. Điểm hẹn quyến rũ cho những kẻ “săn” hoa đã được mục sở thị. Lường Văn Công, con rể của anh Lường Văn Liên rủ chúng tôi leo núi, ngắm đất trời, biết thêm cách Công chăm bón cho 300 gốc mận của mình bên kia núi. Công kể về chuột Mây, loài chuột sống trên núi cao đầy hoang dã.
Hôm sau, chúng tôi chạy xe vào bản Pa Pách, một bản người H’Mông, nổi tiếng vẻ đẹp hoang dã của những rừng mận chốn thâm cùng non thẳm. Phải chạy lên một con dốc cao gần như thẳng đứng mới vào được cửa ngõ Pa Pách. Từ đây nhìn ra, ôm trọn cả cao nguyên vào tầm mắt. Ngoái nhìn lại, cao nguyên Mộc Châu ngập trắng sương mù. Lúc này là 50C, nhưng cái lạnh dường như đã ngủ yên để cho những làn sương mỏng mảnh thầm thì với mùa xuân. Trời đã nhuốm chiều. Một chút nắng hiếm hoi nhú lên bên kia biên giới. Cải nơi đây vào cuối mùa, rộ trắng ven đồi, làm rực lòng lữ khách. Tới Pa Pách không còn đường nhựa nữa, chỉ còn con đường đất ngoằn ngoèo băng qua núi, qua khe, qua những trảng cỏ dại xanh ngát. Những vườn mận hoa nở trắng như sương khói, chẳng có ranh giới đất đai, tất cả liền nhau thành một bãi đất rộng rênh, nhà cách nhà bởi vườn cây và liên kết nhau bằng những con đường đất nhỏ xíu. Pa Pách nằm giữa những ngọn núi cao, một thung lũng vang vọng xa xa tiếng mỏ trâu, tiếng người gọi nhau í ới. Mận được trồng khắp nơi trong bản, bên những ngôi nhà nhỏ, trên sườn núi và nhuốm một thảm trắng giữa bản làng. Những đứa trẻ bình yên nơi thôn dã, vui đùa bên gốc mận hoa nở trắng cành. Hoa cải vàng trong bản Pa Pách trồng trong những khu vườn con, được quây lại bằng những thanh tre nhỏ. Mùa xuân đã về bên liếp vách. Tối lại, chúng tôi thử dùng món bê chao, rau cải mèo đặc sản của Mộc Châu. Nghe bạn bè giới thiệu quán 64 đầu cửa ngõ vào thị trấn là quán ngon nhất. Ngồi lê thê cho đến nửa đêm, tận hưởng buổi tối giá lạnh Mộc Châu rồi chìm vào giấc ngủ.
Mộc Châu cuối năm suốt ngày mù. Sương trắng phủ khắp mọi nẻo. Hôm vào Thuông Cuông, gặp những người phụ nữ H’Mông đi trong sương mù. Trên vai họ chật kín bao thứ hàng hóa mua ở thị trấn về. Đường về nhà còn xa lắm, mù ngập tràn thung lũng, xóa nhòa những mảng màu xuân đương hoa... Đường vào Thuông Cuông, đồng cải trắng lấp ló giữa sương mù. Giữa cái lạnh 6 độ C, những em bé H’mông mới học lớp 1 theo nhau ra trường nhận quà tết dưới xuôi gửi lên. Đôi mắt dõi theo những bóng người trong sương. Đôi mắt tròn xoe cánh mận. Đôi mắt đẫm trắng đồng cải mùa xuân.
Cái cám giác rợp mắt dưới vườn mận khổng lồ vẫn còn thôi thúc chúng tôi, nắm tay nhau đi dưới những hàng mận, nhặt hoa trắng rơi dưới cội, hưởng chút cao nguyên mộc mạc. Thung lũng mận Nà Ka đã thỏa ước nguyện cho chuyến đi mùa xuân. Ở Mộc Châu, cây mận hậu được trồng từ năm 1980. Đến nay, Mộc Châu trở thành khu vực trồng mận hậu lớn nhất Sơn La với diện tích hơn 1.200ha. Riêng Nà Ka là một trong những thung lũng mận đẹp nhất, rộng lớn nhất của Mộc Châu. Hàng nghìn hàng vạn cây mận nở bung trắng trời thung lũng Nà Ka. Vào Nà Ka mùa xuân như lạc vào một xứ sở thần tiên, mơ mộng. Tôi hít lấy hít để không khí mùa xuân Mộc Châu vào mình, hồ như muốn lưu giữ cảnh sắc xuân rực rỡ, tươi đẹp của xứ cao nguyên.
*
Nếu lòng người đủ ngăn nắp cho những đòi hỏi chật chội của mình, có lẽ tôi sẽ không chọn những cuộc “di trú” lúc giao thời để kiếm tìm cái gì khác. Khung trời ngoài kia bao mới lạ, là thực dẫn của sách vở, của phương tiện nghe nhìn, một chuyến tàu, một cuốc xe, một check in ở phi trường, cuốn xóa được những bóng hình bao tháng năm còn đó của xứ mưa. Lỡ sớm mai kia đứng bên song thưa thấy hoa xuân bay nhiều quá, chợt nhớ hương đầm ấm quê nhà. Tôi không cố muốn đời trôi như cánh chim phiêu bạt, bến bờ quê hương, neo thả trong lòng người yêu dấu. Nửa chừng xuân, tôi cùng em thưởng trà đêm, ăn bánh in, mứt gừng hồi lại bao kỷ niệm năm cũ, rồi tự dặn lòng, năm nay, ừ thì tết Huế, biết bao giờ cho vơi nồng say hương cũ.
L.V.T.G
(Nguồn Tạp chí Sông Hương Online)





